LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 19.5.2016


tranh-le-minh-quoc-9RRRTranh sơn dầu Lê Minh Quốc

 

Dăm năm trước đây, không rõ từ “sáng kiến” của ai, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã trình Thủ tướng Chính phủ đề án Quốc hoa Việt Nam. Không những thế, người ta còn thêm Đề án bình chọn Quốc tửu, Quốc phục. Ồn ào trên báo chí và trong dư luận một thời. Nay, đã in thin thít như thịt nấu đông. Kết thúc không kèn không trống. Chẳng đâu vào đâu.

Do đó, thật bất ngờ và cảm động khi hay tin: Thượng viện bang California (Mỹ) vừa nhất trí thông qua dự thảo nghị quyết số 73 công nhận ngày 15.5 là ngày Áo dài của bang này. “Do chiếc áo dài Việt Nam từ lâu được thừa nhận là biểu tượng của văn hóa thẩm mỹ và là niềm tự hào của các thế hệ người Việt sau này, vì thế để tôn vinh sự đa dạng của xã hội Mỹ, cộng đồng người Mỹ gốc Việt đã tổ chức sự kiện cộng đồng có tên lễ hội Áo dài (Áo dài Festival) hai năm một lần”. Người Nhật có cả một tạp chí về Kimono nhằm quảng bá cho chiếc áo truyền thống của Xứ Phù Tang. Ở Việt Nam, không hề. Và chính họ đã có sáng kiến chọn ngày 4.4 hằng năm là Ngày của phở tại Nhật.

Đáng quý thay, những sáng kiến ấy, góp phần không nhỏ quảng bá văn hóa Việt đến với thế giới.

Ngày Chủ nhật vừa rồi, đọc tờ báo Sài Gòn Giải phóng phát hành ngày 15.5.2015, thích thú với một vài thông tin liên quan đến món ăn Việt Nam. Đại khái, ngày 26.5 sắp tới, ấn bản Le Petit Larousse cho năm 2016-2017 sẽ ra mắt công chúng Pháp. Trong ấn bản mới lần này, đáng chú ý có xuất hiện từ “phở”, "nuoc-mâm" (nước mắm), “Têt”... Năm 2014, cả hai từ “phô” (phở) và “bo bun” (bún bò) đã được định nghĩa trong từ điển Le Petit Robert. Trước đó, món “nem” cũng được định nghĩa trong Larousse.

Loáng thoáng với một vài thông tin này. Vẫn cảm thấy dễ chịu hơn khi phải nhìn vào hiện thực mỗi ngày. Mà này, có phải đọc sách cũng là một cách “ăn”, nếu không làm sao có cụm từ “thực phẩm của tâm hồn”? Rồi đôi khi, có những quyển sách cũng khiến độc giả bị hóc xương. Có lẽ, “thành ngữ” mới nhất liên quan đến chuyện đọc là “hóc xương gà”. Hãy nghe nhà báo Kiều Mai Sơn giải thích: “Xuất phát từ việc bài ca dao “Gió đưa cành trúc la đà /Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương”, được dịch sang tiếng Tây rồi chuyển ngữ ngược về tiếng Việt đã ra một bản dịch mới như sau: “Cuồng phong lay ngọn trúc/  Thổi xuống tà-vẹt đường/ Vợ trời đánh một hồi chuông/ Súp gà húp vội, hóc xương mấy lần”. Nghe ra cũng vui tai.

Thật ra “hóc xương gà” như thế vẫn còn dễ chịu. Khó chịu nhất vẫn là được tặng những tập sách thực hiện bằng kinh phí Nhà nước, do Nhà nước đặt hàng. Nhiều, rất nhiều quyển sách có ghi rành rành phía sau “Sách Nhà nước tài trợ”. Từng thấy loại sách đó chất từng đống cao nghềnh nghệnh trong các tiệm sách cũ, bán với giá rẻ mạt. Hầu hết nó không hề có mặt trong các hệ thống phát hành. Dường như, in xong, quyết toán xong là người ta xong nhiệm vụ, không cần biết “đầu ra” của nó thế nào. Cách làm phổ biến nhất là đưa vào Thư viện, vùng sâu, vùng xa… tất nhiên những nơi đó cũng mua bằng tiền Nhà nước; bằng không, cứ tống ra vỉa hè bán theo lối cân ký lô.

Gần đây nhất, phải kể đến “Dự án công bố, phổ biến tài sản văn hóa, văn nghệ dân gian Việt Nam”. Loạt sách này, in xong phát hành ở những nơi đâu? Theo Báo Thanh Niên: “Sách tiền tỉ đem bán… giấy vụn”! Tìm hiểu sâu hơn mới biết:  “Tổng chi phí cho toàn bộ dự án gồm 2 giai đoạn là 240 tỉ đồng. Kết thúc giai đoạn 1 của dự án (2008 - 2012), với số vốn đầu tư 90 tỉ đồng của nhà nước, đã có 1.000 công trình được in thành 644 đầu sách phát hành ra thị trường. Mỗi đầu sách đều được in 2.000 cuốn. Giai đoạn 2 của dự án (2013 - 2017), nhà nước tiếp tục đầu tư 150 tỉ đồng, nhưng trước phản ánh của báo chí về nhiều sai sót nghiêm trọng cả nội dung lẫn hình thức, dự án đã có chấn chỉnh. Toàn bộ sách đều được liên kết xuất bản với NXB Khoa học Xã hội năm 2015. Đến nay, chưa có con số thống kê chính thức, nhưng ước lượng có khoảng hơn 100 đầu sách được đơn vị này cấp phép trong năm 2015” (Báo TN số ra ngày 11.1.2016).

Các con số tiền tỉ ấy và "nhiều sai sót nghiêm trọng cả nội dung lẫn hình thức" nói lên điều gì? Nghĩ gì đi nữa, lại càng cảm phục những nhà văn kiếm sống chân chính chỉ bằng ngòi bút.

“Hóc xương gà” không hề dễ chịu. Nhưng vẫn còn hơn “hóc toàn tập”. Có những quyển sách cầm trên tay, vừa lật ra, vội vàng khép lại, nhẹ nhàng đặt vào vị trí cũ.

Loại sách gì vậy?

Sáng nay, vừa đọc tờ Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam số 20 (14.5.2016). Dừng lại với "Diễn đàn lý luận văn học", nhà nghiên cứu Trần Đình Sử có bài viết Nỗi đau trong văn chương. Kết thúc, ông viết: “Tính từ thời đổi mới đã ba mươi năm qua rồi mà tác phẩm lớn được coi là chưa có, các tác phẩm cứ bằng bằng như đồi thấp, không có đỉnh. Lại có ý kiến cho rằng nhà văn ta thiếu tài. Tôi chưa bao giờ cho là như thế. Hãy nhìn lại xem, nhà văn ta đã sống sâu, sống thật với nỗi đau của nhân dân ta trong suốt  mấy thế kỉ qua hay chưa? Đã thấy nỗi đau đứt ruột về nỗi thống khổ của con người hay chưa? Làm gì có con trai có tài và con trai bất tài. Mọi con trai đau đớn đều cho ngọc. Cái tài tự nó chưa là gì cả, nó chỉ có nghĩa khi đem dùng vào việc gì. Rất có thể ta đã phí tài vào việc miêu tả những cái không quan trọng, dùng vào nơi không đúng chỗ. Hãy bớt đi lời ngợi ca, bớt đi lời khen  ngợi, hãy sống thật sự với nỗi đau của lòng mình, và để nó toát ra tự nhiên dưới đầu ngọn bút. Khi ấy ta sẽ thấy thiên tài xuất hiện. Hãy làm người bình thường, khi đau thì kêu. Xưa ta chê nhà thơ lãng mạn không đau mà rên, hàm ý là giả đối. Nhưng nếu đau thật mà không kêu thì có giả dối hay không?”.

Ở Nam Bộ có câu; “Đau chơn há miệng”. Có ai dám há miệng không? Suy nghĩ của ông Trần Đình Sử tiêu biểu lắm đây. Đã nhiều người bàn "nát nước" rồi. Nhưng cuối cùng mọi việc vẫn ì ạch, dẫm chân tại chỗ. Cứ nhìn trên mặt báo chính thống thì rõ. Có gì thay đổi đâu. Vẫn là những nếp nghĩ, tư duy, quan điểm của từ thời xa lắc xa lơ. Nhưng rồi nó cứ còn kéo dài, ì ạch đến nay. Cứ đọc những tập sách "cúng cụ" thì rõ. "Cúng cụ" chẳng gì sai cả, vấn đề là nội dung của nó ra làm sao? Chẳng cần suy nghĩ, cập nhật thông tin, tâm thế người đương thời, cứ việc "sao y bản cũ" từ vài thập kỷ trước.Là xong. Kinh phí do Nhà nước tài trợ. Chẳng việc gì bận tâm nó có bán được hay không, nội dung có đáp ứng nhu cầu bạn đọc hay không. Đọc loại sách ấy, há chẳng phải "hóc toàn tập" đó sao?

Lại có thêm một điều kỳ cục nữa: Cuối tháng 4.2016, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã tổ chức hội thảo quốc gia “Thế hệ nhà văn sau 1975”. Họ có in tập kỷ yếu Thế hệ nhà văn sau 1975 - Diện mạo và thành tựu (NXB Hội Nhà văn), dày 528 trang khổ lớn.

Tuy nhiên, điều gì khiến thiên hạ "hóc xương gà"?

Trên Báo Sài Gòn Giải phóng (ra ngày 8.5.2016), nhà thơ Phan Hoàng - Phó chủ tịch Hội Nhà văn TP.HCM cho biết: “Phần thứ nhất có tiêu đề Một số vấn đề lý thuyết và lịch sử văn học mang tính lý luận, tuy có đề cập tổng quan văn học cả nước sau năm 1975 nhưng chủ yếu vẫn là ở Hà Nội và miền Bắc. Trong khi phần thứ hai là Một số vấn đề tác giả và tác phẩm lại hầu như chỉ phản ánh các nhà văn ở Hà Nội và miền Bắc, duy nhất chỉ một tác giả ở phía Nam được nói tới là một nữ nhà văn của Thừa Thiên - Huế”. Anh viết tiếp: “Câu chuyện về cuộc hội thảo làm tôi nhớ cách đây gần một năm, ngay trước Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ IX nhiệm kỳ 2015-2020, nhà văn lão thành Trần Thanh Giao đã cảnh báo sự thiên lệch trong hoạt động văn học khi ông cho rằng hội của cả nước mà như hội của… miền Bắc. Chẳng những ông mà nhiều nhà văn khác ở phía Nam cũng nhìn nhận như vậy”. Phan Hoàng nói đúng. Điều này, ai ai cũng thấy, có điều anh thấy và dám nói.

Còn quan tâm đến văn hóa nghệ thuật nên ghi lại sự việc này.

Thật ra, giữa lúc này, thời cuộc đang dậy sóng với biết bao vấn đề nóng bỏng về nhân sinh, môi trường v.v.. còn ghê gớm hơn nhiều. Thử hỏi bạn đọc bình thường, có mấy ai quan tâm đến những chuyện “quốc gia đại sự” nêu trên? Mà than ôi, ngay cả người trong cuộc, đang sống bằng nghề cũng chẳng quan tâm nốt. Thế thì, nhà văn đang quan tâm đến gì? Câu hỏi này, trong lúc này, đâm ra lại khó có thể trả lời một cách sòng phẳng, rõ ràng. Văn chương chữ nghĩa nếu đứng ngoài lề cuộc sống có ích gì? Những ngày này, đọc những gì của thơ, của văn trước hiện trạng khốn cùng của xã hội? Chắc chắn rằng những gì đã đọc, chẳng hề thấy vọng về dư âm của ngày tháng này. Nó phù phiếm. Giả dối. Có phải “Văn chương hạ giới rẻ như bèo”, vì lý do ấy, phải không, thưa cụ Tản Đà?

Sực nhớ đến nhân vật Điền của nhà văn Nam Cao: “Cái sự thật tàn nhẫn luôn luôn bày ra đấy. Sự thực giết chết những ước mơ lãng mạn gieo trong đầu óc Điền cái thứ văn chương của bọn nhàn rỗi quá. Điền muốn tránh sự thực, nhưng trốn tránh làm sao được? Vợ Điền khổ, con Điền khổ, cha mẹ Điền khổ. Chính Điền cũng khổ. Bao nhiêu người nữa, cùng một cảnh, khổ như Điền! Cái khổ làm héo một phần lớn những tính tình tươi đẹp của người ta. Tiếng đau khổ vang dội lên mạnh mẽ. Chao ôi! Chao ôi! Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than, vang dội lên mạnh mẽ trong lòng Điền. Điền chẳng cần đi đâu cả. Điền chẳng cần trốn tránh, Điền cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời...”.

Mãi đến bây giờ, các nhà văn tài năng, đáng kính trọng của chúng ta vẫn còn loay loay như Điền hay đã khác? Nếu còn loay hoay trong sự dằn vặt ấy, nghĩ cho cùng vẫn còn may cho tiền đồ văn hóa nước nhà. Chỉ e rằng, chẳng mấy ai dám thức tỉnh như Điền.

Y có gì khác không?

Không hề, y vẫn cứ nhắm mắt trôi theo dòng đời. Vậy tại sao lại viết những suy nghĩ này? À, tự chì chiết lấy chính mình đấy thôi. Chì chiết, tự vấn mà không dám thay đổi, y cũng giả dối nốt.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 17.5.2016

bia-tuoi-tre-cuoi-1RRbia-tuoi-tre-cuoi-3RR

Báo Tuổi Trẻ Cười chọn lấy bìa nào?

 

Trước đây, do tò mò, y có đọc quyển Đèn cù của Trần Đĩnh. Đọc thì đọc thế thôi, chẳng mấy quan tâm. Một giai đoạn lịch sử, được nhìn qua lăng kính cá nhân là cần thiết vì nó mở ra một góc nhìn khác. Qua đó, có thể nhìn lại sự kiện nào đó rõ nét hơn, đa chiều hơn. Tuy nhiên, điều hạn chế là do mang yếu tố chủ quan, hơn nữa chủ đích tác giả là gì nên khó có thể biết rõ hư thật về một sự kiện nào đó. Nghĩ thế, y chỉ đọc loáng thoáng, hơn nữa, cũng chẳng mấy quan tâm về nội tình của sự việc mà Trần Đĩnh trình bày. Một tác phẩm văn học lại khác, mỗi người đều có thể nhìn nhận, đánh giá tùy theo nhận thức, trình độ thẩm mỹ…, dù chủ quan nhưng chẳng hề sợ ai bắt bẽ. Trước một sáng tạo nghệ thuật, người thưởng ngoạn đều bình đẳng. Còn đọc hồi ký cá nhân, cảm nhận thế nào còn là chuyện khác.

Với Đèn cù, nói đi cũng phải nói lại.

Ngoài chuyện chính trị, chẳng rõ hư thực ra sao nhưng có một vài phản ánh sinh hoạt thời ấy, rất cần thiết cho người nghiên cứu tiếng Việt. Đó là một số từ bị bị bóp méo đến thảm hại. Mà cần gì thời đó, bây cũng vậy thôi. Nếu khảo sát trên báo chí cũng có thể dễ dàng nhận ra. Tức là trước một sự việc, thay vì dùng từ đã có, chuẩn xác, người ta lại chọn cách nói khác làm nhẹ/nặng theo chủ đích bởi sự nhậy cảm của nó. Những ngày này, “cá chết” là một từ nhậy cảm. Bàn về nguyên nhân “cá chết” là một sự nhậy cảm. Có bài “Lời than thở của các loài cá” của tác giả Người hóng chuyện -  nguyên văn như sau:

“Hơn tháng trôi qua, kể từ ngày những con cá đầu tiên chết nổi lềnh bềnh trên mặt biển, lũ cá vẫn ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì đang và sẽ xảy ra.

 Thông tin vô cùng nhiễu loạn. Lúc thì “do tác động của các độc tố hoá học thải ra từ hoạt động của con người trên đất liền và trên biển và tảo nở hoa, gọi là hiện tượng thuỷ triều đỏ”. Rồi “Kết quả quan trắc nước biển đạt tiêu chuẩn”. Đặc biệt, sau khi các ông bụng bự xuống tắm để chứng minh biển sạch mà cá vẫn chết dạt vào bờ, loài cá càng hoang mang. Kinh hãi nhất là dự báo nước biển bị ô nhiễm kim loại nặng, cá chết trước, người ăn cá tích tụ dần chất độc vào người, sẽ từ từ chết sau…

Loài cá cứ bơi vòng vòng, vòng vòng. Trong khi chờ cái chết tới, chúng tranh thủ thở than.

Cá Chim nói:

- Ôi ước gì mình bay được như chim để thoát khỏi vùng biển chết chóc này.

Cá Đao nghe vậy, chém gió một phát:

- Cậu không thấy chim cũng ngủm, xác phơi đầy đảo chim à?

- Cá Đuối rên hừ hừ: “Ôi, tui đuối quá rồi. Có ai cứu với?”

