LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 28.3.2016



10649477_960783670707574_4744794136132751118_n(nguồn: Facebook Nguyễn Đông Thức)

 

Tuần lễ Hội sách lần thứ IX, chù đề Sách - văn hóa và phát triển từ ngày 21.3.2016 đến ngày 27.3.2016 vừa kết thúc. Cả một rừng người đã có mặt trong công viên Lê Văn Tám. Có cả thẩy 167 đơn vị hoạt động trong lĩnh vực xuất bản, phát hành sách trong và ngoài nước tham gia với hơn 720 gian hàng. Ngày nào cũng đông nghìn nghịt người. Các mặt đường Điện Biên Phủ, Võ Thị Sáu, Hai Bà Trưng và tận dụng cả ngay trong công viên, tại nhà dân cũng không đủ sức chứa các xe gắn máy của người đi mua sách. Khiếp quá. Khiếp nhất là ngày cuối cùng, sáng đó cùng nàng đi mua sách. Bở hơi tai. Mệt như phải tả xung hữu đột với người người lớp lớp. Sáng ngày 26.3.2016, có cuộc giao lưu Lê Minh Quốc - Yêu và viết, y mời bạn bè nhưng nhiều người không thể có mặt, chỉ vì không thể tìm ra nơi gửi xe. Những ngày đó, thỉnh thoảng đến với Hội sách, mua sách à? Tất nhiên, nhưng điều quan trọng hơn nữa là có mặt trong buổi giao lưu, ra mắt sách của đồng nghiệp. Một quyển sách của bạn vừa ấn hành, mình có mặt, cũng là một cách chia sẻ, động viên nhau.

Trong hành trình trình đơn độc, nhọc nhằn có những lúc một mình đơn độc. Một mình viết. Một mình khóc cười cùng bàn phím. Ai là người chia sẻ? Chẳng một ai, ngoài chính nhà văn. Anh ta viết và sống trong một thế giới khác. Thế giới của chữ nghĩa. Của từng mẫu tự. Của con chữ. Thế giới ấy thăm thẳm chân mây. Hun hút đường hầm. Thế giới của một hành trình mải mê, lầm lũi một mình đi qua sa mạc. Rồi tập sách ra đời. Một hành trình vừa khép lại. Tác phẩm ấy, không thuộc về họ nữa. Thuộc về đám đông. Như con gái đã bước chân về nhà chồng. Ngày mai, ai còn nhớ? Liệu có còn ai nhớ hay nó đã lãng quên khi vừa ráo khô giọt mực in? Nào ai biết. Dù không biết, chẳng ảo tưởng gì, họ cứ tiếp tục công việc đã chọn.

Chiều ngày 25.3.2016, nhà văn Nguyễn Đông Thức có cuộc giao lưu cùng bạn đọc nhân vừa phát hành tập truyện ngắn Vĩnh biệt Facebook, tái bản tiểu thuyết Ngọc trong đá. Ngồi nghe và ngẫm nghĩ rằng: Chắc chắn một điều, lực lượng TNXP dù đã hình thành từ năm tháng chiến tranh nhưng chỉ sau 1975, ngay tại Sài Gòn mới hình thành một lực lượng viết xuất thân từ TNXP. Không những thế, ma lực hấp dẫn của TNXP cũng đã lôi cuốn theo cảm hứng của nhiều văn nghệ sĩ khác. Nói cách khác, chính TNXP đã khơi dậy và cưu mang; là chất liệu và kinh nghiệm sống để có nhiều văn nghệ sĩ tìm đến hoặc “thâm canh”; hoặc “cỡi ngựa xem hoa”. Và tất nhiên, họ đã có những sáng tác vừa phục vụ TNXP và cũng vừa phục vụ đại chúng. Mà dù tài năng thế nào, họ vẫn là “người ngoài cuộc”, liệu chừng có thể phản ánh hết được từ chân tơ đến kẻ tóc trong đời sống của anh em TNXP?

Y quả quyết rằng, không thể. Phải là những con người trưởng thành từ môi trường ấy. Nguyễn Đông Thức là một trong những người viết xuất thân từ “lò” TNXP. Dám nói rằng, Ngọc trong đá của anh là tiểu thuyết hay nhất viết về TNXP của năm tháng đó. Từ ấn bản đầu tiên đến nay đã 30 năm rồi còn gì? Sức sống nó còn dài. Chỉ ái ngại rằng, khi nhìn về quá khứ đó lại không ít người ngậm ngùi, ứa nước mắt. “Cánh hạc bay lên vút tận trời”. Câu thơ Tản Đà đó chứ. Nói hộ nhiều điều.

Hôm giao lưu anh có nói rằng, đại ý, trong lá số tử vi của anh, có câu “thạch trung hữu ngọc” - trong đá có ngọc. Thú thật, y bù trất về khoa chiêm tinh, tử vi, lý số nên không rõ mình đã nhớ đúng hay không? Bởi lẽ lúc ấy âm thanh ồn ào quá, mọi thứ âm thanh từ gian hàng sách này nọ thi nhau phát âm loạn xạ nên hỗn tạp. Khó nghe. Mà cũng cố gắng nghe. Nghe rằng, anh lý giải, với lá số đó, anh phải cật lực lao động thì mới có kết quả tốt. Muốn tìm lấy ngọc ẩn trong đá, phải làm sao? Phải đập từng nhát búa, phải miệt mài, không ngơi nghỉ, không nản chí, không bỏ cuộc thì may ra mới nên cơm cháo gì. Và anh đã làm được. Với tác phẩm đầu tay, lấy tựa Ngọc trong đá là từ suy nghĩ đó. Và nó cũng ngụ ý rằng, các nhân vật của anh, những thanh niên sinh ra và đã sống tại Sài Gòn khi tham gia TNXP phải lao động quên mình mới có thể đi về phía bình minh của một cuộc sống mới. Đó là một cái tựa cực hay.

Có chi tiết này, lần đầu tiên mới biết, khi tác phẩm dựng thành phim, nhà văn Nguyễn Đông Thức viết kịch bản nhưng lúc đưa kiểm duyệt thì tréo ngoe thay: Một thành viên trong ban kiểm duyệt không đồng tình với chi tiết một nhân vật thuộc thành phần gia đình có "máu mặt" của chế độ Sài Gòn cũ lại được tác giả cho chết như một người anh hùng. Phải sửa lại. Con cái sĩ quan “ngụy” mà được sự vẻ vang ấy à? Đừng hòng. Phải sửa lại. Phải, cứ để cho nhân vật đó sống. Lời góp ý thiển cận, sỗ sàng và ấu trĩ vì chỉ đánh giá con người qua lý lịch được Nguyễn Đông Thức xử lý ra làm sao? Hôm đó, anh cho biết là cương quyết không đồng thuận. Cứng đầu giữ nguyên kịch bản. Chỉ vì thể, hơn hai năm sau khi quan chức này không còn ngồi cầm chịch ở cái ghế đó nữa, bộ phim Ngọc trong đá mới được tiến hành. Nghĩ cũng lạ. Lạ cho một thời, đôi khi suy nghĩ chủ quan của chỉ một người lại có quyền quyết định số phận của một tác phẩm, công sức của rất nhiều người.

Trong buổi giao lưu, nhà văn Nguyễn Đông Thức còn cho biết mẹ anh -  nhà văn Bà Tùng Long khuyên các con không nên dấn thân vào đường văn chương. Câu  thơ của Viên Mai, mẹ anh thường hay đọc:

Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch
Lập thân tối hạ thị văn chương

Cụ Phan Bội Châu cũng thích câu thơ này và dịch:

Khuya sớm những mong ghi sử sách
Lập thân hèn nhất ấy văn chương

Y nghĩ rằng, sở dĩ như thế vì lúc cụ Phan cất tiếng khóc oe oe chào đời, chính cụ sau này có ghi trong Tự phán: “Mày sắp sửa làm người vong quốc". Thế thì văn chương chữ nghĩa chỉ nhai đi nhai lại những câu “chi chi, dã dã” đã cũ rích, đã lỗi thời! Hỡi ôi! Mà có như thế mới không phạm trường quy, mới thi đậu rồi tiến thân bằng con đường làm quan như một cách lập thân thì hèn hạ lắm. Suy nghĩ ấy, thời nào cũng đúng. Nó hèn hạ vì "lập ngôn" nhưng lại không thật bụng, thật lòng, không nói đúng điều đã nghĩ. Nói một đường, viết một nẻo. Thứ văn chương ấy, liệu có ích gì nhằm thay đổi thời cuộc? Phải hiểu như thế về câu thơ của Viên Mai. Với các cụ, văn chương là tấm lòng, là nói lên cái chí. Nó thiêng liêng liêng lắm. Ngày xưa, các nhà nho Trung Quốc cho rằng, ở trên đời có “tam bất hủ”: Lập đức, lập thân, lập ngôn. Lập ngôn thời buổi này, nó ra làm sao? Mà thôi. Trời đang xanh, mây đang trắng, người đi mua sách vẫn náo nhiệt, hãy cứ ngồi yên mà ngắm nhìn nam thanh nữ tú trong hội sách có thích hơn không? Sau buổi giao lưu ra mắt Ngọc trong đá, né nhậu. Quay về nhà viết luôn bài Người Sài Gòn mê sách theo đề nghị của báo Người Lao Động, Bài này đã in trên số báo ngày hôm qua. Y viết:

“Người Việt mê và yêu sách. Tuy nhiên, chỉ có ở Sài Gòn, thiên hạ mới hào phóng, dễ dàng móc tiền ra mua sách. Suy nghĩ này, thoạt nghe qua có thể nhiều người cho rằng chủ quan, thế nhưng đây không phải ý kiến của tôi. Nhiều anh em làm sách tại Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ… đã có kết luận ấy. Thật vậy, Hội sách TP.HCM đã trải qua 9 lần, nhưng doanh thu về sách lên đến nhiều tỷ đồng là điều có thật. Khi tận mắt chứng kiến cả hàng ngàn lượt người đến Công viên Lê Văn Tám trong những ngày này, ta mới cảm nhận hết được ma lực quyến rũ, sức hấp dẫn ghê gớm của thế giới sách. Và không phải ngẫu nhiên, Sài Gòn đang là địa bàn “đứng chân” của giới làm sách trong cả nước.

Cầm quyển sách trên tay, người ta đang sở hữu một sức mạnh nhằm nuôi dưỡng tâm hồn, làm giàu tri thức. Ấn phẩm ấy, tất nhiên không chỉ tốt về nội dung nhưng còn phải đẹp, sang trọng về hình thức nữa. Trước đây, các nhà xuất bản ở Sài Gòn có một “thú chơi” nho nhỏ: ngoài số lượng phát hành ngoài thị trường, họ còn in thêm vài chục quyển, có đánh số hẳn hòi, in trên các loại giấy hoa tiên, giấy lụa hoặc giấy quý… chỉ dành cho chính họ và tác giả quyển sách đó. Ấn phẩm ít ỏi này, thật sự là một tác phẩm mỹ thuật và bao giờ cũng thuộc loại “hàng độc” mà người chơi sách, sưu tập sách luôn săn lùng ráo riết. Giữ được loại sách đặc biệt đó, nếu có thêm chữ ký, triện son của tác giả và của nhà xuất bản, lập tức giá thành của nó cao ngất ngưỡng và cũng là niệm tự hào của người sở hữu.

Chưa hết, với một quyển sách mà mình yêu thích, người Sài Gòn còn có thói quen đóng bìa cứng, mạ chữ vàng trên bìa và gáy sách. Rồi lật vào trang đầu tiên, ta đã thấy có đóng dấu đỏ tươi như: “Tủ sách gia đình của…”. Dù là sách phát hành rộng rãi nhưng qua tay người yêu sách ắt nó có thêm một diện mạo khác nữa. Và cần nhấn mạnh thêm rằng, với người “có ăn có học”, họ quan niệm rạch ròi, vị trí đẹp nhất ở trong nhà, nơi phòng khách chẳng hạn, không phải là tủ rượu Tây, Tàu loạn xạ mà chính là sách được xếp ngăn nắp, đâu ra đó. Bởi vì rằng, nhìn các gáy sách khi xếp trang trọng trên kệ sách, tự nó đã là một sự mỹ thuật khó gì có thể sách nổi.

Thêm một điều này nữa, mà theo tôi là nó hình thành từ tính cách “chịu chơi” của người Sài Gòn: Khi bạn bè ra mắt sách, tổ chức giao lưu  cùng bạn đọc thì các thân hữu luôn có mặt chung vui cùng hoa tặng. Họ tự nguyện mua sách và xin chữ ký của bạn làm kỷ niệm. Lại có người mua với giá cao hơn nhiều lần, như một cách bồi dưỡng thêm phần “nhuận bút” dành cho tác giả. Thái độ ấy đã có từ lâu, nay vẫn còn tồn tại. Qua đó, ta còn có thể nhìn ra một nét văn hóa trong phép ứng xử về sách từ độc giả của vùng đất phương Nam giàu nghĩa, nặng tình”.

Sở dĩ viết câu cuối, vì nhớ chừng mươi năm trước, lúc y ra mắt tập trường ca Hành trình của con kiến tại Quán hát với nhau Dòng thời gian của anh Nguyễn Ngọc Thành, có một đồng nghiệp - nhà thơ Đặng Nguyệt Anh đã mua tập sách với một giá cao ngất. Như một lời chúc mừng. Cảm động lắm. Rồi mới đây, ngày 22.3.2016 ra mắt Có một mầm hoa đã nhú dưới tro tàn, Ngày viết mỗi ngày, chị Kim Phụng - giám đốc Công ty phát hành Trường Phát cũng tặng một lẵng hoa thật to và có nghĩa cử tương tự.

Nhẹ nhàng mà sống. Nhẹ nhàng mà vui.


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 25.3.2016

ghenh2-4383-1458607795

Cầu Ghềnh ngày xưa. Ảnh: Panoramio

 

Có mấy thông tin cần ghi lại:

“Theo thông tin ban đầu, khoảng 11 giờ 35 ngày 20.3, tàu kéo mang biển số SG 3745 do tài công Trần Văn Giang (36 tuổi, ngụ Bạc Liêu) điều khiển, kéo theo sà lan biển số SG 5984 chở khoảng 600 tấn cát từ Long An về hướng Đồng Nai đã đâm vào mố số 2 của cầu Ghềnh. Cú đâm mạnh đã làm nhịp 2 bị rơi xuống sông hoàn toàn, nhịp 3 thì đầu nam rơi xuống sông, đầu bắc rơi gác lên mố cầu số 1. Sự cố làm cắt đứt đường lưu thông huyết mạch trên tuyến đường sắt bắc - nam. Riêng chiếc sà lan bị lật úp trên sông” (Báo Thanh Niên ngày 21.3.2016).

Nhân sự kiện này, đọc lại Biên Hòa - Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển (NXB Đồng Nai - 1998). Tập sách này do Ban Chỉ đạo Lễ Kỷ niệm 300 năm vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai biên soạn, vì thế đáng tin cậy. Cầu Ghềnh, còn gọi cầu Gành dài 223m, do Hãng Eiffel thiết kế vào năm 1903, cùng lúc với cầu Rạch Cát, thuộc thành phố Biên Hòa - là 2 cây cầu bắt qua sông Đồng Nai dẫn vào Cù lao Phố. Ngày 14.1.1904, đoạn xe lửa Sài Gòn-Biên Hoa thông xe, ít lâu sau tàu chợ chạy hàng ngày. Dần dà, tuyến đường xa hơn, đến năm 1936, đường sắt mới nối thông Sài Gòn - Hà Nội. Hãng Eiffel cực kỳ nổi tiếng này, còn để lại trúc sư Gustave Eiffel (1832 - 1923, người thiết kế tháp Eiffel), cùng với 2 công trình kiến trúc cầu khác ở Việt Nam là cầu Long Biên (Hà Nội) và cầu Tràng Tiền (Huế).

Tại sao báo chí đưa tin cầu Ghềnh, nhưng tập sách trên lại viết cầu Gành? Nguyên do tại làm sao?

Câu hỏi thú vị này, học giả An Chi trả lời: “Trước nhất xin nói về quan hệ “bà con” giữa “ghềnh” và “gành”. Họ là ruột thịt nhưng cụ Gành là bậc tiền bối còn thằng Ghềnh thì chỉ là đứa sinh sau đẻ muộn. Chuyện này có thể thấy được qua mối quan hệ từ nguyên giữa các vần ANH ↔ INH ↔ ÊNH – mà chúng tôi từng nói đến - trong đó ANH > INH > ÊNH”. Và:  “Gành - một một từ Việt gốc Hán “chỗ lòng sông thu hẹp và nông khiến cho dòng nước bị dồn lại nên chảy xiết” (Từ điển từ ngữ Nam Bộ của TS Huỳnh Công Tín). Ngày nay, trong tiếng Việt văn học và tiếng Việt toàn dân thì nó đã biến thành ghềnh (trong thác ghềnh) nhưng trước đó thì nó là ghình như còn có thể thấy trong phương ngữ Nam Bộ:

Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi.

(Nhiều tác giả đã không ý thức được về đặc điểm của phương ngữ nên đã tự động đổi ghình thành “ghềnh” nhưng “ghềnh” thì đâu có vần “ngon lành” với “đinh” ở câu trên). Trở lên chúng tôi đã nói về diễn tiến “gành > ghình > ghềnh”, để qua đó mà khẳng định rằng gành là bậc ông bà chứ ghềnh thì chỉ là hàng con cháu mà thôi. Gành là một cái tên cúng cơm xưa hàng trăm năm mà dân chúng trong vùng đã đặt cho cây cầu xấu số đã gãy đổ. Vậy các nhà báo, nhà truyền thông có nên sỗ sàng đổi tên của nó thành “Ghềnh” hay không?”.

Để có câu trả lời, ông An Chi dẫn bài báo “Cầu Ghềnh dấu tích trăm năm” (Báo Tuổi trẻ online ngày 18.8.2011: “Giám đốc Bảo tàng tỉnh Đồng Nai Lưu Văn Du cho biết qua tìm hiểu người dân ở cù lao Phố vẫn gọi là “Gành” chứ không phải “Ghềnh”. “Ghềnh” có thể sau này người ta phát âm trại ra chứ dân cù lao dứt khoát gọi là “Gành”. Theo ông Du, ở dưới vùng hạ lưu của cầu Ghềnh có những gành đá nên người xưa có thể từ đó mà gọi là “Gành”. Tuy nhiên, đến nay “Gành” hay “Ghềnh” vẫn chưa tìm thấy một dữ liệu nào để khẳng định chuẩn xác.” Ông giám đốc Bảo tàng còn dè dặt khi nói “vẫn chưa tìm thấy một dữ liệu nào để khẳng định chuẩn xác” nhưng dữ liệu ở ngay cửa miệng của người dân chung quanh chứ ở đâu. Xin hãy đọc, cũng trong bài báo đã nêu:

“Khi nghe chúng tôi hỏi gọi cầu Gành với cầu Ghềnh thì từ nào chuẩn xác, vợ chồng ông Chín (là người được hỏi han - AC) cười: “Dân cù lao hồi xưa tới giờ gọi cầu Gành không à. Gành là gành đá nổi lên ở gần cầu thời đó nên dân mới gọi như vậy. Nói với dân cù lao mà gọi cầu Ghềnh thì người ta cười chết!”. Ta nên nhớ rằng, ở đây, Gành không còn là danh từ chung nữa, mà là danh từ riêng, là địa danh. Đối với địa danh, nhân danh, ta không thể tự tiện hoặc sỗ sàng thay thế nó bằng biến thể ngữ âm (của nó)”.

Phải nghiêng mình một lần nữa thán phục ông An Chi. Giải thích rõ ràng, đâu ra đó. Học thêm một chữ. Hiểu thêm thêm một chứ. Tự nhiên, thấy trong lòng vui thêm một chút. Rồi ghi thêm thông tin này nữa:

Nhà thơ Hoài Khanh đã qua đời 2g30 ngày 23.3.2016, ông tên thật là Võ Văn Quế, quê quán tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Từ năm 1957, ông đã in tập thơ Dâng rừng. Sau đó là các tập thơ: Thân phận, Lục bát, Gió bấc - trẻ nhỏ - đóa hồng và dế. Về văn, ông có tập truyện Trí nhớ hoang vu và khói. Ít ai biết, ông còn là người chủ trương nhà xuất bản Ca Dao. Phạm Công Thiện thỉnh thoảng rích thơ Hoài Khanh khi viết Ý thức mới trong văn nghệ và triết học (1966). Có lẽ, đoạn thơ hay nhất của ông, nhiều người nhớ nhất vẫn là:

Rồi em lại ra đi như đã đến
Dòng sông kia vẫn cứ chảy xa mù
Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng
Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu.

Nhà sử học Tạ Chí Đại Trường - tác giả nhiều công trình nghiên cứu lịch sử có giá trị qua đời tại nhà riêng ở TPHCM vào lúc 4g sáng 24.3.2016. Gần đây, một loạt sách của ông được tái bản, xuất bản như  Những bài dã sử Việt, Người lính thuộc địa Nam Kỳ 1861 - 1945, Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802, và Thần người đất Việt. Trước đó, GS Lý Chánh Trung (ngày 13.3.2016), nhạc sĩ Thanh Tùng (ngày 15/3), Trần Lập (ngày 17.3.2016) cũng qua đời.

Ngày 24.3.2016, Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh lần IX được công bố. Đáng chú ý là Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh năm nay cũng chính thức tôn vinh vị danh nhân văn hóa là nhân vật tiếp theo được rước vào Dự án Tinh hoa Văn hóa Việt Nam thời hiện đại là nhà tân học, nhà báo, nhà văn, nhà chính trị Việt Nam đầu thế kỷ XX: danh nhân văn hóa Nguyễn Văn Vĩnh.

Sáng nay, đọc bài Dấu xưa Đồng Tháp Mười: Kỳ bí bia đá trấn thủy của tác giả  Ngọc Phan - Hoàng Phương in trên Báo Thanh Niên. Chi tiết này hay: “Với mục đích khai thác vùng Thiên Hộ, Phụng Thớt, năm 1895 Trần Bá Lộc (tức Tổng đốc Lộc) huy động dân phu vùng Cái Bè, Cai Lậy đào một con kinh chạy từ Rạch Ruộng đến Bà Bèo dài 47 cây số. Dân gian kể lại, khi phóng kinh Tổng đốc Lộc cầm ống nhòm ngồi trên chiếc ghe lườn trải chiếu bông, bắt dân kéo theo tầm ngắm của ông ta, rồi căn cứ vào dấu sậy đế, đưng, lác rạp xuống do ghe lướt qua mà cắm bông tiêu, chia từng đoạn ra đào. Kinh được đào bề ngang khoảng 3 - 4 thước”.

Một kiểu đào kinh độc đáo của người xưa ở Nam Bộ. Đọc Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hầu (NXB Hương Sen - 1972), ta còn biết thêm một chi tiết quan trọng không kém lúc cha ông ta dào kênh Vĩnh Tế năm 1822: “Để cho con kinh được ngay, người ta đợi lúc ban đêm, rẽ sậy rạch hoang, đốt đuốc trên đầu những cây sào cao rồi nhắm theo đường thẳng mà cặm. Muốn điều khiển những cây “sào lửa” ấy cho thật ngay hàng, người ta cầm một cây rọi to, đứng trên cao phất qua phất lại ra hiệu cho người cầm sào tìm đúng vị trí”. Trong suốt 5 năm tiến hành việc đào kinh, nhân lực đào kinh đã lên đến 80.000 người! Năm 1824, công trình hoàn thành, dòng kênh dài gần 98.300 m, bề ngang 50 m, sâu 6 m nối liền Châu Đốc đến cửa biển Giang Thành (Hà Tiên). Sự kiện vĩ đại này được ghi nhận trong Đại Nam nhất thống chí: “Từ đây đường sông mới lưu thông, việc biên phòng, việc buôn bán đều được hưởng mối lợi vô cùng”.

Trở lại với bài báo trên: “Khi con kinh hoàn thành vào tháng 7.1897, đích thân Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer xuống dự lễ khánh thành; dân gian gọi là kinh Tổng đốc Lộc. Từ năm 1918 - 1924, thực dân Pháp nhiều lần dùng xáng múc mở rộng nên còn gọi là kinh Xáng. Đến năm 1947, kinh Tổng đốc Lộc được đổi thành kinh Nguyễn Văn Tiếp, tên vị chủ tịch đầu tiên của Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh Mỹ Tho”.