Đàn cá Bạc Má khóc rống lên:

- Hu hu, chắc thế hệ sau chúng tớ bị đổi thành cá Bạc Phước!

Các loại cá Thu, Ngừ, Chình, Trích, Nục, Liệt, Đối, Phèn, Chỉ Vàng… diễu hành từng đoàn, kêu la rân trời trong vô vọng. Bỗng, có tiếng tuyên bố:

- Chúng ta quyết liệt, khẩn trương, trong thời gian sớm nhất tìm ra thủ phạm gây ô nhiễm môi trường, có biện pháp khắc phục triệt để, ổn định đời sống loài cá, tránh gây hoang mang trong xã hội, kẻo thế lực thù địch trong và ngoài biển lợi dụng kích động.

Lũ cá nhìn quanh, tìm xem ai vừa nói rồi cá Đối la to:

- Thôi đi ông Sạo! Ông nói nữa, tụi tui đổi s thành x, kêu ông là Cá Xạo đó nha.

Cá Mập, Bạch Tuộc vẫn thấy nhởn nhơ. Đàn cá còn lại cứ bơi, bơi, ngày càng lo lắng:

- Cứ như vầy hoài, chắc dân tộc cá chúng ta trở thành cá Lú (tên khoa học: Parapercis sexfasciata) hết quá!”

Bài báo này, in trên báo Thế giới tiếp thị số 20 phát hành “Từ ngày 12-18.5.2106” - phụ trương của báo Nông thôn ngày nay. Trước đó, số 18-19 cũng in bài Mãi mãi là người đến sau. Kết quả: Báo Nông thôn ngày nay bị phạt 140 triệu đồng vì “vi phạm quy định tại Điểm b, Khoản 6, Điều 8 Nghị định số 159/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản. Cục cũng có văn bản đồng ý với văn bản đề nghị của Báo Nông thôn ngày nay xin tự đình bản 3 tháng với ấn phẩm trên từ ngày 14/5/2016, nhằm kiện toàn đội ngũ cán bộ, xây dựng lại quy trình xuất bản”.

bai-bao-ve-ca-1RRR

Với tờ Tuổi Trẻ Cười số  547, đúng lịch phát hành là ngày 15.5.2016, nhưng mãi đến hôm nay mới có trên sạp báo. Có sự thay đổi nội dung, kể cả bìa. Khổ nổi, cũng là bài vở bàn về chuyện “cá chết”. Cầm tờ báo TTC trên tay, đã thấy có sự khác xa với những gì đã quảng cáo trên báo Tuổi Trẻ ngày 14.5.2016.

Trưa nay ngủ dậy, đi ra khỏi nhà một chút. Đã nghe bà con bàn tán xôn xao về vụ cá chết trắng dòng kênh Nhiêu Lộc. Lạ quá đi mất.

Mà cũng lạ quá đi mất. Ngày 18.5.2016, tại khu vực trung tâm Sài Gòn vắng hoe. Vắng như chùa Bà Đanh. Nghe đâu có những cuộc biểu tình nên dây kẽm gai vẫn giăng kín các ngả đường. Y ngồi quán cà phê nhìn qua công viên 30.4 và cảm nhận:

Một chủ nhật
Gió mát nắng xanh đi quanh phố xá
Chim chóc hót reo trong veo vòm lá
Bình yên?
Rất bình yên
Sao trong công viên
Không một bóng người?
Thẩn thờ nhìn đất ngó trời
Không một ai lảng vảng
Bởi đồng phục quẩn quanh
Chỉ đồng phục quẩn quanh
Công viên xanh
Ai ám sát?

Trưa ngay hôm đó, lang thang xuống phố đi bộ bởi tò mò muốn biết hư thật có người tuyên bố “tọa kháng”. Nếu có sẽ như thế nào nhỉ? Tò mò quá đi mất. Không chỉ tò mò mà vai trò của một nhà báo không thể dứng ngoài sự kiện chính trị đang diễn ra. Và cảm nhận:

Phố đi bộ
Dài hun hút
Nắng ngùn ngụt
Tôi rét buốt
Những cái nhìn rờn rợn sau lưng
Nền gạch hoa bóng loáng
Gai nhọn mọc dưới chân
Bởi đồng phục quẩn quanh
Chỉ đồng phục quẩn quanh
Phố đi bộ
Sẫm một màu tối tăm?

Những ngày này, muốn viết thêm một vào điều gì đó, đã thấy, đã cảm nhận. Mà thôi. Chiều qua, có một trận mưa lớn. Hôm nay, thời tiết vẫn oi bức.
L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 8.5.2016

13100791_10201451330761479_7373797883618055797_n

 

Lâu nay, y đứng bên ngoài biến động của đời sống. Chỉ nhủ thầm, hãy cố gắng làm tốt công việc mỗi ngày. Cũng là một cách thể hiện trách nhiệm công dân. Có những lúc đi xuống phố, nhìn cảnh vật mà nhớ đến câu thơ của Nguyễn Đình Thi: “Ôi những cánh đồng quê chảy máu/ Dây thép gai đâm nát trời chiều”. Lòng buồn rười rượi. Cảm thấy xa lạ với thành phố đã gắn bó từ năm tháng tuổi trẻ, sau khi rời khỏi quân ngũ. Đi ngang qua, không dám nhìn, né tránh, ngoặt sang đường khác. Bỏ mặc ngoài tai những tiếng hô hào chống Trung Quốc, bảo vệ môi trường, tiếng kêu dân oan bị lấn chiếm đất đai… Y không quan tâm đến. Bỏ mặc. Lao theo những công việc cơm áo mỗi ngày.

Rồi có lúc giật mình, tự kiểm qua bài thơ dài, rồi xé bỏ, chỉ còn nhớ loáng thoáng: “Hơn hai mươi năm đi làm báo/ Tâm hồn tôi lơ lửng trên mây/ Tôi phóng sự mây, tôi điều tra gió/ Bài báo đời chưa ráo mực đã phai”. Tất nhiên thôi. Xa lánh đời, thì mong gì có được những bài báo có ích cho đời. Rồi cứ thế, tự bằng lòng, hả hê với chính mình. Một con ốc chui sâu vào trong vỏ. Trú thân an toàn. Mặc bão giông gào thét. Những tiếng kêu của đời sống, oan khốc của bụi bặm nhận sinh không chạm đến đời sống yên tĩnh của y.

Và cứ thế, từng ngày y sống.

Nói thì nói thế, thỉnh thoảng, y cũng ham vui, cũng có mặt nơi đám đông biểu tình. Để làm gì? Chỉ để quan sát như một người khách qua đường. Tất nhiên, không mấy quan tâm. Chủ nhật vừa rồi, có người bảo: “Ngoài phố thiên hạ biểu tình đông lắm”, y ngạc nhiên: “Ủa. vậy à?”. Sau đó, lên mạng xã hội kiểm tra lại, quả nhiên, có thật. Nếu báo chí là tấm gương phản ánh hiện thực của đời sống, rõ ràng nó nhợt nhạt lắm. Tự nó đã có một khoảng cách. Và cũng còn có một khoảng cách giữa báo chí và thông tin trên mạng. Trước ngồn ngộn thông tin. Biết tin vào đâu? Thú thật, y cảm thấy khó khăn. Rồi từ nhận thức, từ những gì đã đọc, đã kiểm chứng từ nhiều nguồn lại càng xác tin rằng, đích thị y là kẻ đang đứng bên ngoài. Bên ngoài hơi thở của nhịp sống đang diễn ra mỗi ngày. Y chẳng biết gì sất.

Thế mà làm báo à?

Với ý thức công dân, đôi lúc, y tự cảm thấy xấu hổ cho chính y. Than ôi, cái sự xấu hổ đó thoáng qua rất nhanh. Rồi chẳng mấy bận tâm nữa. Lại cúi gằm mặt vào trang sách. Thời buổi nào cũng có những văn nghệ sĩ sống trong tâm thế dằn vặt đó. Dằn vặt vì hèn, không dám mở mắt nhìn. Có đôi lúc cảm thấy bất lực, lại thở than: “Hãy sống giùm tôi, hãy nói giùm tôi, hãy thở giùm tôi” (Trịnh Công Sơn). Họ cần một nơi trú ẩn. Miễn an toàn. Rồi tìm cách bào chữa sau. “Tháp ngà văn chương” là cụm từ của nhà phê bình văn học Thiếu Sơn (1908-1978). Nhiều người có suy nghĩ như ông: “Tôi tiếp tục sự nghiêp văn chương và lấy làm tự mãn, tự kiêu là mình đã sống trong Tháp Ngà để tài bồi cho văn hóa” (Tạp chí Đứng Dậy, số 64 - 8.12.1974, tr.21). Trách nhiệm của người cầm bút trí thức, chỉ có thể thôi ư? Để viết được câu đó, phải là lần ở tù từ năm 1972-1974, trước đó ông đã "nằm hộp" nhiều lần. Tiếc rằng, tập sách tương đối đầy đủ nhất: Thiếu Sơn - nghệ thuật và nhân sinh (NXB Giáo Dục - 2008). Tập sách này do em ruột của ông là NSƯT Quang Hưng và PGS-TS Nguyễn Thị Thanh Xuân sưu tầm và giới thiệu. Làm "tuyển tập" về một người, có khi chỉ cần mỗi một bài đó, chỉ 1 trang là đủ; mà thiếu mỗi bài đó, dù ngàn trang vẫn là thiếu.

Gần đây, sau vụ cá chết hàng loạt tại Vũng Án (Hà Tĩnh), lan rộng đến các tỉnh miền Trung, tâm hồn y đã xáo trộn. Đã có một nhận thức khác. Chẳng lẽ cứ trăng hoa tuyết nguyệt mãi sao? Hiện thực dữ dội ấy, không còn là của riêng ai nữa. Số phận của dân tộc đang đối đầu với cá chết, ngập mặn, thực phẩm bẩn… Đâu còn là vấn đề của riêng một ai? Mới đây, Báo Tuổi Trẻ từng có bài viết: "Vận nước trên chiếc bàn ăn". Vậy thì, lúc đó, y đang đứng ở đâu với vai trò của một nhà báo, thiên chức của một nhà thơ? Đã qua rồi cái thời anh chàng nhà thơ: “nghĩa là ru với gió/ Mơ theo trăng, và vơ vẩn cùng mây” (Xuân Diệu). Thật ra mơ thì cứ mơ, nào ai cấm cản gì đâu. Nhưng rồi, tự y cảm thấy chẳng ra làm sao cả. Đừng trách bạn đọc xa lánh thơ, hoặc các loại hình nghệ thuật khác, bởi lẽ tự bao giờ, tự lúc nào người sáng tạo ra nó đã thoát ly khỏi đời sống?

Như một cách tự kiểm, sáng ngày 1.5.2016, ngồi trong phòng cắm cúi viết Nhật ký thơ.

những ngày này giật mình tỉnh giấc
nắng ngoài hiên sao tái nhợt thế này?
tiếng chim hót một màu đen xám ngoét
trên đường phố dòng người như xác chết
con mắt cá ươn đi đứng vô hồn
không bình minh chỉ rặt mỗi hoàng hôn
là những ngày đang sống
tôi dửng dưng đứng bên ngoài biển động
không nghe tiếng sóng
đang rền vang nước mắt chảy ròng ròng
ngư dân nhẫn nại nhọc nhằn
nằm dọc biển bờ cứng đờ như xác cá
ôi đất nước bốn ngàn năm vất vả
một miếng ăn cũng nghẹn họng từng giờ
ngày ngày đối mặt với hư vô
liệu ích gì sức sống của thơ
vần điệu véo von cũng ồn như lý thuyết
có cứu được bãi bờ đang giẫy chết
cá đang nằm xếp lớp xác xương khô?
là xác người hiện hữu phía tương lai
có thể là em, có khi là mẹ
là tôi, là anh, là chị...
những cỏ dại hoa hèn
những tăm tối dân đen
đi về phía đường hầm đâu lối thoát?
ngoài biển Đông điệp trùng tiếng hát
ai hát quốc ca Trung Quốc đẹp vô cùng?
Hoàng Sa ơi máu chảy ruột mềm
Tổ quốc ơi đã lìa da mất thịt
ngày đang sống là oan hồn xám xịt
treo chập chờn trên ngọn sóng thời gian
tình yêu tôi đã bốn ngàn năm
đâu mùa vàng rập rờn hương lúa chín
khỏe khoắn đại dương xanh
đâu trăng rằm hương bưởi
vỗ tay hát nhịp dân ca
cánh cò bay lả bay la
chỉ còn trong giấc mơ thăm thẳm
những ngày tôi đang sống
đất nước như con thuyền bị đắm?
chẳng phải đâu
ngày mai thôi, chỉ ngày mai thôi sẽ rợp trời bóng nắng
lại cùng đinh nhẫn nại kéo thuyền lên
tôi nhủ thầm bằng tiếng Việt thiêng liêng

Sáng hôm nay, trời mát hơn một chút, nhờ vài ngày qua đã có chút mưa trút xuống. Trời xanh trong. Đi ăn bún riêu. Trên đường về, ghé lại quán cà phê đường Hàn Thuyên, mới hay hàng quán không được bán vì có biểu tình. Đành đi tiếp. Đi một đoạn nữa, nhìn qua phía công viên thấy cảnh giằng co giữa gã trung niên với hai thanh niên trẻ cùng mặc áo pull, một đen, một trắng. Bên cạnh có một thanh niên niên khác cầm lấy tấm biểu ngữ đã xếp, kẹp vào nách, chỉ chỏ, nói gì đó, nghe không rõ.

Dù bị túm cổ áo, thanh niên trẻ mặc áo pull trắng vẫn đôi co: “Anh bắt em vì lý do gì?”. Gã trung niên vẫn lôi cổ áo, đằng đằng sát khí, không thèm nói gì, chỉ nghe những tiếng chửi thề. Đôi bên vẫn giằng co, lập tức một cú đấm từ dưới quai hàm dội ngược lên mặt. Thanh niên áo pull trắng ôm mặt đầy máu. Lập tức, đám dân phòng mặc áo xanh lá cây đang đứng phía trước chạy ùa tới lôi kéo. Thanh niên áo pull trắng bị đẩy lên chiếc hơi màu đen.

Còn thanh niên áo pull đen thì sao?

Anh ta bị dân phòng bẻ quặt tay, lôi khỏi công viên, dù bị đẩy ra ngoài lề đường vẫn từ tốn: “Mấy anh cho biết tôi bị bắt vì lý do gì?”. Không một ai trả lời. Một chiếc xe cảnh sát vừa trờ tới, anh ta bị tống lên xe. Dòng người vẫn đi qua, vẫn đứng thản nhiên xem. Y tò mò dừng lại nhìn xem tấm biểu ngữ vừa tịch thu có dòng chữ gì, vì lúc đó, nó được trải ngay dưới đất để một vài người chụp bằng điện thoại di động. Y đã đọc thấy dòng chữ như sau: “Chúng tôi muốn biết sự thật vì sao cá chết?”. Cuối dòng chữ đó, có vẽ con cá chỉ còn trơ lại bộ xương.

Lúc đó, chừng 8g45. Đó là vụ bắt bớ trước nhất của ngày hôm nay. Thiên hạ vẫn dửng dưng đứng nhìn, không một ai dám lên tiếng hoặc can thiệp.

Y không nghĩ sáng nay sẽ có biểu tình. Vì thế, rời khỏi đám đông và bước vào quán cà phê thuộc tòa nhà Metropolitan - đối diện nhà thờ Đức Bà. Khác với mọi ngày, thực khách không được ngồi ngoài sân. Nhìn qua các ngã đường Đồng Khởi, Nguyễn Du đều thấy nhiều hàng rào kẽm gai. Đường Nguyễn Du từ phía Hai Bà Trưng đi về đường Đồng Khởi bị chận lại. Đường Đồng Khởi ngay Sở Văn hóa Thông tin cũng có hàng rào kẽm gai chận ngang. Y ngồi trong phòng máy lạnh và nhìn loáng thoáng ra ngoài, nhìn qua tấm cửa gương. Chỉ thấy có nhiều công an và dân phòng. Không mấy người dân còn lảng vảng ở đó nữa.

Chừng nữa tiếng đồng hồ sau, y rời khỏi quán cà phê, bước ra ngoài.

Thật lạ lùng, đột nhiên nghe gào rú điếc tai. Đó là loa phóng thanh. Nẫy giờ ngồi trong phòng kín nên chẳng hay biết gì. Đại khái, yêu cầu người dân tự giải tán, trả lại sự yên bình cho thành phố, nếu ai quá khích sẽ bị sử lý theo luật pháp. Các loa phóng thanh rất to. Nhìn về phía công viên, đập vào mắt y,  trời ơi,  cả một rừng người. Trên tay họ đều có cầm các tấm bảng nhỏ, hầu hết màu trắng, viết chữ đen. Người biểu tình hô vang những gì? Y không nghe rõ. Bèn đi lững thững qua bên kia công viên, phía đối diện và tiếp tục quan sát. Có một anh chàng nọ, đứng cạnh y vừa gương điện thoại đi động chụp hình, liền bị công an cấm cản. Ngay lập tức, có một thanh niên khác mặc thường phục đến bá vai đẩy đi chỗ khác. Chừng 20 phút sau, đám đông chuyển hướng, họ tràn ra phía đường lộ sát nhà thờ Đức Bà.

Y quay về quán cà phê của tòa nhà Metropolitan và tiếp tục đứng quan sát.

Đã có những cuộc xô xát rất dữ dội xẩy ra. Có nhiều người bị bắt, có nhiều người được giải vây.

Đã có một loạt xe buýt cỡ lớn đậu ngay trên đường.

Đã có nhiều người biểu tình bị bắt, đẩy lên xe buýt, xe cảnh sát.

Đã có nhiều cuộc giải vây ngoạn mục giúp người biểu tình không bị bắt.

Đã có những tiếng vỗ tay, cổ vũ khi xe buýt chở người người biểu tình bị bắt vừa lướt ngang.

Cả một rừng người nhốn nháo, la hét, giằng co với dân phòng; có một rừng người vỗ tay hò reo.

Có tiếng nói của ai đó, đứng bên cạnh y: “Nếu là trước đây, bị đàn áp thế này, bọn sinh viên chúng tôi đã đốt xe buýt rồi”. Bây giờ hoàn toàn không hề có. Chỉ là biểu tình ôn hòa. Nghĩ cho cùng, cái đau nhất nhìn đâu cũng thấy người Việt mình.

Còn nhớ lần nọ, ngồi lai rai với anh bạn thuộc thành viên chủ chốt của tờ báo nọ, anh bảo: “Q còn nhớ cái vụ các anh X, Y, Z đến báo mình không?”. Sao lại không? Ngày ấy, “phái đoàn” gồm nhiều thủ lĩnh của phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh tại Sài Gòn trước 1975, bất ngờ ghé đến tờ báo nọ và họ yêu cầu được gặp ban biên tập. Tiếp hay không tiếp và tiếp như thế nào? Họ cho biết là đến để trình bày quan điểm về vấn đề Trung Quốc kéo dàn khoan án ngữ biển Đông; yêu cầu có phóng viên tham dự tường thuật. Cuối cùng, anh bạn của y được ban biên tập phân công tiếp khách. “Thế anh phát biểu gì sau khi nghe và đọc các kiến nghị đó?”. Ngẫm nghĩ một lát anh nói khẽ, giọng buồn buồn: “Dù gì cũng là anh em đàng mình. Thời trước 1975, mấy ảnh là người lãnh đạo trực tiếp của tụi mình. Khó quá. Trước kia, địch ta rõ ràng, không gì phân vân, lấn cấn khi hành động. Nay, dù gì cũng anh em đàng mình”.

Cái khó chính là chỗ đó.

Nhìn chung quanh, với y, chỉ là người Việt da vàng mũi tẹt. Biểu tình có thật. Dùng vũ lực giải tán biểu tình là có thật, nhưng mục đích cuối cùng là gì,  y hoàn toàn không có thông tin để thấu hiểu. Y chỉ là người đứng phía bên ngoài, vì thế không dám có một kết luận nào. Chỉ biết rằng, dù có vì mục đích gì đi nữa, dù là ai nhưng một khi sử dụng vũ lực để giải tán biểu tình thì quyết rằng, đó không phải là phép ứng xử văn minh của một thể chế đang hướng tới mục tiêu: vì dân, do dân, dân biết, dân bàn dân kiểm tra. Nghĩ thế, có đúng không? Lại biết rằng, năm kia, vụ biểu tình chống Trung Quốc diễn ra trước Nhà hát lớn, y có ngồi ở quán cà phê Continaltan để quan sát. Có gặp rất nhiều người quen, anh em báo chí, văn nghệ sĩ. Lúc đó, người biểu tình cầm cờ đỏ sao vàng, ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sáng nay, hoàn toàn không hề thấy. Chỉ là những tấm bảng trắng ghi các câu chữ màu đen lên trên đó. Và hầu hết, họ đều còn rất trẻ. Không gặp một ai quen.

Trên đường về, phóng xe ngang qua Bưu điện, định ghé vào Đường sách - nơi đang diễn ra Những ngày văn học châu Âu đang tổ chức lần đầu tiên tại TP.Hồ Chí Minh từ ngày 8.5 đến ngày 12.5.2016. Muốn tạt vào lắm, đang cầm Thư mời. Nhưng thôi, trưa rồi. Hơn nữa, còn phải vào Bệnh viện Gia Định thăm mẹ đang nằm bệnh. Trên đường đi về. Lại thấy các hàng rào kẽm gai đến nhức mắt. Lẫm nhẫm mấy câu thơ chợt đến:

trong Tháp Ngà văn chương
tôi đã sống những ngày gió lộng
âm vang từng tiếng động
là nỗi cô đơn tủn mủn nhạt phèo
phía ngoài trời biểu ngữ hò reo
tôi cẩn thận bịt tai nhắm mắt
ngoài biển Đông bão giông gầm thét
lật ngược tâm hồn chỉ hằn vết dửng dưng
có những ngày rầm rập bước chân
người xuống đường nhiệt tình như tuổi trẻ
tôi quay mặt vào Tháp Ngà lặng lẽ
rị mọ ngôn từ chữ nghĩa vu vơ
không nghe mùi biển mặn cá khô
đã nhầy nhụa ngay từ trong tiềm thức
chả dại gì đối đầu cùng sự thật
cứ hào hứng nhịp đồng ca
còn đây em nõn nà
váy vẫn ngắn thịt da thơm ngon lắm
mặc kệ phố phường dòng người chết đắm
tôi vẫn lửng lơ
những phận nghèo phiêu bạt về đâu?
chẳng việc gì phải biết
tôi chỉ thấy cành non lá biếc
vẫn xum xuê rợp bóng xuống trong đời
có những ngày đường phố sẫm mồ hôi
đòi quyền sống cho những con cá chết
đòi Hoàng Sa giữa đêm đen mù mịt
tôi vẫn cứ thản nhiên ngoài cuộc
ngoài đời sống
phía bên ngoài cơ cực
hỡi anh em hỡi số phận cần lao
tôi đang đứng nơi đâu?

Buồn khiếp. Ông Phùng Quán bảo: “Lúc ngã lòng tôi vịn câu thơ mà đứng dậy”. Y vịn vào đâu? Xin thưa rằng:

ngày mai thôi, chỉ ngày mai thôi sẽ rợp trời bóng nắng
lại cùng đinh nhẫn nại kéo thuyền lên
tôi nhủ thầm bằng tiếng Việt thiêng liêng

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 5.5.2016

phuong_dai_2RR

Nhà thơ Phương Đài (1932-2016)

 

Những ngày này, lại chạy như cờ lông công. Anh trai nằm Bệnh viện 115. Mẹ nằm Bệnh viện Phú Phuận. Hôm trước, đi phúng điếu nhà thơ Phương Đài. Cảm thấy đời trôi qua nhanh quá. Nhờ có gợi ý, thúc giục của bạn thơ Phan Hoàng mới thu xếp thời gian viết bài về người quá cố. Mà không thể không nhắc lại một kỷ niệm cũ. Đã cũ. Viết rằng:

“Trong đời ai cũng một lần đi cưới vợ, chừng hơn ba mươi năm trước tôi cũng thế. Theo kế hoạch của ngày qua nhà đàng gái, ba tôi từ Đà Nẵng có mặt tại Sài Gòn lúc 8 giờ. Thế nhưng do trục trặc tàu xe nên không thể đúng hẹn. Mọi việc đã chuẩn bị đâu ra đó, đã ấn định, không thể chậm trễ. Không còn cách nào khác, mọi người đã “bầu” nhà thơ Phương Đài đại diện cho đàng trai. Tháp tùng đi theo, ngoài “nhân vật chính” là tôi, còn có các bạn bè văn nghệ như nhà thơ Đặng Nguyệt Anh, Trần Hữu Dũng, Đoàn Vy, Xuân Huy, Trương Nam Hương, Đoàn Vị Thượng... May quá, sau phần chào hỏi đúng chóc “giờ song hỉ” của “ngày lành tháng tốt” tại nhà gái, ba tôi kịp thời có mặt trong phần nghi lễ chính thức.

Từ sự việc đó, tôi đã thật sự xem nhà thơ Phương Đài là “má nuôi”.

Sở dĩ, trước đó, tôi có mối thân tình với với nhà thơ nữ nổi tiếng của miền Nam, tác giả Đất mẹ (1965), Hiến lễ mùa thơ (1971) cũng là từ nhà văn Sơn Nam. Thỉnh thoảng, tôi chở ông đến thăm, trò chuyện với các bạn văn nghệ cùng thơ với ông. Lần nọ, tại nhà riêng trên đường Thích Quảng Đức của nhà thơ Phương Đài, cô đã tặng tôi tập Hiến lễ mùa thơ. Trong đó, nhà văn Sơn Nam viết Tựa, khẳng định: “Phương Đài là nhà thơ tranh đấu”. Và ông lý giải: “Thơ Phương Đài chứng tỏ rằng đấu tranh cho dân tộc là đề tài chan chứa nhiều tình cảm. Và ca ngợi tình cảm cá nhân chưa hẳn là ủy mị, là lạc hậu nếu thi nhân giàu lòng yêu Tổ Quốc. Mười mấy năm qua, Phương Đài không còn là người cô độc. Vì người đang yêu Tổ Quốc, người đau khổ vì chiến tranh mỗi ngày thêm đông và đang có những hành động tích cực”.

Do hoạt động trong phong trào yêu nước: “Lên đường tay mạnh dìu tay yếu/ Thôi hết từ đây bước độc hành”, nhà thơ Phương Đài đã bị chính quyền Sài Gòn bỏ tù. Nhiều phụ nữ miền Nam trong tù ngục đã sinh con, nhà thơ Phương Đài đã viết về trường hợp của chính mình: “Sinh con, lính gác tù bên cạnh/ Trong đau kiêu hãnh nở vườn đời/ Nhìn con cười xóa niềm băng hoại/ Mẹ mộng thành chim cất cánh bay” (Lời này cho Phương Dung). Hình ảnh chim bồ câu, tượng trưng cho hòa bình, thời ấy đã được nhiều nhà thơ miền Nam sử dụng. Ngay cả nhà thơ miền Nam như Chim Trắng, có lần cho biết sau Hiệp định Geneve, từ tên thật Hồ Văn Ba, ông ký bút danh đó cũng không ngoài mục đích đấu tranh cho thống nhất đất nước. Nhà thơ Phương Đài cũng từng tâm niệm: “Mơ đến mùa xuân thắm nụ đào/ Mùa xuân Nguyễn Huệ phất cờ cao/ Ngàn hoa nở cánh, bồ câu hiện/ Thơ đổ vườn xuân ngập ánh sao”.

Tưởng cũng nên nhắc lại, khi hay tin nhà thơ Phương Đài qua đời, nhà văn Bích Ngân là người trước nhất loan tin trên trang web của Hội Nhà văn TP.HCM. Có thông tin này cần lưu ý, từ bài thơ Lời này cho Phương Dung: “Mẹ tặng con theo gương bà ngoại/ Gia tài bất khuất là nơi đây/ Là niềm tin tưởng trong truyền thống/ Là nhục nhằn trong hãnh diện này”.. nhà văn Bích Ngân cho biết: “Bà ngoại” trong câu thơ là nhà báo nhà thơ Song Thu, thân mẫu của nhà thơ Phương Đài, một nhà hoạt động cách mạng tiền bối. Nhà thơ Phương Đài còn là cháu gọi nhà thơ Phạm Phú Thứ (một đại thần triều nhà Nguyễn và là một trong số người có quan điểm canh tân đất nước trong những năm nửa cuối thế kỷ 19), người có khí tiết thanh cao, là ông cố ngoại”.

Sinh thời, nhà thơ Phương Đài cũng nhiều lần kể tôi nghe về chi tiết vừa nêu. Tạp chí Phổ Thông, từ số xuất bản đầu năm 1960, Diệu Huyền (bút danh của nhà thơ Nguyễn Vỹ) có viết loạt bài Các thi sĩ cuối cùng của thế hệ lão thành, ta thấy tác giả bài thơ nổi tiếng Gửi Trương Tửu đã xếp nữ sĩ Song Thu chung “chiếu làng văn” với các cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị (thân phụ Tôn Nữ Hỷ Khương), Thường Tiên (con của trai của vợ chồng nhà thơ Lê Quang Chiểu - Trần Ngọc Lầu), Cao Ngọc Anh (ái nữ của cụ Cao Xuân Dục, cô ruột nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo), Song Thanh… Nhắc lại chi tiết trên, để thấy rằng nhà thơ Phương Đài cũng thuộc hạng “con nhà nòi”, có nếp thư hương truyền thống.

Sau năm 1975, nhà thơ Phương Đài vẫn tiếp tục sáng tác, có thể kể đến Đi giữa mùa thơ, Nắng hoàng hôn...  Có lẽ ấn tượng nhất là tập thơ Sợi mưa hồng, nhà thơ Lê Giang cảm nhận tinh tế, chính xác: “Hồn thơ vừa hiền dịu, nhỏ nhẹ, từ tốn, vừa ray rứt, băn khoăn, mong muốn thổ lộ. Phương Đài luôn gói ghém một chữ Tâm rưng rưng lấp lánh”.  Nhắc lại kỷ niệm về nhà thơ Phương Đài, tôi không thể quên chị Cúc - con gái của cô, cũng có thời gian làm việc tại Văn phòng Hội Nhà văn TP.HCM. Chị xinh đẹp, hiền lành và có khuôn mặt giống như mẹ. Ngày đó, anh em làm thơ trẻ chúng tôi thường ghé thăm mẹ con cô và bàn luận thơ, đọc thơ cho nhau nghe.

Nay vĩnh biệt nhà thơ Phương Đài, xin chép lại bài thơ Đến thăm mẹ, tôi đã viết trong khu vườn nhà thơ Phương Đài từ năm tháng ấy, đã in báo Văn Nghệ TP.HCM số 496 (ra ngày 4.9.1987) như nén nhang đưa tiễn người đi:

Con đến thăm bóng trăng vườn mẹ
Ở Sài Gòn lại nhớ điệu dân ca
Vòm câu xanh hạnh phúc giữa sân nhà
Treo vạt trăng cong mang hình lá biếc

Trăng vườn mẹ bốn mùa rất tuyệt
Màu tình yêu thắp sáng chỗ con ngồi
Trăng dịu dàng ấp úng mãi trên môi
Mẹ đọc ca dao tình sâu nghĩa nặng

Giọng của mẹ ngọt ngào gạo trắng
Có cánh cò trắng biếc Cửu Long Giang
Bước trong vườn cây ngỡ đi giữa cung đàn
Cây trái thơm tho về đây hội ngộ

Dòng sông nơi đâu mà con nghe sóng vỗ
Thấp thoáng mùi hương vú sữa tím trời
Nghe nhịp chèo sông nước hát à ơi!
Đọng hoài trong con bài thơ mẹ đọc

Trăng của thơ bềnh bồng trên mái tóc
Vườn cây xanh như lòng mẹ ân tình
Con ngồi võng nhà mẹ giữa nội thành
Như bơi xuồng trong ca dao hồi bé

Chợt rung lên một bầy chim se sẻ
Bay về đây ấm áp bóng trăng lên
Thăm mẹ một lần có lẽ chẳng hề quên
Làn điệu dân ca ngọt ngào gạo trắng

Thoáng đó, “má nuôi” của tôi - nhà thơ Phương Đài “một chữ Tâm rưng rưng lấp lánh” đã thuộc về thế giới của “người muôn năm cũ”.

Thử hỏi, lòng sao không buồn?”.


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 29.4.2016

minh-tam-buu-giam-5-1461504571LAMDIENBán đấu giá sách tại đường sách ngày 24.6.2016 (Ảnh: Lam Điền, TTO)

 

Những ngày này, đi như ngựa. Vừa từ Đà Nẵng tham dự Hội sách Hải Châu lần 2, vừa về Sài Gòn, kịp tham dự chương trình đấu giá sách, qua  ngày sau lại đi The Grand Ho Tram Strip. Một khu resort mọc lên giữa vùng cát trắng, sát biển. Trời nóng khiếp. Từ cửa, bước vào phòng, nhìn thấy ngay cánh cửa bằng gương trắng. Tuy nhiên, không thể mở được cửa bước ra ngoài ban công. Cửa khóa kín mít, chỉ có tính trang trí. Vì thế, dù máy lạnh nhưng ở trong phòng vẫn cảm thấy ngột ngạt. Ở đây, có casino dành cho dân máu me cờ bạc, tuy nhiên, người Việt trong nước không được béng mảng vào.