Chiều rồi. Dừng tay thôi, không gõ phím nữa. Tuy nhiên cũng nên thòng thêm chi tiết này, đọc quyển hồi ký Xứ Đông Dương của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer, lại thấy có một chi tiết lạ lùng về nhân vật Tổng đốc Lộc: “Ông ta muốn được chôn đứng gần sông, nên đã cho đào trước nhà một cái hố vừa với khổ người”. Tại sao? Rất tiếc viên Toàn quyền Đông Dương chỉ cho biết đến đó.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 8.3.2016

 

quoc-oi-tho-1-R

 

Câu chuyện này hay: Lúc 14g55 ngày 4.3.2016, chiếc máy bay của hãng hàng không giá rẻ Jetstar Pacific mang số hiệu BL590 từ TP.HCM cất cánh đi Đà Nẵng. Khi bay trên độ cao 10.000m, đột ngột hành khách Nguyễn Thị Ngọc Nga (26 tuổi, Duy Nghĩa, Duy Xuyên, Quảng Nam) ngồi hàng ghế 5E có biểu hiện đau bụng và chuyển dạ. Bác sĩ đỡ đẻ là Fiona Sutton Julia người Anh, tình cờ cùng đi chung chuyến bay, ngồi hàng ghế ngồi ghế 11D. Theo VnEpress: “Vì điều kiện ở trên máy bay thiếu thốn, Fiona không cắt dây rốn mà đặt em bé nằm trên bụng mẹ. 15 phút sau, máy bay hạ cánh. Mẹ con sản phụ được chuyển ngay đến bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng”. Ơn trời, mọi việc đều suôn sẻ. Đứa bé tốt số này được bố mẹ đặt tên ở nhà là Jetstar, khai sinh lấy theo tên cơ trưởng chuyến bay này là Xuân Đăng và được hãng Jetstar Pacific miễn phí 20 năm vé máy bay.

Một câu hỏi đặt ra: Sinh ra trên máy bay, khai nơi sinh là nơi nào?

Báo Tuổi Trẻ Online ngày 8.3.2013, ông Nguyễn Văn Vũ, trưởng phòng Hộ tịch Sở Tư pháp TP.HCM cho biết trường hợp bé Xuân Đăng là hy hữu và ngoại lệ so với các quy định hiện hành. Sau khi nêu các văn bản Nghị định, Luật Hộ tịch, câu trả lời được “gút lại” như sau: “Cụ thể, khi máy bay bay trên độ cao 10 nghìn mét qua nhiều tỉnh thành thì không thể xác định em bé sinh ra tại địa phận tỉnh thành nào. Vì thế nơi sinh của em bé nên là sân bay mà máy bay đáp xuống-chính là sân bay Đà Nẵng. Vì vậy đơn vị hành chính là phường, quận, thành phố nơi sân bay Đà Nẵng tọa lạc. Về cơ quan có thẩm quyền đăng ký khai sinh cho trẻ thì Luật hộ tịch quy định là UBND cấp xã nơi cứ trú của người cha hoặc mẹ thực hiện đăng ký khai sinh”.

Sực nhớ đến truyện ngắn Mây trắng còn bay của nhà văn Bảo Ninh.

Lúc chiếc TU bay qua vùng trời sông Bến Hải, một hành khách đã bày biện mâm cúng ngay chỗ mình ngồi vì “bữa nay giỗ thằng cả nhà tôi. Non ba chục năm rồi, bác ơi, tôi mới lên được đến miền cháu khuất”. Nhà văn viêt tiếp: “Bà cụ ngồi, lặng phắt, lưng còng xuống, hai bàn tay chắp lại, gầy guộc. Trên chiếc bàn gấp bày đĩa hoa cúng, nải chuối xanh, mấy cái phẩm oản và ba cây nhang cắm trong chiếc cốc thủy tinh đựng gạo. Một bức ảnh ép trong tấm kính cỡ bàn tay để dựng vào thành cốc. Cô tiếp viên vội đi tới. Cô đứng sững bên cạnh tôi. Không hề kêu lên, không thốt một lời, cô lặng nhìn. Máy bay vươn mình nâng độ cao vượt qua trần mây. Sàn khoang dốc lên. Cái bàn thờ nhỏ bé bỏng của bà cụ già hơi nghiêng đi. Tôi xoài người sang giữ lấy cái khung ảnh. Tấm ảnh được cắt ra từ một tờ báo, đã cũ xưa, nhưng người phi công trong ảnh còn rất trẻ. Khói nhang nhả nhè nhẹ, bốc lên dìu dịu, mờ mỏng trong bầu không khí lành lạnh của khoang máy bay. Những cây nhang trên trời thẳm tỏa hương thơm ngát. Ngoài cửa sổ đại dương khí quyển ngời sáng”.

Chi tiết của truyện ngắn này cảm động. Cảm thấy xốn xang. Nhà thơ Trần Đăng Khoa, khoảng đầu thập niên 1980 có in tập thơ Bên cửa số máy bay. Lại hỏi, người Việt Nam thấy được máy bay từ lúc nào? Đọc nhiều tài liệu được biết người Pháp tổ chức "Đại tuần lễ Hàng không tại Nam Kỳ" (Grande semaine d'Aviation) diễn ra tại Sài Gòn từ ngày 8 đến 18.10.1910. Phi công Van Den Borg (sinh năm 1874, cha người Bỉ, mẹ người Pháp) đã biểu diễn trên vòm trời Sài Gòn, cất cánh từ trường đua Phú Thọ.

Sau đó, chiều ngày 4.8.1913, lúc 17 giờ 3 phút lần đầu tiên hàng ngàn người hiếu kỳ thấy máy bay tung cánh trên bầu trời xứ Huế do phi công Marc Pourpe lái. Kế tiếp, ngày 6.8.1913, người Pháp đưa máy bay từ Huế vào Đà Nẵng. Tòa Đốc lý ra lệnh cho dân nhượng địa Đà Nẵng và dân từ các huyện, phủ Quảng Nam, thậm chí cả Hội An ngót ba mươi cây số cũng phải tập trung đi coi tàu bay tại bãi cát Lầu Đèn - nay là khu vực đường Trần Cao Vân chạy đến bờ biển Thanh Bình. Trong chuyên luận Người Quảng Nam, y có chép nguyên vẹn bài vè Coi tàu bay tại Lầu Đèn, nay trích đôi câu:

Ra về mệt mỏi tay chưn
Dầu mà có đói cũng thấy cái đời văn minh
Rùng rùng máy nổ thất kinh
Chiếc tàu cất cánh thình lình bay lên
 

Điều buồn cười là viên phi công Marc Pourpe sau đợt biểu diễn máy bay lại được đặt tên đường ngay trung tâm thành phố, nay đường Phan Châu Trinh (Đà Nẵng)!

Ai là người trước nhất khi xem máy bay mà nẩy hứng sáng tác thơ?

Chính Thượng thư bộ Công Nguyễn Hữu Bài (1863-1935). Tập Thơ Nôm Phước Môn in năm 1959 theo giấy phép của Bộ Thông Tin miền Nam, ông Nguyễn Thúc sao lục và chú thích, ông Thái Văn Kiểm viết tựa đã xác định điều đó. Phước Môn là bút danh của Nguyễn Hữu Bài. Câu cửa miệng phổ biến rộng rãi một thời: "Phế vua không Khả, đào mả không Bài”. Khả: Ngô Đình Khả phản đối vụ người Pháp truất vua Thành Thái; Bài: Nguyễn Hữu Bài phản đối ý định của người Pháp muốn đào lăng vua Tự Đức tìm vàng bạc đã chôn cất ở đó. Trong tập Thơ Nôm Phước MônVịnh tàu bay - gồm 4 bài thất ngôn bát cú, nay trích đôi câu để xem người xưa đã cảm nhận ra làm sao:

Ấy ai khôn khéo, lạ trong đời,
Chấp cánh mà bay để chúng coi.
Mới đó giập giằng vừa khỏi đất,
Bỗng đâu phất phới đã ngang trời.
Qua qua lại lại đều như ý,
Xuống xuống, lên lên rõ thực tời.

“Tời”: tài, phát âm theo giọng người miền Trung. Người phi công đầu tiên của Việt Nam là ai? Có phải là ông Đỗ Hữu Vị, con trai Tổng đốc Phương? Về nhân vật này, cứ cậy nhờ ông Google là xong tất. Đầy đủ thông tin. Đại khái, cứ theo Nam Phong tạp chí: “Quan ba” Đỗ Hữu Vị sinh năm 1884, tốt nghiệp “trường Võ quan Saint - Cyr” và tòng quân vào quân đội Pháp. Lúc bấy giờ máy bay mới phát triển tại Pháp, ông Vị là một trong những người đầu tiên bay vòng quanh nước Pháp. Khi máy bay hiệu Gaudron được đem ra thử nghiệm, Đỗ Hữu Vị cũng là người đầu tiên lái thử. Chẳng may, bay lên độ cao 300 mét thì máy bay rơi, nhưng thoát chết. Tuy nhiên, Đỗ Hữu Vị cũng chết trong cuộc giao chiến với quân Đức trong trận đánh vào làng Dompierre (trong Đệ nhất thế chiến). Được anh là “quan năm” Đỗ Hữu Chẩn đưa về cố quốc trên tàu Porthos và an táng tại Sài Gòn vào ngày 12.5.1920. Tuy nhiên, ít biết nhà thơ Tú Mỡ có bài thơ Phong thần Đỗ Hữu Vị, in trong tập Giòng nước ngược (NXB Đời Nay, 1934):

Người Nam Việt, quan ba họ Đỗ
Bước đầu tiên, cưỡi gió, đi mây
Gặp thời đại chiến Âu Tây
Đền ơn nước Mẹ bỏ thay sa tràng
Chết như vậy, chết vang, chết vẻ
Tiếng tăm còn ghi để sử xanh
Người ta kỷ niệm công lênh
Quyên tiền dựng ở Tây Ninh tượng đồng
Và, tuy bực anh hùng thuở trước
Là ông dân quý quốc Lang Sa
Người ta theo tục dân ta
Tâu vua phong sắc quan Ba thần hoàng
Để thờ phụng đền nhang bái lễ
Và xuân thu cúng tế rộn ràng
Hồn ông về ngự ngai vàng
Hồn thiêng chứng giám việc làng dân quê
Nhìn Xã Xệ, Nhiêu Khê, Lý Toét
Chiếu giữa đình tranh thịt tranh xôi
Thần linh phải đến sặc cười
Bỏ đình, bỏ đám tung trời mà… bay

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 6.3.2016

scu-nho-minh-dang-tho-1R

 

Trên sân khấu tuồng, bao giờ cũng có thằng hề, thỉnh thoảng hắn “đế” đôi câu cho nhộn sàn diễn. Có thể câu “đế” ấy có chủ đích, đôi lúc tầm phào, lắm khi “thọc gậy bánh xe”, hoặc nhập vai ông to, bà lớn “cứ như thật” v.v… miễn sao khán giả cảm thấy sướng tai nên hào hứng, vỗ tay tán thưởng là được. Trong tập sách Hề chèo (NXB Văn Hóa - 1977), nhà nghiên cứu chèo Hà Văn Cầu, hề chèo có 3 loại căn bản: Loại hề đi hầu (hề áo ngắn) có hề gậy, hề mồi; hề tính cách; hề văn minh và hề cải lương. “Con người trong hề chèo trước đây thường là con người hết lối thoái, cùng đường, chửi vung lên cho hả, chửi đến mức không đoái đến bản thân mình” (SĐD, tr. XXX1). Tuy nhiên, lắm lúc các vở diễn, hề chèo lại quên béng thân phận của mình. Cứ tưởng mình là kẻ ăn trên ngồi trốc, có thế có quyền nhất cõi, do đó, mới xẩy ra lắm ngộ nhận phì cười.

Sống ở trên đời, đôi khi con người ta đang là vào vai hề chèo nhưng lại không ý thức được điều đó.

Ảo tưởng đó thôi. Mà nghĩ cho cùng, ảo tưởng mới chính chất men nồng nhiệt nhất của đời người, là chất liệu quý giá nhất của trần gian này. Không phải niềm tin hay lý tưởng. Niềm tin rồi có lúc mỏi mệt. Lý tưởng rồi có lúc nhận ra không phải là vậy. Vui sống ở đời, hồn nhiên vô tư và cảm thấy đáng sống hào hứng, cuồng nhiệt nhất là lúc còn có ảo tượng án ngự trong tâm hồn. Đến với nghệ thuật, con người ta cũng xây dựng cho nó những quy tắc nhằn vươn tới giá trị tốt đẹp nhất nhưng rồi, cuối cùng cũng ảo tưởng nốt. Nói thì nói thế, vẫn ghi lại những câu thật hay về nghệ thuật, dù nói về sân khấu tuồng, một loại hình nghệ thuật cụ thể nhưng ngẫm lại nó có thể mang tính khái quát chung cho sự sáng tạo của những ai muốn trở thành kẻ chuyên nghiệp với nghề. Mà kẻ chuyên nghiệp ấy, nghĩ cho cùng chỉ chàng Don Quijote. Đáng kính trọng, ca ngợi mà cũng đáng thương hại thay. Xin mở ngoặc, những câu trích này do Phan Lý Lệ Nhân sưu tầm, in trên tạp chí Non Nước số Xuân 2106. Đóng ngoặt.