Dạo một vòng quanh khu Hồ Tràm, đi xuống tận ngã tư Tứ Hải, sở dĩ gọi như thế vì nơi đây, ngay đầu đường rẽ xuống bãi biển có quán ăn cùng tên. Nhìn chung, vẫn còn vắng vẻ, biển không sạch, quán xá nhiều nhưng giá cả không thua gì trong khu resort. Cũng như những nghỉ mát của những lần trước, y thường đem theo quyển từ điển để đọc. Và bao giờ, nàng cũng nhăn mặt: “Trời, đã bảo đem sách theo đọc mà vẫn không chịu nhớ”. Ủa, vậy từ điển không phải là sách để đọc giải trí sao? Nhiều người cho rằng, từ điển là công cụ tra cứu, khi cần thiết lắm mới lật ra tìm vài trang, đọc vào dòng rồi cẩn thận gấp sách, đặt lại trên kệ. Khi đi chơi xa, ít ai cầm theo tự điển vì còn do một phần sách dày cộm, nặng trĩu tay cầm.

Mà này, thôi, chẳng bàn chuyện đó nữa. Đọc cái gì là sở thích  của mỗi người miễn thấy hứng thú. Dám nói rằng, cái thú đọc sách còn là khi tình cờ gặp những điều mình đang suy nghĩ trong đầu, vừa định viết ra thì đã có người khác viết rồi. Đọc nhẩn nha, thấy thích, buột miệng: “Sao đúng với suy nghĩ của mình thế?”. Vừa rồi, đọc đoạn này, có thể nói nôm na là bàn về cái thú việc đọc tự điển, nhất là đối với những ai làm công việc viết lách.

“Từ điển là cuốn sách tập hợp một lượng từ ngữ khổng lồ, vào đó như vào một kho tàng. Bạn sẽ tìm thấy trong đó những từ quen thuộc, những từ ít quen thuộc, thậm chí những từ lạ lẫm đến nỗi bạn tin chắc là bạn chưa gặp qua bao giờ. Gấp cuốn từ điển lại, giống như các bà nội trợ đi ra khỏi siêu thị, bạn sẽ thu hoạch được nhiều thứ. Bạn nhớ lại được nhiều từ mà bạn đã quên từ lâu, học thêm những từ mới, hay nghĩa mới của một từ cũ, và dĩ nhiên là bạn sẽ nghĩ ra cách dùng những từ đó, mặc dù có thể không phải ngay hôm nay hay ngày mai.

Các bà nội trợ cũng thế thôi, họ ngắm nghía hàng giờ trong siêu thị rồi đi ra tay không, nhưng những món hàng hấp dẫn, thậm chí cả giá cả lẫn vị trí của chúng, đã khắc sâu trong tâm trí họ. Một lúc nào đó, cần tới, họ sẽ tìm ngay được cái họ cần.Nói tóm lại, đó là một cách rèn luyện trí óc, một kiểu thể dục tinh thần, và theo tôi là vô cùng quan trọng với những ai có ý định hành nghề bằng những con chữ”.

Ai viết chí lý quá vậy ta?

Đó là bài viết của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đăng trên tạp chí Kiến thức ngày nay số Xuân Ất Dậu (2002). Chuyến đi ra Hồ Tràm vừa rồi, y đem theo bộ Phương ngữ Nam bộ - ghi chép và chú giải của Nam Chi Bùi Thanh Kiên. Hai tập dày đến 1.600 trang in. Tất nhiên chỉ tranh thủ đọc loáng thoáng. Sách do nhà văn Vũ Hồng gửi lên từ Bến Tre. Bạn bè chơi facebook, qua đó, có thể kịp thời nhờ cậy gửi fax chuyển nhanh, nếu không, biết bao giờ mới có sách để đọc. Cần ghi nhận lại một vài từ du nhập từ tiếng nước ngoài, pha trộn với tiếng Việt, nói nôm na, tếu táo là “tiếng Việt ba rọi”. Ba rọi, xét theo một nghĩa nào đó là pha tạp một cách nhố nhăng, lộn xộn. Ông Nam Chi Bùi Thanh Kiên có ghi lại vài câu ca dao phổ biến ở Nam bộ:

Dưa leo chấm với cá kèo
 

Bởi con nhà nghèo, đi học noọc man

École normale là trường đào tạo giáo viên dạy bậc tiểu học.

Chiều chiều tàu lại Bến Thành
 

Xúp lê (siffler) thổi vội, bộ hành lao xao

Pha trộn với tiếng Triều Châu, Quảng Đông:

Má ơi, chú tửng vô mùng 

Hầu bao lép xẹp, má đừng cho vô

Hầu bao: túi đựng tiền đeo ở thắt lưng.

Chờ anh cho mãn kiếp chờ

Chờ cho ến xại lên bờ khui hoa

Ến xại: rau nhút; khui hoa: trổ bông

Gió đưa chú tửng từng tưng

Gặp chị bán gừng a nả chị ơi

Tửng: chú nhỏ; a na: xinh đẹp; do luật bằng trắc, "a na" đọc thành "a nả".

Ca dao pha tạp ngôn ngữ kiểu này, còn có thể bổ sung thêm nhiều lắm. Chẳng hạn,
Từ khi vu kít tê moa
Ma lơ cũng lắm, bo nơ cũng nhiều

Chỉ là cách “diễn nôm” của “Depuis que vous me quittez, beaucoup de malheurs et beaucoup de bonheurs”. Nghĩ lại mà thấy tiếc. Thật ra, y thuộc thế hệ mù ngoại ngữ. Thời trung học, học tiếng Pháp nhưng khi vào Khoa Ngữ Văn Đại học Tổng hợp niên 1980, lại bị nhà trường buộc học tiếng Nga. Quy chế thời đó, nó thế. Biết thế nào. Cuối cùng, Pháp phọt phẹt i tờ, Nga lại càng mù tịt. Muốn đọc thơ Việt - Pháp giao duyên, có lẽ đầy đủ, phong phú nhất vẫn là từ quyển Chơi chữ của Lãng Nhân (Nam Chi tùng thư XB năm 1974).

Từ ngày lấy chú tôi chẳng biết gì
Chỉ biết phán xì là củ khoai lang

Cái này mới là “độc”, chỉ rặt tiếng Pháp:

Cút xê đồng, mông se pơ tí
Mánh tơ nằng, phi ní pa pa

“Couchez donc mon cher petit, maitenant fini papa”. Chẳng rõ, có sinh viên nào chú tâm làm luận văn về đề tài này? Qua đó, ít nhiều sẽ thấy sự phong phú, tài tình của tiếng Việt. Mới đây, qua chơi với đồng nghiệp Nguyễn Hạnh - phó tổng biên tập tạp chí Xưa & Nay, anh tặng cho bộ Sử Địa vừa tái bản. Trong lời nói đầu cho biết: “Tập san Sử Địa là tam cá nguyệt xuất bản được 29 số từ số 1 năm 1966 đến số 29 năm 1975, trang bìa ghi “Do một nhóm giáo sư, sinh viên Đại học Sư phạm Sài Gòn chủ trương” và “Nhà sách Khai Trí bảo trợ”. Ban chủ biên tập san gồm nhiều nhà khoa học có tên tuổi của miền Nam trước đây như: Nguyễn Thế Anh, Bửu Cầm, Phan Khoang, Lâm Thanh Liêm, Phạm Cao Dương, Phù Lang, Nhất Thanh, Đặng Phương Nghi, Quách Thanh Tâm, Tạ Chí Đại Trường, Thái Công Tụng, Nguyễn Huy, Trần Anh Tuấn… Đặc biệt tập san nhận được sự cộng tác của nhiều nhà khoa học nổi tiếng ở trong  nước và nước ngoài  như: Hoàng Xuân Hãn, Chen Hing Ho (Trần Kinh Hòa), Nguyễn Đăng Thục, Bửu Kế, Lê Thọ Xuân, Thái Văn Kiểm, Hồ Hữu Tường, Nghiêm Thẩm, Bùi Quang Tung, Nguyễn Bạt Tụy, Vương Hồng Sển…”.

Lật số đặc khảo về Nguyễn Trung Trực của tạp san Sử Địa, trong bài của nhà văn Sơn Nam có chi tiết, sau khi đàn áp cuộc kháng chiến của người anh hùng: “Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa/ Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần”  (câu đối của Huỳnh Mẫn Đạt), “bọn Việt gian đã tâu với “quan lớn” để trả thù địa phương bằng cách đổi tên làng. Đông Yên trở thành Đông Tặc. Làng Tây Yên, giáp ranh với Đông Yên, ăn lên rừng U Minh Thượng cũng mang họa lây, đổi là Tây Tặc”. Tất nhiên, các kỳ lão trong làng không chịu. Vậy họ dựa vào cái lý nào để phản bác? Theo nhà văn Hương rừng Cà Mau, các cụ làm đơn kêu nài quan trên, viện lý rằng: “Tây Tặc là cái tên thô tục, nếu nói lái thì trở thành… C. Tây” (tr.87).

Người Nam Bộ ưa nói lái, bằng chứng là trong cuốn sách vừa ấn hành, ông Nam Chi Bùi Thanh Kiên cũng có nêu vài thí dụ. Ai thích có thể tìm đọc, chỉ chọn nhón lấy một câu nói lái cả tiếng Tây mới là oách xà lách: “Quýt xơ măng móng se, ót măn xít mơ” (= Quăng xơ mít mé sông, ăn mót xơ mít). Ông già cổ ngoạn lừng danh khét tiếng Vương Hồng Sển cũng khoái nói lái. Bằng chứng, cũng trong số đặc khảo về Nguyễn Trung Trực, cụ Sển viết: “Ngoài Bắc có chơn tượng cụ Hoàng ấp Thái Hà ấp (cụ đặt). Vùng Huế có chơn dung Nguyễn Thân, sanh tiền “cọp miền Trung) (cọp đặt)” (tr. 123). Nhờ những chi tiết đời thường này, lúc đọc sử, cảm thấy dễ “trôi” hơn là đọc các sử liệu khô khan có tính liệt kê, câu chữ đạo mạo, hành chánh.

Ngày mai, 30.4. Thoáng đó đã 41 năm tròn Ngày Thống nhất đất nước. Ngày đó, y còn là cậu trò mặc quần tà lỏn, thường nhảy tắm sông Hàn, chỗ gần Cổ Viện Chàm; nơi đó, ngó xéo qua, có quán bánh bèo trong khu dãy nhà Quan thuế. Ngon lắm. Vừa rồi về tham dự Hội sách Hải Châu, có đi ngang qua nhưng không tìm thấy một dấu vết gì. Vật đổi sao dời là vậy. Mấy hôm nay, thời tiết nóng quá, ngại ra đường. Nằm nhà đọc Kiến thức ngày nay, số vừa phát hành. Thích thú với Tiến sĩ Lê Trung Hoa, vì lý do rằng, do đọc lại Từ điển Việt-Bồ-La (1651) do Alexandre de Rhodes soạn, ông phát hiện ra rằng: “Một số từ vốn là thành ngữ hay một số câu tục ngữ rút gọn lại:

“Tang tóc” bắt nguồn từ thành ngữ bốn tiếng mà A. de Rhodes có ghi lại “để tang để tóc”, vì theo phong tục thời xưa người ta khi để tang thì không được hớt tóc.

Còn từ “dòm dỏ” bắt nguồn từ tục ngữ “dòm giỏ ngó oi”. “Dòm dỏ” là “Để ý quan sát theo lối tò mò, hoặc vì có ý thèm muốn” (Từ điển tiếng Việt). Còn “oi” là “gỏi đựng cua, đựng cá đánh bắt được”. Ở đây, từ “giỏ” đã bị “dòm” đồng hóa âm đầu (“giỏ” thành “dỏ”)”.

Lại nữa, “”Bực” là “có tang” và “áo bực” là “áo tang”. Như vậy, “buồn bực” là “buồn như có tang”; Còn “nớt” trong từ điển nêu trên, có nghĩa “đẻ thiếu tháng” và “non nớt” có nghĩa “đẻ non” hay “đẻ thiếu tháng”. Và “ghiếc” (gớm ghiết) thì “ghiết” ở thế kỷ XVII có nghĩa “buồn nôn”.

Cha chả là hay. Biết bao giờ, y mới có được quyển Từ điển Việt-Bồ-La (1651) do Alexandre de Rhodes? Chẳng biết bao giờ. Có duyên thì gặp. Bằng không thì thôi. Trời đã chiều, tiếng chuông nhà chùa đối diện nhà đã vọng sang. Ghi thêm cái từ y lần đầu tiên biết đến: “xác sống”. Sở dĩ biết là do đọc tờ ANTG số cuối tháng 4.2106, bài của đồng nghiệp Mr.Bim có câu: “Trang Thanh Niên Online thông tin “Báo Hàn ví fan Việt là “xác sống” khi đeo bám thành viên nhóm EXO”.  Thử hỏi, “xác sống” nghĩa gốc của nó ra làm sao? Vậy phải tra từ điển thôi. Từ điển vi.walkingdead.wikia.com/wiki giải thích: “Trong Anh ngữ, từ "zombie" (xác sống) lần đầu được sử dụng vào năm 1819 bởi thi sĩ Robert Southey dưới dạng một từ được ghi là "zombi." Từ điển Anh ngữ Oxford cho rằng nguồn gốc của từ này bắt nguồn từ vùng phía Tây châu Phi, là một sự kết hợp giữa 2 từ trong tiếng Kongo là "nzambi" (thần thánh) và "zumbi" (mê tín). Định nghĩa: Xác sống là phần xác của một người sau khi chết bằng một cách nào đó có thể biến đổi và sống dậy, tuy nhiên không còn đầy đủ những chức năng ở bộ não cũng như không còn bản năng sống, từ đó không được coi là một người còn sống hay người có suy nghĩ”.

Hiểu thế mới biết các tay nhà báo Hàn sử dụng từ đắc địa, đểu đến cỡ nào khi đánh giá fan cuồng người Việt.

Trời đất ơi, từ này đã xuất hiện từ năm 1819, vậy mà giờ mới biết? Nghe y não nùng thốt ra ngoài cửa miệng, nàng bèn cười ruồi: “Thế lần sau đi nghỉ ngơi, thư giản có còn đem theo từ điển nữa không anh?”.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 28.4.2016

 

Những ngày này, thú thật, không muốn viết gì nữa. Muốn khép lại trang Nhật ký. Viết, phải suy nghĩ. Mệt quá. Nghĩ nhiều nhất vẫn là câu hỏi luôn thường trực ở trong đầu: “Tại sao?”. Tại làm sao đất nước mình khốn khổ, khốn nạn đến thế này? Những ngày này, trong câu chuyện với nhau, dù bàn đến đề tài gì đi nữa, cuối cùng vẫn bật ra câu hỏi nhói lòng: “Thế thì, chúng ta ăn gì?”. Ăn cái gì đây hả trời cao đất dày? Sống ở một đất nước mà ăn bất kỳ cái gì cũng sợ ngộ độc, có là sự bình thường?

Có người nói một điều rất thật: "Khi biết thịt heo có chất tạo nạc salbutamol, tôi nghĩ mình sẽ chuyển sang ăn thịt bò. Khi biết thịt bò có thể hô biến từ thịt heo tẩm hoá chất, tôi nghĩ mình sẽ chuyển sang ăn thịt gà. Khi biết gà cũ, gà chết được nhuộm hoá chất thành thịt gà mới vàng rụm, tôi nghĩ sẽ bỏ thịt, ăn cá. Khi biết cá bị nhiễm độc thuỷ ngân, tôi nghĩ mình sẽ chuyển sang ăn tôm. Khi biết tôm bị bơm thuốc kháng sinh gây độc, tôi nghĩ mình sẽ phải chuyển sang ăn... chay. Khi biết rau được tưới dầu nhớt, đậu hũ trộn với cao xây nhà, tôi nghĩ ăn cơm trắng chan nước mắm qua ngày cho lành. Khi biết gạo mốc được tẩy trắng thành gạo và nước mắm được làm từ cá ươn cá thối, tôi dằn lòng sẽ sang ăn bún, phở, mì. Khi biết bún, mì, phở cũng được tắm trắng, tôi nghĩ mình sẽ ăn trái cây sống qua ngày. Khi biết trái cây cũng được tiêm chất bảo quản và nguồn gốc Trung Quốc... Giờ em phải ăn gì đây?"

Có người nói một điều rất thật: "Sau 1975, người Việt chủ yếu "tị nạn chính trị" và sau 1990 thì "tị nạn giáo dục", tiếp theo sẽ là "tị nạn môi trường". Đất nước thời bình mà tị nạn như có chiến tranh, buồn khiếp".