"Câu đối của vua Minh Mạng (1820 - 1840) đề trước Duyệt thị đường:

- ÂM NHẠC TỊNH TRẦN, HÒA KỲ TÂM NHI DƯỠNG KỲ CHÍ

- NGHIÊM XUY TỀ HIẾN, THỦ KỲ THỊ NHI GIỚI KỲ PHI

(Âm nhạc cùng tấu lên, là nhằm điều hòa tâm hồn, bồi dưỡng ý chí

Cái tốt, cái xấu cũng được diễn ra là để giữ gìn điều phải, ngăn điều trái).

 

* Câu đối ở Từ đường Thanh bình (nhà thờ ngành hát bội ở Huế):

- HÀNH KỲ LỄ, TỐ KỲ NHẠC, CA TỰ THIÊN TU

- ĐÔN HỮU ĐIỂN, TỰ HỮU LUÂN, CƯƠNG THƯỜNG CHIÊU CHƯỚC

(Làm theo lễ, tấu theo nhạc, ca hát tự đây

Hòa có phép, hợp có khuôn, cương thường sáng chói).

 

- CỔ VŨ TUYÊN DƯƠNG, CÁ CÁ CỘNG ĐẮC TÂM ỨNG THỦ

- XINH CA XUẤT NHẬP, NHÂN NHÂN GIAO THÁO CỦ TUẦN QUY

(Trống múa vang lừng, mỗi người bụng nghĩ làm sao, tay đưa làm vậy

Ra vào nhịp hát, ai ai cũng theo đúng lề lối quy cũ).

 

- VẠN CỔ TỰ NGUYÊN ÂM DĨ VIỄN

- DO TẠI QUẦN TÀI TRƯỚC HẢO MINH

(Âm thanh cổ sơ ngày một khác xa, do nhiều tài năng trau chuốt để đi đến chỗ trong sáng).

 

* Câu đối của ông nghè Trương Hoài Thao tặng NSND Nguyễn Phẩm:

- CA XƯỚNG HỆ ĐA MÔN, TRỰC BẢ TRUNG LƯƠNG VI MỤC ĐÍCH

- VINH KHÔ THÀNH ẢO MỘNG, CHỈ TƯƠNG NGHỆ THUẬT TÁC SƯ TƯ

(Nghệ thuật hát diễn nhiều môn, mục đích tạo dựng con người trung lương.

Sướng khổ thành ảo mộng, đem nghệ thuật làm thầy cho cuộc sống).

 

* Câu đối của Đông y sĩ Đỗ Xuân Nghinh tặng Đoàn hát bộ bà Chánh Đệ:

- ĐỒNG TỨ NGŨ LỤC DANH, VIẾT THIẾT KỴ, VIẾT TAM QUÂN, KỲ CỔ HUYÊN TRUYỀN CHƠN KHÍ TƯỢNG.

- TRƯỚNG MÔN TAM TỨ BỘ, NHI TRƯỜNG THÀNH, NHI VẠN LÝ, Y QUAN LẪM LIỆT CHẤN OAI NGHI.

(Chỉ vỏn vẹn có 5, 6 chú hiệu, mà gọi là thiết kỵ, là ba quân, cờ trống vang rền, thật khí phách.

Với 3, 4 bức phông cảnh, mà xem như thành dài vạn dặm, cân đai áo mão, rõ oai nghi).

 

* Văn tế tổ ngành hát bộ tỉnh Quảng Nam:

- TỐ CHÂN DIỆN MỤC, TRỌNG GIẢ TINH KHÍ THẦN

- HẠ TỬ CÔNG PHU, CẦU HỒ THANH SẮC THỤC

(Biểu diễn chân thật, phải trọng tinh, khí, thần

Luyện tập công phu, để đạt được thanh, sắc thục).

 

- SẮC DUY SONG NHÃN HỰU SONG THẦN/ BIỀN TIÊN YỂU ĐIỆU THỊ THANH TÂN

KHỨ GIẢ HAO KHAI SONG CƯỚC HẠ/ LAI GIẢ HỒI HOÀN TỐNG THỊ XUÂN

Có sắc là đôi mắt phải có thần, nhanh nhẹn, uyển chuyển là vẻ đẹp thanh tân,

Bước đi phải như có hoa nở dưới chân, vòng lại vòng về đều mang vẻ xuân tươi tắn.

 

- PHÚ QUÝ, VINH HOA, ĐƯƠNG CỤC NHI HÀ PHÂN CHÂN GIẢ

- TRÍ NGU HIỀN PHÚ, ĐÁO ĐƯỜNG NHI LẬP KHÁN NGHIÊM CƯƠNG

(Phú quý, vinh hoa, phải thể hiện cho đúng cái thật, cái giả

Người hiền, người ngu, đến rạp xem mà có thái độ nghiêm chỉnh)


- QUAN VŨ THÍNH CA, NHỠN TIỀN TINH THẦN DỤC DƯỢC

- ĐẮC NGÔN VỌNG TƯỞNG, CẢM TÌNH CÂN NHƯ VŨ YỂM

(Xem múa, nghe hát bày ra trước mặt mà tinh thần sôi sục

Nghe được mà quên cả mình, tình cảm dạt dào như mưa lớn)


- THỐN THỔ THỊ TRIỀU ĐÌNH CHÂU QUẬN

- NHẤT THÂN KIÊM PHỤ TỬ QUÂN THẦN

(Mỗi tấc đất là triều đình, châu quận

Một con người là cả cha con, vua tôi)


- DĨ NHẤT NHÂN THÂN KIÊM THẾ SỰ

- TRẠO TAM THỐN TRIỆT TÚC BÌNH SINH

(Lấy thân mình gồm cả cuộc đời

Uốn ba tấc lưỡi đủ cả cuộc sống)

 

- THUNG DUNG ẨM TỬU, THIÊN BÔI TỬU BẤT TÚY NHÂN

- DŨNG LƯỢC DỤNG BINH, BÁCH CHIẾN BINH VÔ HUYẾT NHẪN

(Uống rượu thích thú, nghìn cốc rượu không làm say con người

Đánh giặc rất quyết liệt, trăm trận đánh không đổ tí máu).

 

* Câu đối treo trước rạp của Đoàn hát bộ Tân thành ban của NSND Nguyễn Lai, năm 1940:

- TÂN THỜI KHỞI CẢM XU TRÌ HẬU

- THÀNH SỰ DUY BẰNG TÁNG TRỢ ĐA

(Tân thời há dám chùn chân lại

Thành sự còn mong giúp sức nhiều)"

Những ngày này, vẫn đọc lai rai. Do chú tâm đến chuyện ngữ nghĩa tiếng Việt, vì thế, đọc luôn cả loại sách hướng dẫn viết làm sao cho đúng chính tả. Đọc xong mới rút ra kết luận: Rất khó viết đúng chính tả, dù các nhà ngôn ngữ học đã nhọc công, tận tình biên soạn, hướng dẫn viết đúng hỏi, ngã nhưng nói thật cũng cảm thấy rối như mớ bòng bong. Dù đã nắm được các quy luật nhưng than ôi cũng còn có ngoại lệ, chưa kể có những từ mà mỗi sách lại viết hỏi, ngã khác nhau.

Chẳng hạn, “duẫn” là tiếng Việt gốc Hán có nghĩa “Măng tre - Tre non - Cái cây ngang để treo chuông khánh”, cụ Đào Duy Anh giải thích trong Hán - Việt từ điển và viết dấu ngã. Thế nhưng vẫn có người sử dụng dấu hỏi, vậy “duẩn” là từ thuần Việt chăng? Nếu thế, “duẩn” nghĩa là gì? Thêm một thí dụ khác, phãng /phảng: “Công cụ có lưỡi bằng sắt to bản, được uốn cong ở phần cán, cán ngắn vừa tay cầm, dùng để phát cỏ ruộng” (Từ điển từ ngữ Nam Bộ - Huỳnh Công Tín). Nó viết dấu hỏi hay dấu ngã? Việt ngữ chánh tả tự vị (Lê Ngọc Trụ), Tự điển dấu hỏi, dấu ngã (Đào Văn Hội) viết dấu “ngã”, Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên), Từ điển từ ngữ Nam bộ (Huỳnh Công Tín) viết đấu “hỏi”; các ông nhà văn, nhà thơ Sơn Nam, Quách Tấn cho rằng dấu ngã; nhưng ông Nguyễn Hiến Lê lại có lúc thừa nhận nó dấu ngã nhưng lại “viết bậy” dấu hỏi v.v… 

Thôi thì, để viết đúng chính tả có lẽ cách tốt nhất là cứ kè kè quyển từ điển bên hông, hễ cần là tra cứu. Ai chê dốt thì chịu, như thế, chắc ăn hơn.

Chà, còn nhiều dẫn chứng khác nữa. Chẳng hạn, trong tiếng Việt có những tiếng hai từ đi chung với nhau nhưng từ sau, ta không rõ nghĩa. Trong Việt ngữ nghiên cứu, nhà văn hóa Phan Khôi gọi “tiếng đệm”; nhà ngôn ngữ học Lê Ngọc Trụ gọi “tiếng đôi”. Có những tiếng tồn tại đến nay, không phải ai cũng rõ nghĩa: heo cúi, chùa chiền, hạch hỏi, đường sá, làng mạc, vườn tược, làm lụng, chơi bời, đất đai, tre pheo, gà qué, tiền nong, làm lụng, người ngợm, hút xách, chó má, hạch hỏi, phu phen, bếp núc, áo xống v.v…

Những từ đó, cả ông Phan Khôi và Lê Ngọc Trụ đều cho rằng nó có nghĩa, hoặc nó được “đệm” thêm dẫn đến một nghĩa khác có sắc thái khác. Tuy nhiên, cũng từ đó, nhưng cách giải thích lại khác nhau. “Chim chuột”: Chim là ve vãn, mà đồng âm với chim là con chim. Đệm chữ "chuột" là con chuột vào để tỏ ý phiếm và cũng có ý hài hước. Chữ chuột này ở đây mất cái nghĩa là con chuột đi, chỉ là tiếng đệm (Phan Khôi); “Chim chuột”: Do câu “điểu thử cộng vi thư hùng” = chim chuột cùng làm trống mái với nhau; trai gái phải lòng nhau (Lê Ngọc Trụ);

“Chó má”:  Chó má: Người Tầy gọi con chó là "tu ma", cái thành từ "chó má" của ta, tiếng "má" ấy có lẽ bởi tiếng "ma" của Tầy mà ra; có một số danh từ của Tầy giống của ta lắm” (Phan Khôi); nhà dân tộc học, ngôn ngữ học Nguyễn Bạt Tụy lại cho rằng: “má” gốc tiếng Thái cùng có nghĩa là chó” (dẫn theo Việt ngữ tinh nghĩa từ điển của Long Điền - NXB Hoa Tiên - 1952).

“Tre pheo”, Đại từ điển tiếng Việt giải thích “tre nói chung”; ông Phan Khôi cho rằng “pheo là một thứ tre xấu”; ông Lê Gia trong Tiếng nói nôm na: “Pheo, do chữ “phiêu” là nổi lênh đênh. Tre pheo: Bụi tre cao, gió thổi lắt lay”.