Báo chí liên tục thông tin về thực phẩm bẩn, những mặt hàng thực phẩm vật tươi sống đã sử dụng chất salbutamol, vàng ô… Sự việc nghiêm trọng đến nổi sáng 27.4.2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì Hội nghị trực tuyến toàn quốc về tăng cường công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Chưa hết, cả nước đang chấn động, kinh hoàng trước thông tin: Khoảng 80 tấn hải sản chết bất thường, dạt vào bờ biển miền Trung, lan rộng từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng. Theo những phán đoán ban đầu, phải có một loại độc tố cực mạnh trong nước biển mới khiến cá chết nhiều đến thế. Từ kết quả phân tích mẫu nước, mẫu cá chết, nguyên nhân bước đầu được xác định là do nguồn nước bị ô nhiễm, có yếu tố gây độc. Cụ thể, nước biển bị ô nhiễm tại khu công nghiệp Vũng Áng (Hà Tĩnh) do Tập đoàn Formosa đầu tư. Theo dòng hải lưu Bắc cực - Xích đạo, nguồn nước ô nhiễm ở Hà Tĩnh bị đẩy về phía nam lan vào tận Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế và các tỉnh phía Nam.

Chủ đầu tư tại Vũng Áng là Tập đoàn Formosa, lai lịch của nói như thế nào? Báo Phụ Nữ TP.HCM số ra ngày 27.4.2016 có bài Hồ sơ “đen” của Formosa. Tổng hợp tài liệu từ: archive.ban.org, Plastics News, AP, nhà báo Anh Thông viết như sau: “Tập đoàn Formosa Plastics Group (FPG) là một tổ hợp công nghiệp đa ngành gồm hóa dầu, chất dẻo, công nghệ sinh học, thiết bị điện tử, công nghiệp ô tô… hoạt động từ năm 1958 ở Đài Loan. Gần 60 năm hoạt động, Formosa đã vướng không ít rắc rối vì bê bối đạo đức kinh doanh, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến không chỉ môi trường mà cả sức khỏe con người.

Năm 1998, Formosa âm thầm đổ một lượng rác thải chứa chất độc hại vào Campuchia, tại một bãi đất cách thị trấn du lịch Sihanoukville, nơi có khoảng 3.000 người sinh sống. Nhiều người dân đã vô tư bới nhựa từ đống rác này về nhà dùng. Vài ngày sau, nhiều người trong số đó phải nhập viện với triệu chứng ban đầu là sốt cao, tiêu chảy. Một người nhặt rác và một người ngủ trên đống rác đã tử vong. Các cuộc điều tra sau đó kết luận, các nạn nhân đã nhiễm độc thủy ngân có trong rác thải mà Formosa chẳng thể tiêu hủy được. Chính phủ Campuchia phát hiện một công ty của nước này ký hợp đồng nhập khẩu số rác trên và Formosa đã hối lộ ba triệu USD để vận chuyển thành công số rác thải đến Campuchia. Có ít nhất 1.300 người dân sống ở khu vực gần bãi rác bị xác định nhiễm độc thủy ngân từ bãi rác. Nồng độ thủy ngân có trong đống rác này gấp 20.000 mức an toàn cho phép. Trước sức ép của chính quyền và dư luận, Formosa phải xin lỗi, bồi thường và vận chuyển số rác độc hại trên trở về Đài Loan.

Năm 2009, Formosa nhận giải Hành tinh đen, là một giải do tổ chức bảo vệ môi trường ở Đức Ethecon khởi xướng nhằm trao cho những cá nhân hoặc tổ chức "góp tay" vào việc hủy hoại môi trường.

Năm 2013, Cơ quan Bảo vệ môi trường Mỹ đã phạt Formosa 1,5 triệu USD vì vi phạm các quy định bảo đảm môi trường. Trước đó, năm 2009, cơ quan trên cũng đã phạt Formosa 2,8 triệu USD vì lý do tương tự. Hồ sơ của Formosa là một trong những hồ sơ bị chú ý kỹ ở Mỹ vì mức độ nguy hại gây ra cho môi trường mà Formosa từng “ghi dấu” trong quá khứ.

Năm 2014, báo chí Đài Loan trích dẫn kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học tại đây chỉ ra, công nghệ sản xuất dầu mỏ của Formosa đã thải ra chất gây ung thư, phá hủy mô gan ở người. Người dân Đài Loan vô cùng bức xúc về hoạt động xâm phạm an toàn môi trường của Formosa”.

Tục ngữ Việt Nam có câu: “Chọn bạn mà chơi”, xét ra vẫn còn có tính thời sự. Trước sự kiện cá chết tại Vũng Áng, trả lời báo chí, ông Chu Xuân Phàm - trưởng văn phòng Formosa tại Hà Nội nói thẳng thừng, không thèm quanh co, nói một câu cực sốc: “Muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi. Nếu chọn cả hai thì làm thủ tướng cũng không giải quyết được”.

Thế là rõ.

Trên mạng xã hội, đã xuất hiện nhiều ý kiến "chọn cá", nhưng rồi lại có sự “phản tỉnh” rất đúng và kịp thời, chẳng hạn: “Tôi vừa gỡ cái avatar có cái biểu tượng con cá và dòng slogan; "Tôi là người Việt Nam - Tôi chọn cá". Lúc đầu thấy cũng hay hay nên tôi hưởng ứng... Nhưng sau đó suy nghĩ kỹ và nhận thấy đây là một sự vô lý rất vô tình và hơi 'ngây thơ" của cộng đồng mạng. Biển của mình, trời của mình, đất của mình mà một thằng nói tiếng Việt lơ lớ ở đâu nhảy vô đặt điều kiện: " Chọn cá hay chọn nhà máy ?" Chuyện quái gì đã xảy ra vậy? Này nhé, tao không cần chọn cái nào cả vì tất cả là của quê hương tao, đất nước tao. Tao chọn là mày (Formosa) phải cút khỏi Vũng Áng ngay!”.

Quan chức Việt Nam lại khác. Theo tường thuật của Báo Tuổi Trẻ: “Lúc 20g ngày 27.4.2016, tại cuộc họp báo, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và môi trường Võ Tuấn Nhân cho hay có hai nhóm nguyên nhân chính có thể gây hiện tượng cá chết hàng loạt là: do tác động của các độc tố hóa học thải ra từ hoạt động của con người trên đất liền và trên biển; do hiện tượng bất thường của tự nhiên kết hợp với tác động của con người, tạo nên hiện tượng “tảo nở hoa” hay thủy triều đỏ. Theo ông Nhân, đến thời điểm này chưa có bằng chứng về mối liên hệ giữa hoạt động của Công ty Formosa và các nhà máy với hiện tượng cá chết hàng loạt. Ngay cả các thông số về môi trường cũng đều nằm trong “quy chuẩn quy định”. Như vậy, những câu hỏi vì sao cá chết, nước biển có độc hay không, ăn cá có độc hại gì không... đều chưa có câu trả lời. Ngoài thông tin do ông Nhân đưa ra trên, không có phóng viên nào kịp đặt câu hỏi phỏng vấn tại cuộc họp báo này”. Cuộc họp báo này chỉ diễn ra trong vòng 10 phút, Báo Tuổi Trẻ rút tít chính xác: “Họp báo về cá chết: Vẫn nợ người dân câu trả lời xác đáng”. Không còn một từ nào tồi tệ hơn sự tồi tệ mà cư dân mạng xã hội đã phản ứng gay gắt đối với quan chức này. Bia miệng ngàn đời. Không rõ bản thân ông Nhân cùng gia đình ông ta khi đọc những dòng nguyền rủa ấy sẽ nghĩ gì?

Đã xuất hiện nhiều bài thơ trên các facebook cá nhân, chẳng hạn, Ở chính nhà mình sao không được tự do?:

Đàn bà tôi đái không qua ngọn cỏ
Làm được gì để bảo vệ đàn con?
Đất của tôi ơi, người mất hay còn
Khi loang lổ trong những thớ thịt sâu ngàn muôn vết loét
Biển của tôi ơi, cái mặn ngàn năm đã thành đắng ngắt
Những con mắm người đang rã dưới vực sâu
Đất của tôi đâu, biển của tôi đâu
Những đứa trẻ thơ hôm nay có lớn lên thành người vong quốc
Sáng nay cài cho con chiếc khăn quàng đỏ
Tay mẹ run run, bất lực lắm rồi
Này hồng suối, xanh đồi
Này vàng rừng, bạc biển
Này địa này thiên
Đất không còn là đất
Trời chẳng thể còn trời
Mẹ, đàn bà đái không qua ngọn cỏ
Biết lấy gì để che chở cho con?
Biết dạy con thế nào về hai chữ nước non
Khi chính mẹ cũng hoang mang liệu nơi đây có hóa thành cố quốc
Khi tận đáy tâm can cứ trào lên ngàn lời nhức buốt
Sao ở chính nhà mình ta chẳng được tự do?
Sao ở chính nhà mình mà mẹ cứ mãi miết lo
Gói ghém hành trang cho những đứa con thơ lớn lên rồi xa mẹ
Đời mẹ rồi có như đời sông đời bể
Chất độc đớn hèn nào đã ngấm vào tim
Lạy đất trời này cho con của mẹ bình yên
Bình yên làm người vong quốc
Bởi mẹ - đàn bà đái không qua ngọn cỏ
Nhiễm nặng lắm rồi…
Căn bệnh của nước non.

(La Mai Thi Gia, 25.4.2016)

Đất nước mình ngộ quá không anh?

Đất nước mình ngộ quá phải không anh
Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn
Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm
Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi...
Đất nước mình lạ quá phải không anh
Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ
Những dự án và tượng đài nghìn tỉ
Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay...
Đất nước mình buồn quá phải không anh
Biển bạc, rừng xanh, cánh đồng lúa biếc
Rừng đã hết và biển thì đang chết
Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa...
Đất nước mình thương quá phải không anh
Mỗi đứa trẻ sinh ra đã gánh nợ nần ông cha để lại
Di sản cho mai sau có gì để cháu con ta trang trải
Đứng trước năm châu mà không phải cúi đầu...
Đất nước mình rồi sẽ về đâu
Anh không biết em làm sao biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu...

(Trần Thị Lam -25.4.2016)

Đọc những bài thơ này, y cảm thấy xấu hổ cho cho chính y. Đã hội viên Hội Nhà văn Việt Nam được cấp thẻ đàng hoàng, ấy thế, trước sự việc liên quan đến sự sống còn của đồng bào máu đỏ da vàng, y đã đứng ở đâu? Trả lời đi? Sáng nay,  Báo Tuổi Trẻ cười số 546 đã phát hành. Dừng lại với trang 28 với bài viết Nếu không là đồ đá của Điếu Quan. Sau khi nêu một loạt câu hỏi “tại sao?”, tác giả kết luận: “Nếu cứ hỏi tại sao và cố tình đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi như thế này thì nhiều khả năng tôi trở thành kẻ thần kinh hoang tưởng mất”. Nghĩ mà buồn. Nhìn đâu cũng thấy buồn não ruột. Đã có người bi quan nghĩ đến Bắc thuộc lần thứ 3. Y không nghĩ thế, chỉ nghĩ rằng: “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng”?

L.M.Q

ly-do-ca-chet-TTC-2016-1ly-do-ca-chet-TTC-2016-2

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 17.4.2016

hung-vuong-co-ticjh-ngiopha-c-trueyn


Hôm qua, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương. Được nghĩ vào ngày. Đường phố vắng hơn. Đọc trên báo mới biết thông tin: Sáng ngày 16.4.2016, Công viên văn hóa Đầm Sen đã dâng lên bàn thờ Quốc tổ trên sân khấu quảng trường Âu Lạc trong công viên cái bánh chưng khổng lồ: cao 0,6 mét, diện tích bề mặt 2,5 mét vuông, nặng 2,5 tấn được làm từ 1.200 kg gạo nếp, 300 kg đậu xanh, 200 kg thịt heo, 300 kg lá chuối, 50 kg lá dong. Để hoàn thành chiếc bánh này, 50 công nhân đã được huy động để gói và canh trực liên tục trong suốt hơn 70 giờ để nấu cho đến khi chín. Sau lễ, theo dự kiến chiếc bánh “khủng” này đuộc cắt cho khoảng 1.000 người ăn. Nhìn chung, dư luận không đồng tình việc làm có tính chất phô trương này. Trong tâm thức người Việt, lễ giỗ là tự lòng thành, chứ không phải mâm cao cổ đầy.

Ngày hôm qua, nghĩ rằng, dịp Giỗ Tổ Hùng Vương chính là dịp cần ôn lại sức mạnh, tinh hoa của văn hóa Việt nằm trong bốn thần thoại rất đáng ghi nhớ, chứ không phải những lễ vật hoành tráng, các hoạt động "nặng phần trình diễn":

1.Ý thức giữ nước, thông qua câu chuyện Thánh Gióng. Giặc đến nhà, ngay cả đứa trẻ năm nôi cũng hăng hái ra trận, không có vũ khí, nhổ tre mà đánh giặc. Sau khi đất nước ca khúc khải hoàn, người anh hùng có công đánh giặc giữ nước “bay về trời”, đó là một khái niệm để nêu rõ phẩm chất có công nhưng không không kể công, không đòi quyền lực; 2. Khắc phục thiên nhiên, ách trời nạn nước để có cuộc sống tốt đẹp hơn, thông qua câu chuyện Sơn Tinh - Thủy Tinh; 3. Dám làm giàu, nỗ lực làm giàu, có sự sáng tạo để đạt đến mục đích, thông qua chuyện An Tiêm; 4. Ý thức xây dựng hạnh phúc lứa đôi, dám vượt lên trên quan niệm thông thường, thông qua chuyện Chử Đồng Tử.

Nhìn qua báo chí, hình ảnh, youtube… đã thấy cả hàng ngàn người có mặt tại Đền Hùng. Năm 1968, Trung tâm học liệu của Bộ Giáo dục miền Nam có in quyển Hùng Vương sự tích ngọc phả cổ truyền. Trong đó có chép bài Bài Chúc phúc Hội Đền Hùng:

Cõi Nam riêng một góc trời
Hùng Vương gầy dựng đời đời nghiệp vua
Phong Châu là chốn kinh đô
Chia mười lăm bộ bản đồ mênh mông
Trứng Rồng lại nở ra Rồng
Ngàn con muôn cháu vốn dòng Lạc Long
Cây kia ăn quả ai trồng
Sông kia nước uống hỏi dòng từ đâu?
Quân thần hai chữ trên đầu
Hiếu trung hai chữ dãi dầu lòng son
Ba tòa chót vót đầu non
Ngàn thu sùng bái vẫn còn khói hương
Bụi hồng mấy cuộc tang thương
Bia xanh còn đó, khoán vàng còn đây
Trời cao bể rộng đất dày
Sông Thao, núi Tản chốn này còn ghi
Bốn bề cây cỏ xanh rì
Nhìn xem phong cảnh khác gì Đào Nguyên
Đường mây sẵn bực bước lên
Rõ ràng lăng miếu mẹ Tiên, cha Rồng
Năm năm mở hội Đền Hùng
Tiếng thơm lừng lẫy nức lòng mẹ cha
Nước non vẫn nước non nhà
Dân hai nhăm triệu vẫn là anh em
(Vô Danh)

Câu cuối cho biết, bài này ra đời trong những năm đầu thế kỷ XX. “Năm năm mở hội Đền Hùng” là chuyện trước kia. Ngày 2.4.2007, Quốc Hội đã phê chuẩn sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Luật Lao động cho người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch). Kể từ đây, ngày 10/3 âm lịch hàng năm đã trở thành ngày lễ lớn: Quốc lễ. Sáng nay, đọc Status trên trang Facebook cá nhân của nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân, nguyên văn như sau:

“Cần xây dựng cái gì? Ý thức công dân hay ý thức  chủng tộc?

Quang cảnh hàng chục ngàn người kéo lên đồi Hy Cương núi Nghĩa Lĩnh (Phú Thọ) trong ngày gọi là "giỗ tổ" hôm nay, thêm một lần, buộc những ai biết suy nghĩ phải nghĩ lại: Lâu nay dân Việt, công chúng ở VN được bồi đắp tinh thần gì? ý thức gì? - Ý thức công dân hay ý thức chủng tộc mù quáng?

Việc nâng cấp một lễ hội địa phương lên mức độ lễ hội quốc gia - lễ hội "giỗ tổ" ngày 10/3 hàng năm là trường hợp như vậy - đã thành hình và tồn tại từ trước 1945, trước khi những người cộng sản cướp chính quyền và cai trị dân Việt. Nhưng chỉ sau những năm 1990, sau khi "phe XHCN" đã tan rã, lễ hội này mới dần dần được khôi phục. Chừng như chỉ khi cái thiên đường XHCN trở nên mù mịt hẳn, nhà cầm quyền mới tạm dựa vào các biểu tượng dân tộc để thay thế, nhưng lại thiếu năng lực định hướng, nên đã để cho nó tự phát tăng tiến theo hướng một tâm lý dân tộc, một tâm lý chủng tộc nữa, ngày càng cuồng tín, ngày càng dại dột.

Cái thời làm ăn để tăng phúc lợi con người, cái thời cần hội nhập với toàn nhân loại này, lẽ ra những điều hàng đầu cần bồi bổ cho mọi thành viên xã hội phải là ý thức về quyền con người, ý thức về quyền và trách nhiệm của công dân, ý thức và trách nhiệm một công dân của thế giới. Lẽ ra phải thấy, những ông Lạc Long, Hùng Vương của truyền thuyết, của dã sử, dù sao vốn chỉ gắn với dân Kinh (=Việt), chứ không đủ đại diện cho trên 50 tộc người trên đất này; chưa kể là khi những anh những chị từ Phi Châu, từ Brazil, từ các xứ khác tới đây, hoặc để làm ăn, hoặc để đá bóng, nếu lai có nguyện vọng "Việt hóa" (lấy chồng hoặc vợ Việt, sông lâu trên đất Việt, vào quốc tịch Việt), thì cái quốc tịch VN phải nằm ngoài tiêu chí "có là con cháu vua Hùng hay không".

Thế nhưng cái tôn giáo Hùng Vương lại đang được nhân lên, lấy kinh phí ngân sách để hỗ trợ, lấy ý chí quan chức để tác động, khiến nơi nơi xây đền thờ Hùng Vương, như ngụ cái ý kiêu căng ngạo mạn rất vô lối, đặt tín ngưỡng người Kinh cao hơn tín ngưỡng các tộc người còn lại trên đất này.

Bây giờ cơn cuồng giỗ tổ đang gây ra những chen lấn suýt chết người; liệu đã đủ để người ta nghĩ lại tất cả những chuyện này?”.

Nhà nghiên cứu văn học Đoàn Lê Giang comment: “Chắc anh Lại Nguyên Ân muốn dùng khái niệm "ý thức dân tộc" chứ không phải "ý thức chủng tộc" (chủng tộc da đen, da vàng, da trắng...)?”. Vâng, “ý thức dân tộc” thì đúng hơn. Status cực đoan của anh Lại Nguyên Ân rất đáng lưu tâm  trong bối cảnh hiện nay. Mỗi một người đều có cái quyền bất di bất dịch, đó là sự phản biện không ngoài mục đích thúc đẩy cuộc sống tốt đẹp hơn. Chưa có dịp tranh luận, chỉ xin phát biểu rằng, y rất tán thành với ý kiến: “Cái thời làm ăn để tăng phúc lợi con người, cái thời cần hội nhập với toàn nhân loại này, lẽ ra những điều hàng đầu cần bồi bổ cho mọi thành viên xã hội phải là ý thức về quyền con người, ý thức về quyền và trách nhiệm của công dân, ý thức và trách nhiệm một công dân của thế giới”.

Sau vụ diễn viên hài Minh Béo bị bắt tại Mỹ ngày 24.3.2016, nhiều tờ báo trong nước có loạt bài nói về tính xấu của người Việt khi ra nước ngoài. Nói cách khác, các bài viết đã phân tích vì các thói xấu nào đã khiến người Việt chưa trưởng thành, chưa thể trở thành “công dân của thế giới”. Diễn viên hài này bị cơ quan chức năng của Mỹ đã truy tố truy tố 3 tội danh: Quan hệ tình dục bằng đường miệng (oral copulation) với trẻ vị thành niên, cố gắng thực hiện hành vi khiêu dâm với trẻ dưới 14 tuổi và định gặp trẻ vị thành niên cho mục đích dâm ô. Hôm qua cà phê ở ngoài Sài Gòn, nàng bảo: “Này anh, ông luật sư bào chữa cho Minh Béo có nói câu này, đại khái, ở Mỹ khi ra tòa, chính phủ phải chứng minh người đó có tội; ngược lại ở xứ mình, khi ra tòa, người đó phải chứng minh mình vô tội”.

Cho đến thời điểm này, phân tích về tính cách người Việt tốt lẫn xấu, đáng chú ý nhất là công trình khoa học cấp Nhà nước: Hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại và con đường tới tương lai (NXB Văn hóa Văn nghệ) của GS - TSKH Trần Ngọc Thêm. Đây là công trình GS-TS Đinh Xuân Dũng - Phó Chủ tịch Hội đồng lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Tung ương đánh giá: “Đề tài có cách nhìn hệ thống chặt chẽ, nhất quán trong tư duy nghiên cứu, thể hiện bản lĩnh của người nghiên cứu về giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại”.

Thử nêu một chi tiết nhỏ, đâu là những biến động gần đây trong các giá trị phổ biến?

Theo GS-TSKH Trần Ngọc Thêm: “Trong thời gian gần đây niềm tin của người dân ở Việt Nam vào nhiều lãnh vực trong cuộc sống đang bị giảm sút nghiêm trọng” (tr.305); “Theo báo cáo điều tra về “Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chánh cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) 2012” có 25,38% người dân chủ trương không bao giờ tố cáo dù bị vòi vĩnh ở bất kể lãnh vực nào; chỉ có 1,63% chủ trương sẽ tố cáo nếu bị vòi vĩnh từ 100 triệu đồng trở lên (PAPI 2012:31). Điều này phản ánh sự thờ ơ của người dân: họ thà chấp nhận mất tiền theo yêu cầu và cố gắng làm việc để bù vào còn hơn là đi đòi chính nghĩa vừa mất thời gian vừa rối rắm nhiêu khê, không những không hiệu quả mà thường là còn bị trù úm nữa” (tr.307-308). Đọc đến đây tự nhiên, chúng ta sực nhớ đến câu thành ngữ cũ rích: “Cái kiến mà kiện củ khoai”. Vậy hóa ra, bộ máy công quyền trong xã hội ngày nay chẳng có thay đổi gì?

Tệ nạn trầm trọng nhất là gì?

Ông Thêm có đưa ra biểu đồ 7 tệ nạn trầm trọng nhất từ 15 lựa chọn, theo thứ tự từ cao đến thấp như sau: Nạn tham nhũng; nạn quan liêu, cửa quyền; nạn hối lộ; nạn bạo hành, cướp giật; nạn cờ bạc, số đề; nạn mại dâm. Từ các số liệu, chỉ số ông đã thống kê ở 5 lãnh vực: Phải đưa tiền “lót tay” để xin được việc làm ở cơ quan nhà nước; Phải chi thêm đề được quan tâm hơn khi đi khám, chữa bệnh; Phải chi thêm tiền để được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Phụ huynh phải chi thêm tiền con em, được quan tâm hơn; Phải chi thêm tiền để nhận được giấy phép xây dựng – để dẫn đến kết luận: “Thứ nhất tình trạng tham nhũng - hối lộ ở cả 5 lãnh vực đều không giảm đi mà có chiều hướng tăng lên. Thứ hai, việc xin việc ở cơ quan nhà nước phải “lót tay” nhiều nhất, mặc dù lương cán bộ là thấp nhất, làm việc thì nhàn nhã nhất, chứng tỏ mức độ tham nhũng ở khu vực này là cao nhất” (tr.310-311).

Tất nhiên, để có những số liệu này, là còn những mẫu biểu thăm dò, khảo sát từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, có chứng cứ khoa học chứ không cảm tính phán xét.

Đứng ở góc độ của nhà nghiên cứu đã có nhiều công trình nghiên cứu được giảng dạy trong các trường đại học như Cơ sở văn hóa Việt Nam,  Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Văn hóa người Việt vùng Tây Nam bộ…, ông Thêm còn liệt kê 11 thói hư tật xấu đã nẩy sinh: (1) Thói dựa dẫm, ỷ lại; (2) Thói cào bằng, đố k; (3) Bệnh hẹp hòi, ích kỷ, bè phái; (4) Bệnh sĩ diện, háo danh; (5) Bệnh thành tích; (6) Bệnh phong trào; (7) Bệnh hình thức; (8) Bệnh nói xấu sau lưng; (9) Bệnh vô cảm, chém chặt; (10) Tật ham vui, thích “tám”; (11) Bệnh triệt tiêu cá nhân (tr.311).

Tác động nào đã khiến tính cách người Việt ngày càng xấu đi?

GS-TSKH Trần Ngọc Thêm đã trình bày thấu đáo qua hơn 600 trang sách, thiết nghĩ đây là một trong những tài liệu cần thiết cho để tìm về hệ giá trị văn hóa Việt Nam. Và qua đó, điểm nhấn của công trình này như tác giả cho biết: “Vẫn là xây dựng một hệ giá trị mới phù hợp hơn, giúp cho quốc gia và dân tộc có khả năng miễn dịch để dảm bảo sự phát triển kinh tế  phải đi đôi với văn hóa - con người đã trở thành một nhu cầu bức thiết”.Đọc đi, để thấy GS-TSKH Trần Ngọc Thêm đã phân tích ra làm sao. Đôi khi y tự hỏi, tác động nào đã khiến tính cách người Việt ngày càng xấu đi? Tất nhiên, nhiều người đã tìm ra câu trả lời nhưng vẫn "im thin thít như thịt nấu đông"? Tại sao? “Ngậm miệng ăn tiền” vẫn là sự khôn ngoan đấy chứ? Khôn ngoan hay thói xấu, y tự vấn y đó thôi.

Lại nhớ câu thơ của Tản Đà: “Đời đáng chán hay không đáng chán/ Cất chén quỳnh riêng hỏi bạn tri âm?”.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 8.4.2016

wpid-mua-tinh-ai-63585154107017153RRRR.jpg

 

Ngày nào cũng là ngày. Buồn, vui tự lòng mình. Với y, lại không thế. Ngày tháng đã lập trình. Khó có thể chệch hướng một chút nào. Sáng thức dậy, việc trước nhất, pha một ly cà phê. Rồi, gõ bàn phím. Đêm, chong đèn đọc sách. Cứ thế, đi qua môt ngày. Bây giờ lại khác. Đã có thay đổi một chút. Những ngày này, đã có sự lo lắng, về mẹ. Bà cụ cứ than mệt, ăn không ngon, ngủ không yên. Ông anh đã đưa đi khám tổng quát, xem bệnh tình bà cụ thế nào, vẫn không phát hiện ra điều gì đáng lo ngại. Dù vậy, mỗi sáng, phải dậy sớm hơn, hỏi han sức khỏe, an ủi bà cụ đôi câu.

Trước kia, đi chơi về khuya còn nghe tiếng gọi: “Q về đó hả?”, nay thì không? Mẹ đã ngủ mê mệt. Phải nhìn sang phòng bên cạnh, xem bà cụ đã ngủ nghỉ thế nào. Khoảng khắc thời gian này còn kéo dài đến bao lâu nữa? Chẳng ai có thể biết trước. “Mẹ già như trái chín cây”. Sẽ chắc chắn rồi cũng đến một lúc những ngày đi công tác xa nhà, sẽ không còn thắc thỏm nghĩ về nhà như mọi lần. Bởi, nhà còn có mẹ, đi chơi xa nơi đâu cũng không yên tâm.

Mấy hôm trước đã lên Tây Ninh, vài người bạn văn nghệ có lời mời tham dự Festival Bánh tráng phơi sương Trảng Bàng, nhưng rồi đến cận ngày lại từ chối. Cứ theo thông tin báo chí: Festival Bánh tráng phơi sương Trảng Bàng kéo dài từ ngày 6.4 đến ngày 12.4.2016 với khoảng 180 gian hàng giới thiệu về ẩm thực, thương mại và du lịch đã đăng ký tham gia. Bên cạnh mặt hàng chính là bánh tráng phơi sương, còn có hàng chục loại bánh tráng khác, như bánh tráng thường, bánh tráng xuất khẩu, bánh tráng nướng, bánh tráng sữa, bánh tráng muối ớt, bánh tráng mè, bánh tráng vụn... và nhiều món ăn đã làm nên thương hiệu đặc sản của tỉnh Tây Ninh. Dịp này, UBND tỉnh Tây Ninh cũng chính thức công bố quyết định của Bộ VH-TT-DL công nhận nghề bánh tráng phơi sương Trảng Bàng là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Ẩm thực Tây Ninh nổi tiếng nhất vẫn là bánh canh Trảng Bàng, bánh tráng phơi sương cuốn thịt heo. Hai món nay, y đã ăn mòn răng. Thích nhất vẫn là rau, đủ các loại. Anh bạn Vương Công Đức có lần cho biết, cái ngon của bánh tráng cuốn thịt heo chính là rau. Đĩa rau rừng sành điệu, đúng cataloge, đúng bài bản nhất định phải là sự hài hòa đủ năm vị: chát, ngọt, chua, béo, thơm. Anh liệt kê như sau: rau diếp cá, tía tô, lá hẹ, lá cóc, lá săng mào, lá bứa (bứa rừng, bứa sông), lá tràm ổi, húng quế, húng lủi, cần nước, lá mặt trăng, lá săng dẻ, quế vị, ngò tàu, rau nhái, cải kiệu... Bên cạnh đó còn thêm những lát dưa leo xắt dài, dưa chua và giá sống... Nghe kể một lèo, phát khiếp. Mà nó ngon thật. Thỉnh thoảng mỗi chiều, thường ra ngoài Thanh Đa thưởng thức món đặc sản này.

Nhân vừa diễn ra sự kiện trên, bèn lật quyển Trảng Bàng phương chí (NXB Tri Thức) của Vương Công Đức đọc lại xem sao. Xem người Tây Ninh đã viết gì về cách làm bánh tráng phơi sương Tây Ninh. “Nguyên liệu làm bột bánh tráng phải là loại gạo mùa, đem vo sạch ngâm kỹ và thay nước liên tục trong 2, 3 ngày. Gạo xay nhuyễn sền sệt, tráng mỏng lên tấm vải căng tựa cái trống trên mặt nồi hấp, đậy kín khoảng độ một phút cho chín rồi dùng cây gạt bằng trúc nhỏ nhanh tay trải trên một cái phên tre rồi phơi nắng. Khi bánh khô được gỡ ra đem nướng trên than riu riu cho phồng rộp. Muốn có được cái bánh phơi sương mềm dẻo, khi trời gần sáng, người ta mang bánh tráng đã nướng để ngoài trời hứng sương sớm, độ 15 đến 20 phút là vừa rồi xếp vào bao kín. Khi ăn lấy ra từng xấp, nếu còn thừa thì bọc kín để tránh không khí vào nhiều sẽ làm bánh tráng hỏng hoặc bị đơ không ăn được” (SĐD, tr. 558).

Có 2 chi tiết cực hay mà Đức không nhắc đến, có lẽ do anh quên: lá chuối khô và vỏ đậu phộng. Đọc đâu đó, có nhớ rằng, bánh tráng sau khi phơi khô, nướng trên một chiếc lò được sử dụng nhiên liệu đốt bằng "vỏ đậu phộng"; phơi sương xong, phải đem bọc kín bánh tráng trong lá chuối tươi. Bí kíp làm nên bánh tráng phơi sương Trảng Bàng còn là ở những chi tiết ấy nữa, phải không?

Xem ra cách làm bánh tráng không khác gì ngoài Quảng Nam. Có khác chăng là cách chọn gạo, cách phơi bánh. Ở ngoài quê của y, tất nhiên, cũng có bánh tráng cuốn thịt heo. Khác nhau ở dĩa rau ăn kèm: chuối chát, khế chua xắt lát mỏng, rau cải, rau tần ô, rau ngổ, cải tần ô, húng, lá hành, tía tô… Ở Đà Nẵng chừng mươi năm trước, có ông Mậu, ba Mãn ở Khuê Trung “sáng chế” ra món thịt hai hai đầu da - miếng thịt heo đó phần nạc ở giữa, còn hai đầu của miếng thịt lại là mỡ và có cả bì.

Còn có thể kể thêm, ở Hội An nổi tiếng với “bánh tráng đập”. Hãy nghe bạn thơ của y, ông Hoàng Hương Việt, một trong ba người chủ biên bộ sách Ẩm thực đất Quảng (NXB Đà Nẵng), năm kia đã tròm trèm gần 80 xuân cho biết: “Bánh tráng đập gồm bánh tráng (có mè hoặc không) không mỏng hoặc dày quá, đem nướng vàng, giữ cho thật giòn tan, và chiếc bánh ướt chín mượt trên khuôn bốc hơi ngùn ngụt, dùng que bánh tráng vớt ngay phủ lên chiếc bánh tráng để sẵn trên mẹt, trên mâm. Chập (để) sao cho khít, vừa vẹn hai chiếc bánh khô giòn và ướt mềm với nhau” (SĐD, tập 5, tr. 340). Loại bánh này, cái phần ngon ngoài bánh khô và ướt đó, phải kể đến nước chấm là mắm cái.

Cái bánh tráng, tự nó, đủ chất liệu, cảm hứng để viết nên người ta có thể viết thành một quyển sách đầy đặn. Công trình nghiên cứu này, tầm thường quá, ắt có người nghĩ thế. Nghĩ thế là sai lầm. Do chưa có ai làm một quyển sách chuyên đề đầy đủ về bánh tráng, vì thế, đừng gì ngạc nhiên, mới đây thôi, anh bạn của y, giám đốc công ty du lịch nọ viết sờ sờ Chào bánh tráng Trảng Bàng trên một tờ báo lớn, nguyên văn như sau: “Bánh tráng, có nguồn gốc từ Nam bộ, hàng mấy trăm năm”.

Ngạc nhiên quá.