Chỉ mới vài từ thôi, đã thấy rắc rối. Chính vì thế, có những câu thành ngữ, tục ngữ đến này mỗi người hiểu một phách là lẽ thường tình. Dùi đục chấm mắm cáy/ Bầu dục chấm mắm cáy; chân đăm đá chân chiêu/ chân nam đá chân chiêu; râu ông nọ cắm cằm bà kia/ dâu ông nọ chăn tằm bà kia; vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm/ vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm; cao chạy xa bay/ xa chạy cao bay; ra ngô ra khoai/ ra môn ra khoai; lo sốt vó/ lo sút vó; tai vách mạch dừng/ tai vách mạch rừng; ôm rơm rặm bụng/ ôm rơm nặng bụng v.v… Câu nào mới đúng và hiểu thế nào là đúng? Trước mắt cứ ghi ra thế. Sau này, có dịp thì tìm hiểu thêm, bằng không cũng là những gợi ý nho nhỏ cho ai khác thích thì tìm hiểu sâu hơn. Thì thế, cứ viết nhì nhằng cũng là một cách giết cho xong cái thời gian của chiều ngày chủ nhật vậy. Ừ, tiện tay, ghi thêm một ai giải thích mới về từ ngữ có tính chất thời sự:

Sáng 4.3.2016, Bí thư Thành ủy TP.HCM Đinh La Thăng có làm việc với Học viện Cán bộ TP.HCM: “Trao đổi với Bí thư Thành ủy, TS Nguyễn Việt Hùng - phó bí thư Đảng ủy, trưởng Khoa Xây dựng Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Cán bộ TP.HCM chia sẻ: “30 năm làm việc ở trường này, tôi có kinh nghiệm là đào tạo hệ tại chức thì chất lượng sinh viên thấp. Chúng ta đang lạc hậu với chính mình. Thời phong kiến người ta có trường hậu bổ. Tức là đào tạo xong mới về làm quan còn nay cứ bổ nhiệm xong rồi chuẩn hóa. Nên tại chức là tại cái chức mà đi học thôi”.

Một định nghĩa mới về “học tại chức” nghe lọt tai quá. Hèn chi trước đây, có câu: “Dốt như chuyên tu, ngu như tại chức”. “Tại cái chức mà đi học” chứ đâu phải vì động cơ nâng cao trình độ, rèn luyện chuyên môn, mở mang tri thức… Vậy, lòng dạ đâu mà tiếp thu kiến thức? Lại nữa, trước kia có thành ngữ: Mua trấu bán tro; mua vôi củ, bán vôi bột; mua bò vẽ bóng; mua trâu bán chả v.v… có thể hiểu đại khái phê phán cách tính toán làm ăn, mua bán vụng về, kém cỏi, ngu ngốc nên bị thua đậm. Nay, có câu: “Mua ụ nổi, bán sắt vụn”, nếu nó phổ biến và tồn tại theo thời gian, vài đời sau nữa chắc gì ai đã nhớ là nó ra đời từ phi vụ “con tàu” Vinashin-Vinalines?

Vậy mới nghĩ rằng, các thành ngữ, tục ngữ đã hình thành từ xa xưa và tồn tại đến nay cũng vậy thôi, ta biết nghĩa đen, nghĩa bóng nhưng cụ thể nó ra đời trong hoàn cảnh cụ thể ra làm sao thì chịu.

Chiều rồi. Rồi cũng xong một ngày.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 4.3.2016

 

gieo-hat-tho-le-minh-quoc

 

Những ngày này, mẹ đã về quê. Thế là tự cơm nước. Loay hoay bếp núc thế nào mà đã làm bể hết mấy cái tô, cái chén. Không gian bếp núc lúc có mẹ, gọn gàng, ngắn nắp, sạch sẽ là thế, “nhìn bếp biết nết đàn bà”, nay ngổn ngang như bãi chiến trường. Khổ nổi, trưa nào cũng phải về nhà, đã thành thói quen, phải ăn cơm rồi ngủ. Vì thế, nay tự loay hoay phải bếp với núc, phải nấu với nướng. Chẳng ra làm sao.

Trưa nay thức dậy, cũng như mọi ngày, vớ tay lấy những sách báo đang la liệt, lổn nhổn trên giường nằm. Tạp chí Thơ số 1&2.2016 lọt vào tầm tay. Số này in dày gấp đôi vì phát hành vào dịp Tết, nhưng nay mới nhận được. Nhà phê bình Hồng Diệu có bài viết Mười bài thơ chưa in của nhà thơ Xuân Diệu. In cả thủ bút của tác giả Gửi hương cho gió. Thích câu thơ này: “Lắm lúc nhìn em sững mắt anh/ Cám ơn em đã đón anh nhìn/ Anh nhìn như thể rơi con mắt/  Và cả thời gian cũng đứng im”. 10 bài thơ này Xuân Diệu viết trong khoảng năm 1973, và là quà tặng nhân ngày Hồng Diệu cưới vợ. Ngẫm cũng hay. Những quà tặng khác từ năm 1974, có lẽ đến nay chắc không còn mà còn giữ được bút tích này là quý lắm đây. Thế thì, lúc đám cưới nếu mời nhà văn, nhà thơ, nói tóm lại  ta cần họ tặng cái gì? Tiền tươi thóc thật, quà mua ngoài siêu thị hay những bút tích tác phẩm của họ? Y tự thế thôi, chứ làm gì còn có cơ hội nữa. Đừng có mà mơ.

Trở lại với mấy câu thơ trên, thích câu thứ 3: “Anh nhìn như thể rơi con mắt”. Một cách nói ấn tượng. Đọc một lần, nhớ mãi. Trước đây, từng sững người với câu ca dao: “Xa nhau đã mấy thu tròn/ Nhớ em, anh khóc đã mòn con ngươi”. Khóc đến độ mòn con ngươi, cách nói ấy, dịu vợi, mới mẽ, tài tình đến lạ thường. Nước chảy đá mòn. Nước mắt chảy dầm dề lúc khóc, dẫu khóc ngày đêm nhưng con ngươi cũng không thể mòn. Biết là thế, người đọc vẫn chấp nhận một cách nói đã chuyển tải trọn vẹn “tín hiệu” thương nhớ đến tột cùng. Lại nữa, còn có câu này: “Vách thành cao lắm khó dòm/ Nhớ em, anh khóc đỏ lòm con ngươi”. Đọc từ văn bản với chữ “dòm”, chắc chắn người đang khóc phải là cô gái Trung, Nam bộ.

Em là con gái Phú Nhi

Bánh đúc bỏ bị vừa đi vừa nhòm

Phú Nhi là là chuyên làm đồ gốm ở huyện Phúc Thọ (Sơn Tây). Đồng nghĩa với "nhòm/ dòm” còn có nhìn, liếc, ngó, coi, trông, nghía… Cả thẩy đều dẫn đến kết quả là thấy một cái gì đó, hoặc thấy rõ ràng, rõ mồn một; hoặc cũng có thể chỉ thấy thoáng quá.

Thử xem, ngoài “đỏ lòm” con có bao nhiêu từ chỉ sắc màu đỏ? Này nhá: đỏ chót, đỏ chói, đỏ cháy, đỏ loét, đỏ lưỡng, đỏ lói, đỏ lòe, đỏ lỏm, đỏ lỏn, đỏ hỏn, đỏ lừ, đở ngầu, đỏ nọc, đỏ ối, đỏ tươi, đỏ giọi, đỏ thắm, đỏ điều, đỏ au, đỏ gay, đỏ cạch, đỏ chạch, đỏ ửng, đỏ bầm, đỏ đắn, đỏ hoe, đỏ khè, đỏ khé, đỏ rần, đỏ quạch…; còn nữa: đỏ au au, đỏ hồng hồng, đỏ loen loét, đỏ chon chót, đỏ đòng đọc, đỏ như son, đỏ hon hỏn, đỏ quành quạch, đỏ như gấc, đỏ lòm lom…; vẫn còn nữa: đỏ như hoa vông, đỏ như râu ngô, đỏ gay đỏ gắt, đỏ như quả bồ quân, đỏ như mặt trời mọc, đỏ như đồng hun, đỏ lơ đỏ lưỡng v.v…

Vách thành cao lắm khó dòm

Nhớ em, anh khóc đỏ lòm con ngươi

Đọc đến câu này, sực nhớ đến câu khác:

Cá trong lờ đỏ hoe con mắt

Cá ngoài lờ ngúc ngắc muốn vô

Tạm liệt kê đến đây, tạm đủ chất liệu cho bài viết Lắt léo tiếng Việt khi bàn về ngữ nghĩa của màu đỏ. Đã đỏ ắt có đen. Lâu nay, câu thơ Kiều: “Tuồng chi hoa thải hương thừa/ Mượn màu son phấn đánh lừa con đen”. Hiểu thế nào về “con đen” trong câu thơ này? Không riêng gì cụ Đào Duy Anh, nhiều bản Kiều đã in đều giải thích: “Con đen: Chỉ người dân đen, người khờ dại, liên hệ với con đỏ hay xích tử chỉ người dân nghèo khổ trần trụi”. Trong ngữ cảnh của câu thơ trên, xem ra không hợp lý. “Hoa thải hương thừa”, ai cũng hiểu nhằm chỉ loại đàn bà con gái không ra gì, không còn tiết hạnh như bông hoa đã hết “date”, bỏ đi, chẳng ai thèm ngó ngàng gì tới nữa. Đã thế, còn mượn  màu son phấn để đánh lừa “người dân đen, người khờ dại” à? Vô lý, sao không đánh lừa kẻ giàu sang, phú quý, quyền cao chức trọng để kiếm chút cháo có hơn không, chứ với “con đen” thì được nước nôi gì?

Suy luận như thế có đúng không? Đúng lắm. Bằng chứng từ điển của ông Huình Tịnh Paulus Của giải thích: “Con đen: con ngươi, tròng đen”. Thế thì, “Mượn màu son phấn đánh lừa con đen” là đánh lừa con mắt nhìn của người khác, bất luận người đó là ai. Và nó cũng chẳng liên quan gì đến “con đen” theo nghĩa chỉ hạng dân nghèo hèn.

Tiếng Việt rắc rối quá.

Sáng nay, tranh luận với người bạn về địa danh chợ Cây Da Sà. Viết Sà hay Xà? Mà khổ nổi “sà” hay “xà” đều có nghĩa. Sà: nó được đặt tên là do nhánh da trĩu xuống, lả xuống, sà xuống; xà: có thể hiểu cây đa đó có nhiều rắn. Vậy đâu là đúng? Gọi điện thoại hỏi vài anh em, mỗi người trả lời một phách. Chỉ có cái điện thoại đã nối mạng internet, thôi, bèn nhờ cậy ông Google. Nào ngờ trên mạng cũng không thống nhất, “sà” và “xà” loạn xà ngầu.  Vì thế, bèn quay về nhà lật sách xem sao.

Rằng, phải “sà” mới là đúng.

1. Cây đa mọc ở chợ, (nên mới “chết tên” chợ Cây Da Sà), nếu nó nhiều rắn, chắc chắn thiên hạ đã đốn mất tiêu rồi, làm quái gì còn tồn tại nữa?

2. Đọc lại Gia Định phong cảnh vịnh của cụ Trương Vĩnh Ký (1882) có câu: “Cây da Thằng Mọi/ Coi bán đủ thuốc xiêm, cầu mít”, chú thích: “Cây da Thằng Mọi là chợ ở thân trong chợ Điều Khiển, thân ngoài Nước Nhỉ, đường vô Chợ Lớn”. Chợ ấy lối cây da có họ bán hình thằng Mọi bằng đất bưng thắp đèn”; lại còn thêm câu này nữa: “Trên cây Da Còm nỡ để ông già gùi đội” (chú thích: Chợ Da Còm, đường Chợ Lớn ra Bến Thành, chợ ở ngoài Chợ Dũi”. Nhưng tại sao gọi “Da Còm”? Cụ Trương Vĩnh Ký không giải thích. Bèn tìm đọc Sài Gòn năm xưa của cụ Vương Hồng Sển, có đoạn: “Chợ Da Còm tức là chợ nhóm dưới gốc một cây da nhánh còm, lá gie khòm xuống mặt đất” (SĐD, Khai Trí XB năm 1968-tr.142). Qua hai thí dụ trên, có thể rút ra: Từ những gì đã thấy, cụ thể từ hình thể của hai cây da trên mà người ta gọi luôn cho dễ nhớ. Chứ chẳng phải vì có “xà”, có rắn gì ở đây cả.

Nói quả quyết thế, vẫn chưa yên tâm, vì chỉ là sự suy luận. Bèn lật quyển Sài Gòn đất và người (NXB Tổng hợp TP.HCM - 2015) của anh bạn Nguyễn Thanh Lợi xem sao? Anh giải thích: Cây da ở đường Bà Hom (quận 6), trước mặt chợ Phú Lâm mới, vốn là cây da sà (da si, ngừa) bị đọc chệch thành cây da sà. Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Chấp, 75 tuổi, thư ký đình Nghi Hòa, ngụ cư đã 4 đời thì trước đây, ở gần ngã tư Cây Da Sà có một cây da tuổi ước mấy trăm năm. Cây da này rất lớn, đường kính cũng phải vài người ôm, tàng cây phủ rộng vài chục mét, có nhiều nhánh sà xuống. Trong đó, có một nhanh mà rễ cái của nó đường kính đến một người ôm. Bên dưới có ngôi miếu Ngũ Hành. Năm 1956, cây da này chết và ngôi miếu theo đó cũng sụp đổ (SĐD, tr.53).

Cách lý giải có khác nhau, nhưng rõ ràng gọi Cây Da Sà là chính xác. À, trên Google/ maps cũng ghi Chợ Cây Da Sà.

Tiếng Việt rắc rối quá.

Chiều hôm qua, đọc trên Facebook của anh bạn Vương Công Đức, tác giả Trảng Bàng Phương chí có thông tin này cũng lý thú không kém: “Tối qua, tình cờ xem bộ phim tài liệu "Lịch sử biển đảo VN" chiếu trên đài Truyền hình VTV2, phim có chạy chữ tiếng Anh dịch cho nội dung phim và phần phát biểu của ông anh thân thiết - nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Lợi diễn giải về phong tục thờ cúng Cá Ông ở Cần Giờ và Phan Thiết. Không biết nghĩ sao mà nhà đài VTV2 dịch chữ "xin keo" trong tập tục cầu khẩn thần linh của ngư dân ở Cần Giờ được sang tiếng Anh là "ask glue". Theo đó ask tức là xin, còn glue là keo, hay keo dán (chẳng hạn như keo dán sắt 502 vậy)! Thế chẳng khác nào xin keo có nghĩa là đi "xin miếng keo dán" vậy(?).

"Theo ý nghĩa chữ keo trong dân gian, keo có nghĩa đen là lần, lượt... ví dụ như "thua keo này, bày keo khác", hoặc có nghĩa đen khác: con keo tức miếng gỗ nhỏ; còn nghĩa bóng là cơ hội, sự cho phép... Vì vậy không biết các bạn giỏi tiếng Anh dịch như thế nào, chứ theo tôi nên dịch theo nghĩa cảnh là "ask a permission" hoặc "ask a chance"... (Nnói thêm: xin keo trong tập tục dân gian (thường làm ở đình, chùa, đền, miếu...) là việc cầu khẩn thánh thần cho phép làm một việc gì đó quan trọng bằng cách người xin cầm 2 miếng gỗ nhỏ có 2 mặt khác nhau tượng trưng Âm Dương tung lên rớt xuống, nếu một sắp một ngữa (một Âm một Dương) là đặng (được), còn nếu cả 2 cùng sắp (Dương) hay cùng ngữa (Âm) là không đặng. Riêng nếu cả 2 cùng ngữa thì có thể xin lại keo khác, vì thánh thần chưa rõ ta muốn gì hay thử thách sự kiên trì của người xin)".

Nhân đây, xin bổ sung, "xin keo" còn gọi "xin âm dương". Ngoài miền Trung, chẳng hạn, ở nhà y không dùng "2 miếng gỗ nhỏ có 2 mặt khác nhau tượng trưng Âm Dương", đơn giản hơn, chỉ dùng 2 đồng tiền kẽm ngày xưa, giữa có lỗ hình vuông, bôi vôi trắng  vào 1 mặt của 2 đồng tiền đó để sử dụng lúc "xin keo".

Tóm lại. Ơ hay, câu chuyện đang hay kia mà, sao lại "tóm lại"? Nhưng "tóm lại" cái gì vậy Q?

Thưa, bàn chuyện chữ nghĩa lằng nhằng trong trong lúc cà phê cà phê cà pháo, cà kê dê ngỗng, con cà con kê, tóm lại bao giờ cũng có sự lý thú của nó.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 2.3.2016

tinh-nho-got-sen

 

Đọc lại Số đỏ, chắc hẳn ai lại không phì cười trước cảnh ngộ đáo để: Trong lúc Tuyết, một cô gái tân thời đang tung tăng trong vườn hoa, có chàng thi sĩ lẽo đẽo theo sau: “đôi mắt lờ đờ, cái thân thể ốm o lẩn trong bộ Âu phục quần chân voi, cứ đăm đăm chiêu chiêu nhìn Tuyết”. Và… ngâm thơ: “Chẳng được như hoa vướng gót ai/ Lòng ta man mác tả tơi thay/ Vội vàng nhặt lấy bông hoa nát/ Ðể áp cho lòng nỗi đắm say!”. Lúc ấy, Xuân Tóc Đỏ đi bên cạnh Tuyết, chẳng lẽ im lặng để mặc cho “tình địch” sử dụng thơ chiếm lấy trái tim trinh nguyên của nàng ư? Không, Xuân Tóc Đỏ cũng há mồm ra đọc thơ, xem ra hiệu quả lắm, nếu không, sức mấy Tuyết thốt lên khen: “Giời ơi, anh là một bậc kỳ tài! Thật là xuất khẩu thành chương”?

Nhắc lại chi tiết này, dù dẫn chừng từ tiểu thuyết trào phúng, nhưng rõ ràng, Vũ Trọng Phụng đã lấy xây dựng tình tiết từ cuộc đời thật. Nghĩa là, tỏ tình bằng thơ trước đây phổ biến và nay, chưa chắc đã mất đi.

Một trong những câu thơ hay nhất của Lưu Trọng Lư: “Em chỉ là người em gái thôi/ Người em sầu mộng của muôn đời/ Tình em như tuyết giăng đầu núi/ Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời” - chính là thơ tỏ tình dành cô nữ sinh Phùng Thị Cúc, 17 tuổi học trường Thăng Long (Hà Nội). Sau này, cô sẽ là nhà điêu khắc lừng danh năm châu bốn biển: Điềm Phùng Thị. Từ những vần thơ thời thanh niên, mãi vài chục năm sau, khi gặp lại, cả hai đều đã lập gia thất, trong hồi ký Nửa đêm sực tỉnh, Lưu Trọng Lư kể: “Hôm ấy Nguyễn Tuân dắt Cúc lại ngồi bàn với tôi và vợ tôi là Mừng, Tuân cười xì xì: “Đây rồi, đối mặt thì ngâm gì thì ngâm đi”. Tất cả chúng tôi cùng cười với nhau vui vẻ, tưởng chừng như cuộc sống chẳng có điều gì xẩy ra, có khi như thật mà như đùa vậy”.

Vâng, cuộc sống nó vốn thế, cứ diễn ra mọi điều, có thể lúc mình không toại nguyện, nhưng về sau, ngẫm lại, biết đâu lại hay.

Nghĩ rằng, đọc một bài thơ nếu biết thêm cảm hứng của tác giả bắt đầu từ hình bóng nào ắt cũng thú vị. Ông Hồ Dzếnh bảo rằng: “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở”, có lẽ chữ “đẹp” ở đây chính là cảm hứng, sự hưng phấn của nhà thơ lúc đang đeo đuổi người tình chăng? Mà một khi đang đeo đuổi, đang tán tỉnh, đang lên bờ xuống ruộng, đang hồn xiêu phách lạc, đang “như đứng trên lửa, như ngồi đống than”, đang thầm thương trộm nhớ thì cảm xúc thơ mới dạt dào như sóng vỗ. Những bài thơ nồng nhiệt yêu đương ấy, người nhận sẽ xiêu lòng chăng?

Chưa chắc.

Khi đang là sinh viên năm thứ hai, y đã chết mê chết mệt với một nữ sinh viên khóa trước, được giữ lại trường, học tiếp làm giảng viên. Trời, nghe giọng nói Mỹ Tho mà cứ ngỡ như uống nước dừa xiêm. Làm thế nào để bày tỏ tình cảm? Chỉ có thơ. Một trong những bài thơ y viết cho nàng năm tháng ấy, Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương, sau này nhiều người yêu thích: “Tình yêu làm nắng hạ hóa mưa xuân/ Có phải tôi về nên mùa này mưa vội?/ Qua kênh Chợ Gạo một chiều bão nổi/ Đôi mắt tôi chìm trong đôi mắt của em…”. Còn nhớ, buổi chiều hôm đó trời mưa tầm tả, y và bạn học Trương Nam Hương đã đi chung chiếc xe đạp sườn ngang lên nơi nhà nàng đang ở trọ để trao thư. Con đường Phạm Viết Chánh ấy, làm sao có thể quên?

Khi đến nơi, ướt như chuột lột, mặc tiếng gọi đến khản giọng nhưng cửa nhà vẫn im ỉm đóng. Đành bỏ bài thơ vào bao ni lông cho khỏi ướt, rồi ném luôn vào trong sân. Vài ngày sau, tình cờ gặp nhau, nàng bảo: “Em trả lại bài thơ cho anh đây. Em đã đính hôn rồi. Anh ấy cũng bộ đội xuất ngũ như anh”. Chính câu cuối cùng khiến y tự ý thức phải rút lui. Chẳng lẽ lại tán tỉnh một đồng đội, dù chưa gặp mặt nhưng cũng đã trải qua chiến tranh như mình? Vì thế, trong bài thơ Bài ca từ biệt mới có câu: “Tôi mường tượng dáng em về yểu điệu/ Lúc con sông bẽn lẽn áo vu quy/ Chim chóc ơi bay về đây uống rượu/ Chia sớt cùng tôi men đắng buổi chia ly…”.

Bẵng đi một thời gian dài, ngày nọ có một bạn đọc nam đến Báo Phụ Nữ TP.HCM tìm gặp y. Thật ngạc nhiên khi anh đưa Thiệp cưới và mời dự. Ngạc nhiên quá, y có quen biết gì đâu. Sau một lúc trò chuyện, anh cho biết đã chép bài thơ Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương nhằm “thay lời muốn nói”. Không ngờ, cô bạn gái gật đầu cái rụp. Một phần do thơ, còn một phần do nội dung nói đúng tâm trạng của chàng trai miền Trung yêu cô gái Tiền Giang. Anh kể: “Vợ sắp cưới của tôi tâm sự là bị “đốn ngã” bởi mấy câu này: “Đừng ví tôi như sỏi đá miền Trung/ Tình yêu đến ai không nghe cỏ hát?/ Tôi vội vã vì trong ruột đất/ Mẹ tôi gieo hạt lúa phải còng lưng”. Cô ta bảo đọc xong thương… tôi quá”.

Thế đấy, có những bài thơ đã viết, chính tác giả thất bại, trái tim giai nhân không run rẩy, xúc động mảy may nhưng lại ép-phê người tình của kẻ khác. Đúng. Làm sao có thể “thống kê” đầy đủ bao nhiêu người trải qua nhiều thệ hệ đã mượn thơ Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê, Bùi Chí Vinh, Trương Nam Hương, Nguyễn Nhật Ánh… để thổ lộ tâm tình? Và bao nhiêu người đã nhờ vần thơ ấy mà nên duyên vợ chồng?

Trong vòng hơn 20 năm đã in đến chục tập thơ, từ Trong cõi chiêm bao đến Thơ tình của Quốc, qua đó, có bao nhiêu bài thơ đã viết riêng cho những ai đó? Khó có thể đếm hết, dầu rằng vẫn còn nhớ như in từng nhan sắc ấy. Nhưng rồi, y nghiệm ra rằng, thơ không là gì cả. Những bài thơ ban đầu được gửi đi, có thể vọng về một tín hiệu nào đó, nhưng thơ không là tất cả. Ngoài thơ, tình yêu còn đòi hỏi nhiều yếu tố khác nữa. Nhiều lắm. Đôi lúc, người thơ không đáp ứng nổi, chẳng gì to tát, có thể chỉ là món quà ngày sinh nhật, câu nhắc chúc mừng ngày lễ Valentin, 8.3 chẳng hạn, nhưng rồi lơ đễnh, đễnh đoảng, lơ tơ mơ với thơ nên lại quên khuấy. Thế là bao nhiêu công sức tỏ tình bằng vần điệu du dương trở thành công cốc.

Đến một lúc nào đó, bản thân nhà thơ cũng không còn viết những bài thơ tỏ tình như thời trẻ nữa. Đơn giản, họ đã “yên bề gia thất”. Một lời hẹn hò, tỏ tình hết dám thốt ra; một chút say nắng cũng không; làm sao dám tung tăng, bay nhảy như thời trẻ? "chỉ cần nghe gió hát trên môi/ mây trời bay thấp thoáng/ bóng hồng khác lại khiến anh choáng váng/ săn đuổi theo bằng cảm xúc huy hoàng/ như lần đầu tiên/ như lần thứ nhất/ cũng đắm say đầu mày cuối mắt". Đã hết dám rồi. Hôm nọ, y bảo nhà văn Đoàn Thạch Biền: “Bây giờ Q sống nhẹ nhàng lắm. Nếu cái gì của mình ắt của mình, bằng không chẳng gì phải dằn vặt, đớn đau, thổn thức, mất ăn mất ngủ như trước. Tuyệt quá, phải không anh?”. Ông nhà văn Tình nhỏ làm sao quên cười mà rằng: “Thế, liệu còn có thơ?”.