Trước đây, trong chuyên luận Người Quảng Nam (NXB Trẻ), y đã viết: “Tuy nhiên, với người xứ Quảng, vai trò của cái bánh tráng mới là nét đặc biệt trong nghệ thuật ẩm thực. Nói như thế cũng cũng chưa đúng hẳn. Thật ra, trên dãy đất miền Trung, từ Huế vào đến Phú Yên hầu như ai ai cũng thích bánh tráng, mê bánh tráng và (có người) còn cho rằng chiếc bánh tráng là sản phẩm độc đáo trong nghệ thuật ẩm thực của riêng địa phương mình. Bởi thế mấy mươi năm trước mới có những cuộc tranh luận thú vị trên báo chí miền Nam. Nay xin được kể lan man trong lúc đang ăn bánh tráng vậy.

Chuyện rằng, trước đây nhà nghiên cứu Hồ Hữu Tường cho rằng chính vua Quang Trung là người “sáng chế” ra nhạc võ Tây Sơn, đại khái đó là kiểu đánh trống cùng một lúc của mười mấy chiếc, nhằm tạo ra âm thanh dữ dội đốc thúc ba quân xông trận. Thế nhưng nhà văn Nguyễn Văn Xuân không đồng ý. Trên báo Bách Khoa (số 277 ra ngày 15.7.1968) ông phân tích đó chỉ là kiểu đánh trống Diễu hay trống ông Ninh ông Xá quen thuộc trên sân khấu mà thôi, không riêng gì ở Bình Định mới có và cũng chẳng liên quan gì đến vua Quang Trung cả. Lập luận của ông Xuân đã khiến một người Bình Định cũng “xiêu lòng” là nhà văn Võ Phiến. Ông nhà văn này bùi ngùi bảo: “Nếu quả Bình Định mất đi một điệu trống, phải được đền một cái gì chứ? Chiếc bánh tráng nhé?” (Đất nước quê hương - Lửa Thiêng XB năm 1973). Tưởng đòi cái gì, chứ đòi chiếc bánh tráng thì thông minh quá đi thôi.

Đành rằng, chiếc bánh tráng là của dân tộc, không địa phương nào có thể “độc quyền” được, nhưng nhà văn Võ Phiến phát hiện ra loại… “bánh tráng thuần túy” chỉ riêng ở Bình Định mà không nơi nào có được! Ông đã viết thân mật, viết hào hứng những dòng đầy tình cảm: “Nhưng đặc biệt ở Bình Định là lối ăn bánh tráng cuốn mà không cuốn gì cả, không có nội dung. Tức bánh táng thuần túy. Ăn như thế, người ta ăn rất nhiều bánh tráng, lấy bánh tráng thay cơm. Nông dân mỗi sáng trước khi ra đồng, nếu không kịp thổi cơm sớm, có thể dùng mấy bánh tráng thay bữa cơm sáng. Học trò ở trọ xa nhà, thường mang theo một chồng bánh tráng, trăm cái, mỗi sáng nhúng nước vài chiếc, cuốn ăn điểm tâm. Những gia đình có nghề thủ công riêng, đêm đêm thức khuya dệt vải, đập xơ dừa, chắp trân dệt chiếu v.v… thường xúm xít tổ chức bữa ăn khuya: lại vẫn bánh tráng nhúng nước rồi cuốn. Cuốn như thế, nếu nhà có sẵn rau, sẵn thịt cá v.v… mà cho vào càng tốt; nếu không sẵn (như trường hợp những cậu học trò ở trọ) thì cũng chẳng sao. Bánh tráng mà dùng “thuần túy” như vậy có vẻ phi nghệ thuật, khó mê. Vậy mà người dân Bình Định đã đâm nghiện món ăn ấy”.

Có phải chỉ riêng người Bình Định nghiện “bánh tráng thuần túy”? Không! Ngay cả người Quảng Nam  cũng thế! Người Huế cũng thế thôi. Tôi còn nhớ thuở nhỏ, vào kỳ nghỉ hè thường vào sống nhà ông cậu ở Quảng Ngãi. Bà mợ, vợ của cậu tôi là người Huế, mỗi sáng bà cũng thường cho chúng tôi ăn món “bánh tráng thuần túy” như nhà văn Võ Phiến đã viết. Hoặc thuở ấy, lúc vừa ngủ dậy, nắng còn hanh hoi trên vòm cây trước ngõ, thấy trong bụng lưng lửng đói và đòi quà bánh thì thế nào mẹ tôi cũng cho vài cái bánh tráng. Và cũng chỉ nhúng nước để ngồi ăn ngon lành. Vậy sự “phát minh” ra “bánh tráng thuần túy” nào phải “bản quyền” của người Bình Định” (SĐD, tr. 341-343)

Đấy, chỉ mỗi cái bánh tráng thôi. Đã có bao nhiêu chuyện để bàn luận rồi. Lý thú quá đi chứ? Anh em bầu bạn với nhau, lúc ăn nhậu lai rai, bàn tán rôm rã về… cái bánh tráng có phải vui không? Vui quá đi chứ. Chẳng hạn, theo anh bạn của y, sở dĩ cái bánh tráng “Sau này, dân Đàng Ngoài phải gọi bánh đa để tránh kỵ húy với chúa Trịnh Tráng". Chẳng rõ, anh đã căn cứ vào nguồn tài liệu nào. Thoạt nghe, qua đã ngờ ngợ vì nó đậm chất suy diễn. Gọi bánh tráng, đơn giản chỉ là do tráng bột rồi hấp chín, phơi khô. Tại sao, từ “tráng” lại nhảy cái vèo qua “đa” chẳng hề theo một nguyên tắc nào về sự biến âm?

Nếu có thời gian, thử sát trong ca dao, tục ngữ, cái bánh tráng đã xuất hiện với tần số thế nào? Chà, đã qua cái thời hăm hở ấy rồi. Giờ chỉ muốn có những buổi chiều mát trời, mẹ khỏe mạnh mà yên tâm phóng xe ra Thanh Đa ăn bánh tráng phơi sương cuốn thịt heo. Vậy là đã lấy làm hài lòng lắm rồi. Xem ra khi đã già, người ta dễ dàng hài lòng với những việc nhỏ nhặt, đơn giản lắm.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 4.4.2016

nddg061a

 

Trong các chuỗi sự kiện đang diễn ra, với y, quan tâm đến điều gì nhất. Sáng nay, đang đi làm nhận được tin nhắn của người bạn văn nghệ; cùng lúc, kiểm chứng lại một vài nguồn tin, vâng, đúng là thế. Chuyện thật bất ngờ. “Chuyện gì vậy Q?”. À, chuyện này:

Theo nguồn tin từ Bộ Ngoại Giao, ngày ngày 2.4, tại Trung tâm EXPO City Osaka đã diễn ra lễ công bố và trao giấy chứng nhận ngày 4.4 hàng năm sẽ là “Ngày của phở” tại Nhật Bản. Đây là sự kiện nhằm tôn vinh món phở truyền thống của Việt Nam, đồng thời giới thiệu món ăn độc đáo này đến gần hơn với người Nhật Bản, góp phần làm đa dạng, phát triển thêm nền ẩm thực vốn đã rất tinh tế ở xứ sở Hoa Anh Đào. Như vậy, ngoài các ngày được Hiệp hội Ngày kỷ niệm Nhật Bản quy định như Ngày của Nước, Ngày của Nữ sinh, Ngày của Tokyo, Ngày của An toàn quốc dân, Ngày của người già, Ngày của Bầu trời… nay, có thêm “Ngày của phở”. Sở dĩ chọn ngày 4.4 được chọn vì số 4 trong tiếng Anh khi phát âm giống âm “phở” để giúp mọi người dễ nhớ.

Với người Việt, đến nay, không ít chuyên gia ẩm thực, nhà nghiên cứu nhăn mày, nhíu mặt, mặt mày bí rị khi đi tìm câu trả lời nguồn gốc của phở. Về phở, có thể tìm ra cả hàng ngàn bài viết khác nhau, nhưng thật lạ vì sao món ăn “quốc hồn quốc túy” đó không đi vào ca dao, tục ngữ? Bài thơ viết về phở thuộc loại “thần sầu quỷ khốc” vẫn chính là Phở đức tụng của thi sĩ trào phúng Tú Mỡ viết năm 1934. Còn nhớ, ngày 29.11.2002 tại Khách sạn Sofitel Metropole Hanoi, nhiều nhà văn hóa, nhà báo được mời đến xem gánh phở rong Nam Định đầu thế kỷ XX.

Một câu hỏi quan trọng đã được đặt ra trong thời điểm ấy: “nguồn gốc của phở”?  Cứ theo các tài liệu đã công bố, có thể liệt kê ra các giả thuyết như sau:

- Phở là soupe Chinois (súp tàu). Người Tàu có món ngầu nhục phấn - làm từ bún và thịt bò, khi gánh đi bán họ rao “ngầu nhục phấn ơ…” nghe trầm bổng kéo dài; rao mãi cũng khàn giọng, có lúc nghe ra “ngầu phớn ơ”, rồi cuối cùng chỉ rao gọn lại “phớ ơ…”. Nói tắt lại, nó chính là cái gốc của từ phở. “Lý luận” này không ít ai đồng tình; thoạt nghe qua đã thấy sai đứt đuôi con nòng nọc rồi chứ gì?

- Từ món pot au feu của Pháp. Thử hỏi món này, gồm có những thứ gì? Nhà báo Doãn Phương căn cứ vào tài liệu của nhà khoa học Nguyễn Xiển, cho biết nó còn có cả: cà rốt, hành tây, đậu Hà Lan… Rõ ràng, không thể là nguồn gốc của phở.

- Phở do Feu (ánh lửa) từ tiếng Pháp mà ra. Theo ông Nguyễn Đình Rao -  bấy giờ là chủ tịch CLB UNESCO ẩm thực Việt Nam: “Hãy tưởng tượng đến một giả cảnh như thế này, khi những gánh phở rong đi trên phố trong buổi sáng sớm hay buổi đêm, cái “hỏa lò” trên đó hắt ra thứ ánh sáng đủ để khách trông thấy. Người Pháp muốn mua, chưa biết gọi là gì, tất nhiên sẽ gọi đại cái mà họ nhìn thấy, tức họ sẽ gọi “feu, feu…”, chữ này phát âm là pho (nghĩa tiếng Việt là lửa). Ông gánh phở, theo phản xạ tự nhiên cũng sẽ vội vàng “phơ đây, phơ đây” thế là thành tên rồi thành phở”.

Cũng là một cách suy diễn lúc trà dư tửu hậu, thoạt nghe qua thấy ngồ ngộ, tựa như có người bông đùa rằng, địa danh Nha Trang ra đời là do khi khám phá ra vùng đất này, cảnh vật mà người Pháp trông thấy đầu tiên là cái nhà màu trắng, Và gọi lơ lớ không dấu nên thành ra “chết tên” Nha Trang. Nhân đây nói luôn, về địa danh Đà Lạt có người cho rằng Đà Lạt là viết tắt cả câu châm ngôn tiếng La Tinh, từng ghi trên chợ Đà Lạt trước năm 1945: “Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem” (Cho người này nguồn vui, cho kẻ khác sức khỏe). Thật ra người ta chỉ dựa vào địa danh Đà Lạt đã có sẳn để chiết lấy những mẫu tự D, A, L, A, T rồi khéo léo ghép thành câu nêu trên.

Đi tìm nguồn gốc địa danh là điều cực khó. Cũng tựa như nguồn gốc của phở cho đến nay, câu trả lời vẫn chưa ngã ngũ. Nếu chọn từ điển là tập sách trước nhất ghi nhận sự ra đời của một sự vật, thì từ phở xuất hiện lúc nào? Có lẽ, phở xuất hiện sớm nhất là trong quyển Việt Nam tự điển do Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo, NXB Trung Bắc Tân Văn in năm 1931: “Phở: Do chữ phấn mà ra. Món đồ ăn bằng bánh thái nhỏ nấu với thịt bò: Phở xào, phở tái” (trang 443). Quyển tự điển này, hầu như tuyệt bản, trước năm 1975 ở miền Nam, NXB Mặc Lâm có tái bản. Hôm nọ đi chơi ngoài đường sách Nguyễn Văn Bình, thấy có bán độc nhất 1 bản, giá chừng vài triệu đồng, nhưng vẫn không còn mới, đẹp như quyển mà y đang sở hữu.

Rõ ràng, phở mới ra đời gần đây thôi. Thế nhưng, ta vẫn chưa xác định được “lý lịch” của nó. Thật đáng tiếc. Trong khi đó, ở Sài Gòn này, nhiều món ăn Âu, Á năm châu bốn biển đã du nhập, cái hay của thiên hạ là họ đã chuẩn bị cho nó một “hồ sơ” rõ ràng, đâu ra đó. Còn nhớ lúc đi dự buổi tiệc khai trương nhà hàng pizza trên ngay gần Hồ Con Rùa, nhận được tập hồ sơ dày cộm về món ăn này, mới biết rằng pizza ra đời sớm nhất vào năm 1660 tại Ý rồi có cải tiến dần v.v… Tự dưng có cảm tình với pizza và ăn cũng thấy ngon hơn.

Có phải phở xuất phát đầu tiên là từ Nam Định?

Thông tin này ghi nhận từ cuộc tọa đàm về nghề phở diễn ra tại một nơi được xem là “cái nôi” ra đời của phở: làng Vân Cù, xã Đông Sơn, Nam Trực (Nam Định) - có sự tham gia của CLB UNESCO ẩm thực Việt Nam, ông D.Coulou, bếp trưởng khách sạn Sofitel Metropole Hanoi v.v… Hãy nghe ông Cổ Kiềm hơn 70 xuân, phát biểu:

“Bấy giờ ở làng tôi, ngoài nghề làm ruộng còn có nghề làm bánh đa, khi thì nấu thành canh bánh đa với bún để bán. Trước hết cho cua ốc, rau mùng, rau hẹ; tết nhất thì cho thêm thịt, thêm xương vào ninh, thấy ngon hơn, bán ở chợ người ta thích lắm, nhất là các chợ Viềng đầu năm. Ngày mồng 7 bán ở chợ Viềng dưới (thuộc Nghĩa Hưng), mồng 8 bán ở chợ Viềng Chùa (Nam Trực), đó là những ngày kiếm ăn rôm rả nhất. Từ món canh bánh đa đã trở thành phở như thế nào thì khó nói, nhưng hai món này gần nhau lắm. Thật thế, vì làm bánh đa với làm bánh phở không khác nhau mấy.

Người làng tôi chỉ biết người đầu tiên mở lò bánh phở là cụ Lý Vặng nên có nhẽ, cụ là ông tổ của nghề phở chăng? Vào quãng năm 1920, cụ Lý Vặng thuê nhà ở phố Hàng Chỉ, Hàng Hòm mở lò rất to làm bánh phở. Lò bánh phở của cụ Lý Vặng cũng gần giống như lò tráng bánh đa, nhưng tráng trên 4 cái thùng như thùng gánh nước. Nếu như bánh đa phải tráng 2 lượt cho dày, thì bánh phở chỉ tráng 1 lượt, mỏng hơn, tay bánh cũng ngắn hơn. Khi bán, không bán cân mà bán từng chiếc một, nên còn gọi là bánh trăm. Cụ Lý Vặng còn kéo dân Vân Cù lên Hà Nội làm, trong đó có bố tôi, và từ lò bánh của cụ, sáng sáng những gánh phở rong tỏa ra khắp ngõ ngách của phố phường Hà Nội” (Báo Thể thao & Văn hóa ngày 11.4.2003).

Thông tin này rất đáng lưu ý, cần được ghi nhận.

Tuy nhiên, cách tráng bánh theo kỹ thuật của cụ Lý Vặng, còn gọi “bánh trăm” tại sao lại gọi sang bánh phở? Có lẽ chẳng một ai trả lời nổi. Người Việt mình không có thói quen ghi chép mỗi ngày, dạng như ghi nhật ký, vì thế khi ngoái lui nhìn lại quá khứ chẳng biết căn cứ vào đâu. Chẳng hạn, gần đây đã nghe quen những câu nói cửa miệng như: “Đất nước lắm Hòa Thân, nhân dân nhiều chị Dậu”; “Con đường dài nhất Việt Nam là từ lời nói đến việc làm”; “Nỏ thần chớ để sa tay giặc/ Mất cả đất liền, cả biển sâu”… Nếu những câu này có sức sống lâu dài, trở thành một loại thành ngữ ngữ mới, liệu chừng sau này có còn ai nhớ đến hoàn cảnh ra đời của nó, tác giả câu nói đó?