Mà thôi. Thời tuổi trẻ đã xa rồi.

Đọc lại những bài thơ đã viết, chẳng thể lý giải vì sao, lúc ấy, thời điểm ấy, với người này, người nọ mình phải buột miệng thốt lên đau đớn: “Anh đi tìm trong bụi bặm lao xao/ Một tình yêu đang rụt rè bước đến/ Mọi sự vật anh đều nhìn lơ đễnh/ Đi giữa đám đông mà thắp đuốc tìm người/ Chẳng nhìn thấy ai trong dục vọng chợ đời /Anh tìm được anh bơ vơ như trẻ lạc”.

Tự dưng, thương quá.

Thương lấy tuổi trẻ và tình yêu vô tội của chính mình.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 19.2.2016

 

ngy-tho-nguyen-tieu-2016

 

Tại miền Nam, Kim, Vân, Kiều truyện của Trương Vĩnh Ký là văn bản chữ Quốc ngữ đầu tiên. Lâu nay cứ tưởng Truyện Thúy Kiều do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo, in lần đầu 1925 là văn bản Kiều chữ Quốc ngữ đầu tiên in ở miền Bắc. Không phải, ở miền Bắc phải kể đến Kim Vân Kiều tân truyện của E.Nordemann in năm 1897. Vài năm trước, NXB Hội Nhà văn có tái bản quyển Quảng tập viêm văn (Annam văn tập) cũng của tác giả này, in lần đầu vào năm 1898, ngoài bìa ghi rõ “Dáo học Ngô Đê Mân chích lục”. Có thể hiểu “dáo”: giáo; “chích”: trích. Ông Nordemann là ai? Nói tắt một lời, ngày 1.4.1892 tại số nhà 59, phố Rue des Eventails, Hà Nội, Hội Trí Tri được thành lập theo sáng kiến của một số thông ngôn và giáo viên tiểu học bản xứ, với mục đích ban đầu là cùng trau giồi kiến thức và ngôn ngữ Pháp. Trong số các sáng lập viên của Hội có ông Nordemann - giáo viên tiểu học, sau này là Chánh Sở Học chính Trung Kỳ. Trụ sở của Hội Trí Trí về sau Trung tâm Giáo dục thường xuyên Nguyễn Văn Tố, số 47 phố Hàng Quạt, Hà Nội.

Có những điều lâu nay cứ tưởng là thế, tin là thế nhưng rồi đến một lúc lại cảm thấy trật lấc. Ngày kia, chừng mười năm trước có ghé sang Hội Nhà văn TP.HCM chơi. Lão nhà văn già bảo, về cuối đời sẽ viết lại cảm nhận của ông về Sài Gòn. Bèn hỏi, tại sao thế? Ông trả lời, ngày còn ở trong rừng chỉ qua sách báo, thông tin tuyên truyền cứ nghĩ “hòn ngọc Viễn Đông” thế này, nhưng khi đã sống lại phát hiện ra không hẳn, nó không thế này mà lại thế khác. Do đó, ông nhà văn lão thành này đã có những cảm nhận khác. Thế đấy. Nhận thức của mỗi người, có sự thay đổi cũng là lẽ tất nhiên. Hơn nhau, khác nhau ở chỗ là có dám trình bày lại lại sự thay đổi ấy hay không? Khó lắm.

Lâu nay, đã hiểu về chữ “chán chường” trong Truyện Kiều như giải thích của học giả Đào Duy Anh: “1. Đã trải qua nhiều rồi, không thích, không thú nữa, ví dụ: Quá chiều nên đã chán chường yến oanh; 2. Đã trải nhiều, không biết xấu hổ nữa; ví dụ Cổi xiêm lột áo chán chường”. Mà “chán chường” còn tạo nên cảm giác về một việc gì mà nình đã ngao ngán, chán ngán, đã bưa lắm rồi. Thế nhưng, ở thế kỷ trước, cụ thể những năm 1895-1896, năm ấn hành quyển Đại Nam Quấc âm tự vị, Huình Tịnh Paulus Của lại giải thích “chán chường” như sau: “no nê, vừa bộn, nhàm lờn. Chán chường: tỏ tường, bày ra trước mắt; thấy chán chường: thấy tỏ rõ; chán việc: nhiều việc, bộn việc; no chán: no rồi; ăn chán: ăn đầy bụng, hết muốn ăn; chán đồ ăn: chẳng thiếu chi đồ ăn; chán hê: nhiều lắm, dư ra; chán rồi: nhàm rồi; biết chán: biết dư, biết nhàm (tr.120).

Từ giải thích trên, có lẽ nhiều người đồng tình với với ý kiến của “nhà Kiều học” Nguyễn Quảng Tuân: “Cổi xiêm lột áo chán chường” là cởi lột áo xiêm bày ra trước mắt cho mọi người thấy. Nếu thế, câu thơ chỉ miêu tả hành động của Kiều chứ không ngụ ý cảm xúc của Kiều về việc làm đó. Giải thích như thế là đúng, vì lúc ấy, Kiều về tới Lâm Truy, bước vào “lầu xanh” và có một vài nhận xét đầu tiên. Nàng nhận xét từ mụ Tú “ăn gì to lớn đẫy đà làm sao” tới “Giữa thì hương án hẳn hoi/ Trên treo một tượng trắng đôi lông mày“. Nơi đó, các cô gái hành nghề buôn hương bán phấn: “Cởi xiêm lột áo chán chường/ Trước thần sẽ nguyện mảnh hương lầm rầm/ Đổi hoa lót xuống chiếu nằm/ Bướm hoa bay lại ầm ầm tứ vi”. Rõ ràng, lúc ấy Kiều chưa hề trải qua cảm giác " Đã trải nhiều, không biết xấu hổ nữa" như cụ Đào Duy Anh đã chú giải.

Đọc từ điển cũng có cái thú của nó đấy chứ?

Nhắc lại chi tiết nhỏ này bởi mấy ngày Tết vừa rồi về quê, nàng hỏi, anh có có đem sách gì theo đọc không? Tất nhiên có. Đó lá quyển Đồng âm dẫn giải và mẹo luật chính tả của Trần Văn Thanh, Việt Nam tu thư xuất bản tại miền Nam năm 1963. Nào ngờ, nàng nhăn mặt một cách kinh ngạc: “Thế à? Thế à?” cứ là như từ điển là loại sách không thể dùng để đọc giải trí. Nhiều người cũng có quan niệm đó, bởi loại sách này khô khan, chỉ dành phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập. Nghĩ thế thôi, cứ chịu khó lật từ điển đọc vài trang mỗi ngày mới vỡ lẽ ra nhiều điều lý thú chán!

Mới tối hôm qua, nàng bảo, anh phải siêng năng tập thể dục, ăn uống đầy đủ, chứ ốm tong, ốm teo, ốm như cà tong thì trông mất phong độ quá.  “Ốm” là “gầy”. Nghe câu “ốm như cà tong” nhưng thú thật “cà tong” là gì thì chịu chết. Nó cũng là một loại cò chăng? Nghĩ thế vì sực nhớ đến câu “ốm như cò ma”, bài vè Nam bộ cũng có câu: "dáng đi vất vưởng/ như thể cò ma"? Nó cũng là một loại như trái cà chăng? Nghĩ thế vì sực nhớ đến một loại cà dài ngoằng, ốm teo có cái tên cực kỳ oanh liệt là “cà dái dê”. Nó còn gọi “cà tím”, nướng lên, cho thêm một ít hành mỡ nữa rồi chấm nước mắm thì ngon tuyệt. Ca dao Nam bộ có câu:

Nên thì lập kiểng trồng hoa,
Chẳng nên đá kiểng trồng cà dái dê
Chẳng nên thiếp trở lộn về,
Dưỡng nuôi từ mẫu trọn bề hiếu trung

“Kiểng” là “cảnh”. Có cách giải thích là do kiêng âm "Cảnh" trong húy của Nguyễn Phúc Cảnh nên đọc thành "kiểng"; hoặc do con trai của vua Gia Long tên là Cảnh nên mới có biến âm đó. "Muốn làm kiểng lấy gái Sài Gòn/ Muốn ăn mắm cái, lấy gái đen giòn Bạc Liêu".  Cây cảnh/ cây kiểng; làm cảnh/ làm kiểng; cá cảnh/ cá kiểng; lính cảnh/ lính kiểng v.v… Lính cảnh không phải xông pha ra trận, đối mặt vơi hòn tên mũi đạn, chỉ ở hậu phương làm những việc phục dịch việc vặt, ngồi bàn giấy. Có một điều thú vị không rõ từ bao giờ “lính kiểng” lại trở thành “lính cậu?”.

Lòng vòng một hồi cũng không thể quên đi thắc mắc “cà tong” là gì?

Bèn tra từ điển Huình Tịnh Paulus Của, mừng quá, rành rành như vầy: “Con cà tong: Loài hươu, mang cao giò, chạy hay lắm”. Tóm lại, “cà tong, cà teo, cà nhom” là cao, gầy, mảnh khảnh, coi bộ ốm o. Mà thật ra, ốm (gầy) cũng chằng sao. Thời buổi này, chán gì người phải ăn kiêng, detox  để có được thân hình như y?

Về tình hình văn học nước nhà, trong thời điểm này có một vài sự kiện đáng chú ý: Ngày thơ Việt Nam năm 2016 đang triển khai ở các địa phương trong cả nước, nghĩ cho cùng, cũng là một phong trào “đến hẹn lại lên”. Chưa có dấu hiệu gì cho thấy thơ trở lại với trong đời sống. Hôm trước, y viết tham luận bằng thơ sẽ trao đổi trong tọa đàm “Sức sống thơ ca của TP.HCM từ 2010 đến 2015”. Tọa đàm này diễn ra vào lúc 8g30 sáng ngày 20.2.2106 tại Hội Nhà văn TP.HCM. Y quan niệm không phải thay đổi hình thức mà vấn đề là thơ viết về cái gì? Viết cái gì? Đơn giản vậy thôi:

Nhân loại đã chơi xong ván bài binh xập xám
Thể nghiệm đông - tây xáo trộn lằng nhằng
Hình thức à? À, chỉ là hình thức
Phải làm sao níu lại vệt sao băng?


Ẩn số ấy, tôi hỏi tôi dằn vặt
Hồn vía thơ ở đâu trong chín cõi vô hình?
Mỗi con chữ trổ bông trên cánh đồng chữ nghĩa
Là khi tôi dám thanh lọc máu mình


Giọt máu ấy tượng hình như hòn lửa
Thấu thị buồn vui không riêng chỉ một người
Mai sau nữa trên đường dài vạn dặm
Sứ mệnh của thơ không cách biệt với Đời

Nhà biên kịch Đoàn Tuấn comment:

Bây giờ thời của văn xuôi
Thơ như sương sớm lúc đời đang mơ.

Có lẽ Tuấn nói đúng. Thêm một sự kiện độc đáo nữa, cần ghi lại là nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đã lập kỷ lục: 100 ngàn bản in lần đầu tiên cho tác phẩm Con chó nhỏ mang giỏ hoa hồng (NXB Trẻ). Theo Nguyễn Nhật Ánh: “Tâm hồn con người cũng cần có vitamin, và sách - nhất là sách viết về động vật - là loại vitamin tuyệt vời nhất. Vì nếu con người ta biết yêu thương một con chó, thì hiển nhiên người ta sẽ biết yêu thương con người; xã hội nhờ vậy sẽ bớt đi những chuyện đau lòng”.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 14.2.2016

 

lang-hanh-huong-2RAm thờ ngoại cảnh. Ảnh chụp tại số 5 Lê Lợi (Huế)

 

Năm con khỉ Bính Thân, thế nhưng thiên hạ lại bàn luận về con rồng. Nguyên cớ thế này: ngay sau ngày đưa ông Táo về trời, NXB Hội Nhà văn cho ấn hành quyển Madam Nhu Trần Lệ Xuân - Quyền lực Bà Rồng. Quyển sách này, Mai Sơn dịch từ nguyên tác “Finding the Dragon Lady: The Mystery of Vietnam's Madame Nhu” của tác giả người Mỹ Monique Brinson Demery.  Dư luận quan tâm vì ai cũng biết bà Trần Lệ Xuân (1924-2011), tức bà Nhu, là vợ của ông Ngô Đình Nhu - cố vấn chính quyền ở miền Nam Việt Nam thời Ngô Đình Diệm. 