Thế thì, sự ghi chép mỗi ngày cần thiết lắm chứ. Mà thôi, đó là chuyện của các nhà làm sử, các nhà ngôn ngữ học, còn y chỉ là kẻ phàm ăn tục uống đâu có khả năng đó. Mỗi ngày vẫn phở. Mà này, quán phở Dậu nổi tiếng ở Sài Gòn cũng chính là của người gốc Nam Định. Tô phở không có các loại rau như húng, quế, giá… như sau khi đã “nhập cư” theo gu người Sài Gòn, chỉ có hành tây. Vâng, chỉ có chanh ớt và hành tây cắt lát. Mà tô phở từ lúc nó mới ra đời, sau năm thập niên 1920 thì căn bản là thế. Không tin à? Xin cứ đọc lại tùy bút Quà Hà Nội của Thạch Lam: “Nếu là gánh phở ngon cả Hà Nội không có đâu làm nhiều, thì nuớc dùng trong và ngọt, bánh dẻo mà không nát, thịt mỡ gầu giòn chứ không dai, chanh ớt, và hành tây đủ cả. Chả còn gì ngon hơn bát phở như thế nữa”. Đủ chưa? Chưa à? Vậy thêm một chứng cứ nữa. Đọc đoạn mở đầu Phở đức tụng của Tú Mỡ xem sao, liệu có nhắc đến hành tây không?

Trong các món ăn "quân tử vị",
Phở là quà đáng quý trên đời.
Một vài xu, nào đắt đỏ mấy mươi,
Mà đủ vị: ngọt, bùi, thơm, béo, bổ.
Náy bánh cuốn, này thịt bò, này nước dùng sao nhánh mỡ,
Ngọn rau thơm, hành củ thái trên.
Nước mắm, hồ tiêu, cùng dấm, ớt điểm thêm,
Khói nghi ngút đưa lên thơm ngát mủi…

Nhất trí. Xin tâm phục khẩu phục, có điều ngạc nhiên ở chỗ tại sao người Bắc gọi ăn phở là “ăn quà”? Lần đầu tiên biết phở Dậu là do nhà báo Phan Kim Thịnh - chủ bút báo Văn Học tại miền Nam trước năm 1975: “Sáng nay, tôi đưa Q đi ăn quà. Phở nơi này, ngon lắm”. Quà có nhiều nghĩa, trong đó, như Việt Nam tự điển giải thích: “Quà: Món ăn ở hàng bán sẵn để ăn tạm, không phải bữa chính”, trong khi đó, với nhiều người lại khác, ăn phở là để no, có thể thay cho bữa chính kia mà? Ăn thiệt, no thiệt, chứ nào phải đến với phở bằng tâm thế “ăn quà”. Hôm nào hỏi anh Thịnh, xem giải thích ra làm sao.

L.M.Q

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 31.3.2016

THO-TANG-DOAN-TUAN

 

Cách đây dăm ngày, có việc cần đến quyển Muối của đất.

Ở nhà có quyển này. Sách nhiều quá, tìm kiếm bở hơi tai. Cũng không tài nào tìm ra. Đố biết nó nằm ở xó xỉnh nào. Chịu chết. Để cho chắc ăn, truy cận internet, xem lại hình bìa của nó. Đúng chóc rồi. Có quyển này trong tủ sách. Nhưng không thể tìm nổi. Có sách nhiều quá cũng khổ. Lúc cần tìm, chẳng khác gì mò kim đáy biển. Mà nhớ thế, mới ngạc nhiên khi biết rằng: “Ơ hay, ủa, thì ra mình cũng có những quyển sách này à? Lâu nay không hề biết”. Tự dưng bao nhiêu mệt nhọc tan biến. Lại tiếp tục tìm Muối của đất. Cuối cùng, chào thua. Bèn nhắn tin cầu cứu bạn bè. Người giúp được, không ai khác, chính là nhà sưu tập Trần Thanh Phương.

Sáng sớm ghé nhà anh, mượn sách. Uống trà. Và bàn những công việc cũng liên quan đến viết lách. Anh khoe tập bản thảo dày cộm. Cầm đọc và ngạc nhiên. Đó là các bài điếu văn tiễn đưa nhà văn Việt Nam lúc về chín suối.  Anh đã kỳ công thu thập được tư liệu từ nhiều nguồn, tất nhiên không thể thiếu tờ Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam. Đã tìm được diếu văn của hơn 100 người. Anh đang loay hoay sẽ đặt tựa là gì. Xem qua mục lục, may quá, có dịp cám ơn anh đã cho mượn sách bằng cách photo tặng anh điếu văn về nhà thơ Tản Đà, Vũ Trọng Phụng. Cả hai bài này đều in trên tạp chí Tao Đàn năm 1939, lúc hai nhân vật lừng danh này qua đời. Xem qua bản thảo do anh Phương sưu tập, sắp xếp có thể nhận ra rằng, trước đây điếu văn thường được đọc tại mộ, ngay sau lúc hạ huyệt; bây giờ, đọc trước linh cữu, trước lúc đưa quan tài ra mộ. Mỗi thời mỗi khác. Khác một chút, nhưng cùng là một cách bày tỏ sự thương tiếc dành cho người vừa khuất. Chắc chắn tập sách này của anh Phương hữu ích cho nhiều người. .

Về Tản Đà, ông Đinh Gia Trinh - chủ nhiệm tờ báo Le Monême, cơ quan của Tổng hội trường Cao đẳng đọc trước huyệt, có câu: “Chúng tôi không muốn dài lời nữa. Một giọt lệ và một lặng yên hùng biện bằng mấy nhời hoa mỹ ca tụng tiên sinh. Chúng tôi sẽ tự coi như một bổn phận là không quên sự nghiệp của tiên sinh, không quên gia cảnh hiện tại của tiên sinh. Với lòng hăng hái nhiệt thành của tuổi trẻ, chúng tôi sẽ xin gắng sức giúp ích cho tiên sinh để tỏ ra chúng tôi, thanh niên trí thức của xứ sở, bao giờ cũng biết cảm ơn tha thiết nhưng danh nhân của xứ sở”. Tản Đà chết trong nghèo túng. Theo nhà văn Nguyễn Tuân: “Ở đầu giường bệnh, vẫn bên chồng sách cũ nát trên cái ghế mọt thay làm án thư và bên chồng sách bừa bãi đây đó mấy trang bản thảo. Tập di cảo! Trời! Và lẻ loi ở góc bàn, vẫn cái hũ rượu cáp giới ngày nọ. Tất cả, chỉ có thế thôi. Với một đoàn thê tử yếu và đuối!”.

Về Vũ Trọng Phụng, nhà thơ Lưu Trọng Lư và Nguyễn Vỹ đọc điếu văn trước huyệt. Vũ Trọng Phụng cũng chết trong nghèo túng. Kẻ sĩ lớp trước thường nghèo túng. Đọc La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp của học giả Hoàng Xuân Hãn ngẫm nghĩ với chi tiết này: Lúc sinh thời, Nguyễn Thiếp đã từng “thấy vàng không thèm ngoảnh cổ lại nhìn”, từ chối biết bao nhiêu báu vật của triều đình dâng tặng nên khi nằm xuống gia đình rất túng quẫn. Nhà thờ ông rất sơ sài, đến đời Duy Tân có sắc thần ban cho, nhưng tộc trưởng trong họ không có đủ hai đồng bạc để lãnh sắc! Bọn lính đem sắc thần về từ đường Nguyễn Thiếp, vì không được nhận tiền nên chúng ra ruộng xiết cả cái cày của ông tộc trưởng. Oái oăm thay, ông này phải đem cái chuông treo trong nhà thờ đem bán cho người đàn bà giàu có trong làng để chuộc cái cày về!.

Trong sáng tạo nghệ thuật, giá trị của tác phẩm không do tác giả giàu hoặc nghèo. Phải là tài năng và thêm nhiều yếu tố khác nữa. Đêm hôm qua, lai rai cùng bạn bè văn nghệ. Câu chuyện linh tinh lang tang, không đầu không cuối. Lại nhớ, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn “thiêng” quá, ông chọn đúng ngày 1.4 Ngày Cá tháng Tư để giã từ cõi tạm. Ngày đó, dễ nhớ. Từ nhiều năm nay hễ đến ngày đó lại có những chương trình tưởng nhớ Trịnh Công Sơn.“Tôi gọi Trịnh Công Sơn là người ca thơ (Chantre) bởi ở Sơn, nhạc và thơ quyện vào nhau đến độ khó phân định cái nào là chính, cái nào là phụ”. Nhận định này của Văn Cao về Trịnh Công Sơn, chắc chắn nhiều người đồng tình. Cả hai đều nổi tiếng và có nhiều đóng góp cho văn hóa nước nhà. Họ làm thơ và viết nhạc. Khó có thể phân định thể loại nào nổi trội hơn.

Với trường hợp của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, nếu tách riêng giai điệu và ca từ, chỉ đọc văn bản ắt công chúng có cảm giác như đang đọc một bài thơ. Đã có nhiều, quá nhiều lý luận nói về vai trò của thơ, sứ mệnh nhà thơ xin không nhắc lại, riêng y tâm đắc với quan niệm cho rằng, đã nhà thơ ắt phải góp phần thúc đẩy nhiều hơn nữa về sự trong sáng, uyển chuyển, phong phú, đa dạng của tiếng Việt. Đọc kỹ ca từ của Trịnh Công Sơn nhiều người đã phát hiện ra điều đó.

“Ta thấy em trong tiền kiếp với cọng buồn cỏ khô”.

Có cách nói nào “lạ đời” thế không? Cọng cỏ này, do khô nên buồn? Không phải, ở đây là “cọng buồn”. Chưa ai nói như thế. Từ lâu nay, với từ “cọng”, ta hiểu “thân cành của loài cây mềm” như từ điển tiếng Việt giải thích, chẳng hạn cọng rau, cọng cỏ, cọng rơm… Thế nhưng khi nó đứng chung với “buồn” - từ chỉ về tâm trạng, cảm giác thì quả nhiên cái buồn này đã có một sắc thái mới hẳn, lạ, trước đó chưa ai sử dụng. Qua đó, ca từ trên đã khắc họa được tâm cảnh khác của tác giả. Tâm cảnh ấy, chỉ là “cọng buồn” lẻ loi như cọng cỏ khô chứ không là nỗi buồn theo nghĩa thông thường.

Nghe một ca từ như thế, ban đầu thấy ngồ ngộ nhưng suy ngẫm kỹ lại phát hiện ra đôi điều thú vị lắm.

Với Diễm xưa, nhiều người thích câu: “Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ”. Và dĩ nhiên, trong trí nhớ của họ lập tức liên tưởng đến tháp cổ của người Chăm dọc dài trên mảnh đất miền Trung. Còn nhớ, nhà thơ Văn Cao đã nhìn và đã viết mấy câu thơ long lanh như ngọc: “Từ trời xanh/ Rơi/ Vài giọt Tháp Chàm”. Sự liên tưởng ấy là hợp lý. Tuy nhiên, sao lại không nghĩ rằng, “tháp cổ” ấy, chẳng phải là cái tháp cụ thể vừa nêu trên mà chính là… Bình tĩnh đi, vì nghe xong không ít người gân cổ lên cãi ngay, nhưng biết đâu Trịnh Công Sơn đã miêu tả… cổ ba ngấn của người thiếu nữ? Nếu không thể, làm sao có: Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao…/ Trên bước chân em âm thầm lá đổ”? Diện mạo người phụ nữ có nhan sắc còn là “cổ ba ngấn”, sao không nghĩ “tầng tháp cổ” là một cách diễn đạt sáng tạo của Trịnh Công Sơn? Với một tác phẩm, xin thưa rằng, “đồng tác giả” với người sáng tạo còn là người đọc/nghe/xem nữa. Mỗi người có một cách cảm thụ, tùy theo nhận thức, tâm trang của họ trong lúc thưởng ngoạn. Mà muốn như thế, tác giả phải có khả năng làm chủ, diễn đạt ngôn từ như thế nào để tạo ra sự đồng cảm ấy.

Lại nữa, khi đọc câu thơ Kiều: “Trăm năm trong cõi người ta”, y dám quả quyết rằng, thiên tài Nguyễn Du không chỉ sử dụng “trăm năm” như một cách nói gói gọn về “đời người” mà còn là sự khái quát về thời gian, về “xưa nay”. Có cảm nhận như thế, câu thơ mới có sức ngân vang đến ngàn sau. Với Trịnh Công Sơn, “Gọi buốt/suốt trăm năm một cõi đi về” - xin nhấn mạnh, “trăm năm” ở đây chỉ mang một ý nghĩa về một kiếp người/phận người/đời người. Thế nhưng ca từ trên, Trịnh Công Sơn đã chọn từ nào? “Buốt” hay “suốt”?

Không ai có thể “Gọi suốt trăm năm”. Có mà điên. Nếu ca từ cụ thể, rành mạch đến thể, không còn là Trịnh Công Sơn nữa. Ông chọn “buốt”/“gọi buốt” vì còn hàm nghĩa nhấn mạnh cảm giác của tiếng gọi ấy, chứ không chỉ đơn thuần miêu tả hành động “gọi”. Cũng nên nhớ rằng, với ông, một cuộc tình đi qua hoặc ở lại: “Ôi mênh mông tháng ngày vắng em / Tình như lá bỗng vàng bỗng xanh / Em ra đi như thoáng gió thầm”. Chỉ là một thoáng gió nhẹ nhàng của dư hương ngày cũ còn đọng lại trong tâm tưởng, chứ không phải là tâm thế của một người lộ liểu “gọi suốt”. Biết đâu, ông có gọi thì sao chứ? Đúng thế, nhưng “gọi buốt” mới là nỗi đau chỉ mỗi mình tác giả nhận biết, nó không lên tiếng, không âm vang thốt ra lời mà chính là tiếng réo gọi âm thầm ngay từ trong tiềm thức.

Đã từng “chấn động” với ca từ: “Yêu phố vui, nhà gạch ngon” của nhạc sĩ Phạm Duy. Thì bây giờ, cảm giác ấy lại quay về với Trịnh Công Sơn: “Chim non cười tình nhìn diều lên ngon”. Từ “ngon” của tiếng Việt đã có thêm một sắc mới, chấp nhận được vì sự tài tình của cách dùng chữ, dù mới, dù lạ nhưng vẫn không “chỏi”. Thì ra, đó là “ma lực” của tiếng Việt đấy chứ!

Về từ “tình” trong tiếng Việt, ta nhớ đến cuộc tình, người tình, mối tình v.v… nhằm diễn tả tâm lý, cảm xúc, thái độ, sự yêu mến giữa hai người. Kỳ diệu thay, với Trịnh Công Sơn cách chọn từ của ông đã cho thấy rằng, có thể cầm trên tay các cảm giác ấy qua các động tác như: Treo tình trên chiếc đinh không”/ “phơi tình cho nắng khô mau”. Chưa hết, câu này mới ghê gớm, các nhà thơ thứ thiệt phải ngả mũ chào: “Vết buồn khắc trên da”.  Những câu ấy, tách riêng ra khỏi giai điệu, tự nó đã có sức nặng như một câu thơ. Nó tạo ra sự liên tưởng khác ngoài phạm vi của ngữ nghĩa, cũng tựa như câu thơ của Đoàn Phú Tứ đã tạo ra một nhận thức mới: “Hương thời gian thanh thanh/ Màu thời gian tím ngát”…

Trịnh Công Sơn cũng có lúc nhân cách hóa mà nghe qua một lần ắt khó quên: “Một sớm lên đường/ Mẹ ra sau vườn/ Hỏi thăm trái bí / Trên giàn còn xanh/ Một sớm bên hè/ Vườn sau vắng vẻ/ Này thôi bí nhé/ Lên đường cùng me…”. Chỉ đọc thôi mà đã nghe ngân vang của nhịp đi của thể thơ bốn chữ. Mà nhịp thơ ấy, còn có thể tìm thấy ở Ngụ ngôn mùa đông,  Lặng lẽ nơi này, Xa dấu mặt trời…; hoặc thể thơ năm chữ với Một ngày như mọi ngày, Ru ta ngậm ngùi, Biết đâu nguồn cội, Những con mắt trần gian… Và không chỉ có thế, ngay cả lục bát lại có thêm một bài thơ hoàn chỉnh Ở trọ v.v…  Nghe nhạc Trịnh Công Sơn đôi lúc có cảm giác như đang sống trong không gian của thơ Đường. Từ hình ảnh trong thơ đến nhịp đi của thể thất ngôn quyện nhau chặt chẽ. Chẳng hạn, ca khúc Vườn xưa mở đầu: “Ngoài hiên vắng giọt thầm cuối đông/ Trời chợt nắng vườn đầy lá non/ Người lên tiếng hỏi người có không/ Người đi vắng về nơi bế bồng”. Câu thơ cuối gợi lên sự hoang mang đến nao lòng bởi sự bâng khuâng về một nơi không định hướng:  “Nơi bế bồng” - một cách nói mới về người tình đã có chồng, có con.

Thoáng nghĩ rằng, Trịnh Công Sơn đã “chuyển hóa” tài tình một triết lý nhà Phật qua ca từ: “Bao nhiêu năm làm kiếp con người (sinh)/ Chợt một chiều tóc trắng như vôi (lão)/ Lá úa trên cao rụng đầy (bệnh)/ Cho trăm năm vào chết một ngày (tử)”. Ai ai cũng đi trong vòng quay đó, đố mà thoát khỏi.

Vậy còn ham hố sân si lục tặc tam bành làm gì nữa, hả Q?
Dạ.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 18 trong tổng số 58

trinhduyson