Liệu chừng, cụm từ “Bà Rồng”/ “Rồng Cái” có phản ánh được tính cách, số phận bà Lệ Xuân?

Trước nhất, có lẽ là ý kiến của Chị Đẹp phát biểu trên trang Facebook cá nhân: “Dragon lady dịch ra ‘bà rồng’ nghe thật kinh chứ, ngôn từ Việt Nam trước giờ chưa thấy gọi người đàn bà quyền lực nào là ‘bà rồng’ đâu. Nhớ chỉ có bà râu, bà râu oai hùng như bà Âu Cơ thôi à”. Ban đầu cứ tưởng Chị Đẹp dùng từ “bà râu” là tự bịa ra. Nào ngờ trong sinh hoạt cộng đồng của thanh thiếu niên ở miền Nam trước 1975, có ca khúc như vầy: “ Bà râu ơi! Bà râu ơi!/ Cháu muốn lên thăm bà trên núi/ Bà râu ơi! Bà râu ơi!/ Cháu muốn lên vuốt ve râu bà/ Bà oai hùng như bà Âu Cơ/Năm mươi con đang còn trên núi/ Bà oai hùng như bà Âu Cơ/Năm mươi con đang sống đất bằng”. Tất nhiên trường hợp bà Lệ Xuân không thể sử dụng cụm từ “bà râu”, những ý kiến khác đề nghị thay thế bằng bà La Sát, bà Chằn… nhưng cũng không thể. 

Về từ “bà rồng/rồng cái”, quả thật nghe lạ tai quá. Nếu có “bà rồng” ắt phải có “ông rồng”? Người Việt chưa bao giờ dùng “ông rồng” để chỉ đấng mày râu quyền lực, có tính cách như "bà rồng". Thậm chí người Việt không dùng từ "bà" để chỉ bất kỳ con vật nào. "Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn" trong thơ Nguyễn Trãi, nều đọc Kinh dịch ắt hiểu chỉ về mặt trời, về thời gian. Hiểu đúng câu thơ là ngụ ý đất nước không có vua. Có câu hát xưa: "Ngồi buồn nói chuyện trên non/ Một trăm thứ cá có con không thằng/ -Thầy ơi chớ nói bao đồng/ Một trăm thứ cọp có ông không bà". Chỉ gọi "ông cọp", không ai gọi "bà cọp". Do đó, khi nghe cụm từ "bà rồng" thấy ngớ ngẩn lắm. Về từ “cái” trong “rồng cái” chỉ cần lật từ điển tiếng Việt sẽ biết nó có cả thẩy bao nhiêu nghĩa. Có ý kiến cho rằng: “Madame Nhu không phải là người phụ nữ đầu tiên người Mỹ gọi là Rồng Cái. Cái danh xưng này dường như xuất phát từ nhân vật hư cấu trong truyện tranh Terry and the Pirates những năm 1930. Con Rồng Cái biếm họa đó là người đàn bà quyến rũ ghê gớm. Ả được tạo ra từ những nét mực vẽ phác rất hung tợn làm nổi rõ xương gò má góc cạnh và cặp mắt láo liên. Ả chỉ quan tâm đến tiền bạc và quyền lực. Từ đó, bất kỳ người phụ nữ châu Á nào không phù hợp với hình dung phương Đông một phụ nữ nhu mì, phục tùng mà lại sốt sắng đều bị dán nhãn “rồng cái”. Nữ hoàng cuối cùng của Trung Hoa, Từ Hy, là một, cũng như Tống Mỹ Linh, người sẽ trở thành Madame Tưởng Giới Thạch, và Madame Mao. Ngôi sao điện ảnh Mỹ gốc châu Á đầu tiên của Hollywood, Anna May Wong, được chọn hoặc vào vai phụ khiêm tốn là một cánh hoa mỏng manh hoặc là con rồng cái quỷ quyệt và đầy mánh khóe trong các phim như The Thief of Bagdad và Old San Francisco”.

Thông tin này, chính xác đến đâu, y chưa kết luận, đơn giản chỉ vì không có điều kiện kiểm chứng.

Khi mọi người sử dụng từ “cái” trong “Bố Cái đại vương” nhằm tôn vinh anh hùng dân tộc Phùng Hưng - người có công đánh đuổi giặc nhà Đường phương Bắc, rõ ràng thời đó, Bố Cái được hiểu là “cha mẹ”. “Em về nuôi cái cùng  con/ Anh đi trẫy hội nước non Cao Bằng” hoặc “con dại cái mang”. “Cái” là mẹ. “Tương tự, “cái” còn nhằm chỉ một sự vật có yếu tố to/lớn nhất. Thời nhỏ, mỗi lần mẹ nấu cơm, khi nước cơm sôi thường bảo: “Con lấy cho mẹ đôi đũa cái”. “Đũa cái” là đũa lớn nhất trong một/ nhiều bó đũa. "Hỡi anh đi đường cái quan/ Dừng chân đứng lại em than đôi lời", đường cái là đường lớn, đường chính; rễ cái, sông cái, thợ cái, cột cái v.v... là hiểu theo nghĩa đó; trong năm ngón tay/chân, ngón to nhất được gọi ngón cái; người trùm thiên hạ, có tính cách thủ lĩnh là “anh hùng cái thế” v.v… Tất nhiên, “cái” còn mang nhiều nghĩa khác nữa, nhưng ở đây không bàn đến vì ngoài phạm vi của nghĩa “bà rồng/rồng cái” dịch từ nguyên tác của quyển sách viết về bà Trần Lệ Xuân.

Một vấn đề cực kỳ lý thú được đặt ra, không rõ tự bao giờ “cái” còn nhằm chỉ về giới tính như “đực/cái”?

Sở dĩ, y quan tâm đến vì suy luận có lẽ ngay từ thời điểm đó, “cái” đã mất đi hoặc ít ra cũng không còn được ghi nhận như ý nghĩa có vai trò là “mẹ”, “to/lớn” nhất nữa. Khi nghe câu hỏi: “Con cái anh nếp tẻ thế nào?”, rõ ràng “cái” ở đây hàm nghĩa chỉ về giới tính để hỏi con cả/con trưởng, con thứ, con út; bằng không sẽ có cách hỏi khác: “Vợ con anh thế nào?”. Rõ ràng, “cái” theo nghĩa là mẹ, là to/lớn đã biến mất. Mà quái thật, không rõ có phải do từ sự “xuống cấp” này hay không mà rõ ràng có một điều dễ dàng nhận ra: từ “cái” một khi dùng gắn liền với người phụ nữ thường hàm ý xấu, mang sắc thái tiêu cực. Con cọp tất nhiên là dữ, nhưng phải là “dữ như cọp cái” mới đáng sợ; con ngựa đã từng tạo được thiện cảm qua ý niệm “mã đáo thành công”, nhưng khi một người đàn bà bị gán “ngựa cái” thì hàm nghĩa lại khác hẳn, gợi lên sự lăng loàn, trắc nết; khi nghe nói đến là “giặc cái”, “quỷ cái”, “chó cái” thì sao? Thì cũng không khác gì khi ta nghe đến “rồng cái”. Chẳng hay ho, tốt đẹp gì. Chỉ là sự khinh miệt, rẻ rúng, xem thường người phụ nữ.

Trong vốn từ tiếng Việt, từ xưa đến nay “cái” chưa bao giờ đi với “rồng” trở thành “rồng cái” nhằm chỉ người đàn bà: “Ả chỉ quan tâm đến tiền bạc và quyền lực”. Vì lẽ đó, khi dùng nó để chỉ một nhân vật điển hình như bà Trần Lệ Xuân, thiên hạ phản ứng cũng phải thôi. Mẫu người đó, lật lại lịch sử chỉ mới thấy có “Bà chúa Chè” Đặng Thị Huệ, chẳng hạn. Nhưng nó cũng không trở thành cụm từ mang tính khái quát với ý nghĩa vừa nêu trên. Tại sao như thế? Lịch sử Việt Nam trải qua nhiều triều đại không xuất hiện nhiều người đàn bà đã đóng vai trò như bà Trần Lệ Xuân hoặc dù có, nhưng không có tính cách và số phận như vậy. Nói cách khác, mẫu người đàn bà như trường hợp bà Trần Lệ Xuân không phổ biến, chưa từng lặp đi lặp lại, do đó, chưa có cụm từ nào dùng để chỉ khái quát mà khi sử dụng thì ai ai cũng thừa nhận. Sự thừa nhận này giống như khi ta dùng cụm từ “Thị Nở”, “chị Dậu”, “Chí Phèo”… để chỉ một mẫu người nào đó. Với bà Trần Lệ Xuân rõ ràng chưa có cụm từ nào, không thể dùng “bà rồng/rồng cái” gì sất, như đã phân tích trên vì nó hoàn toàn xa lạ trong tâm thức người Việt. 

Mà này, nói đi cũng phải nói lại, một khi đã xuất hiện cụm từ “bà rồng/rồng cái” nhằm chỉ “người đàn bà thép”, có quyền lực, có khả năng tham gia chính trường và có tham vọng thay đổi nó bằng mọi thủ đoạn, mọi tài trí thông minh, quyết đoán, độc ác hơn người thì biết đâu, từ cách sử dụng có tính cách “tiên phong” đó, dần dà về sau sẽ được mọi người chấp nhận? 

Mà cũng có thể lắm chứ. Cứ quan sát cách sử dụng lời ăn tiếng nói đã hình thành trong khoảng mươi năm trở lại đây, ta thấy có biết bao từ, cụm từ mới đã ra đời và rơi rụng dần. Không gì phải phê phán, dù cảm thấy khó chịu vì cụm từ đó nếu không đáp ứng được yêu cầu nội tại của hàm nghĩa vừa nêu trên (ít ra qua trường hợp bà Trần Lệ Xuân), tự nó sẽ mất đi. Thế thôi. Sực nhớ, ban đầu, khi nhà văn Nguyễn Công Hoan cao hứng nghĩ ra từ "Oẳn tà rroằn" nhằm chỉ kết quả của vụ ngoại tình giữa người đàn bà An Nam với ông tây đen mũi lõ: “Té ra thằng bé con chàng mà nước da lại đen như cái cột nhà cháy! Vậy nó không phải con Rồng cháu Tiên. Nó là giống "Oẳn tà rroằn" không biết chống gậy” - ban đầu có lẽ người ta chỉ thấy buồn cười. Nhưng rồi trải qua bao biến đổi, thay đổi về ngôn ngữ, nó vẫn “sống” sờ sờ, vẫn đồng hành cùng thời đại chúng ta đấy chứ?

À ghi lại kẻo quên, mấy ngày ở Huế, thỉnh thoảng vào La Résidence (5 Lê Lợi) uống cà phê, thấy ngoài vườn có am thờ và trên bệ khắc dòng chữ như sau: “Am thờ ngoại cảnh: Theo tín ngưỡng thờ cúng của đạo Phật và người dân Huế, “Am thờ ngoại cảnh” hiện diện ở hầu hết các gia đình ở Huế. “Am thờ ngoại cảnh” thường được đặt ở một góc vườn hoặc dưới một gốc cây cổ thụ trong vườn, tại đây có các vị thổ thần, thần cây và các thần linh ngoài trời được thờ cúng. Hằng tháng vào ngày trăng tròn và ngày cuối tháng, mỗi gia đình đều bày cúng hương, trầm, hoa quả, giấy tiền vàng bạc cầu mong được phù hộ để có được nhiều niềm vui, sức khoẻ và công việc làm ăn phát đạt”. “Am thờ ngoại cảnh” này, trong Nam cũng có và gọi đó là “bàn thờ thiên”? Còn nhớ, thuở nhỏ, trước nhà ông ngoại có trang thờ dì Nữ, em ruột của mẹ, mất lúc còn con gái. Đi đến những nơi nào nhìn thấy những am thờ ấy, lòng luôn nhẹ nhàng và dành nhiều thiện cảm.

Những ngày này còn có không khí Tết? Không rõ nữa. Từ Pilgrimage Village chuyển sang Vedana Lagoon, y hoàn toàn cách biệt với thế giới bên ngoài. Thế giới này có gì mà khiến y đắm đuối đến thế?

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 10.2.2016

sang-mong-1-tet-2016

Sáng mồng 1 Tết Bính Thân (2016), từ trái: Lê Minh Tâm, Lê Minh Quốc, Lê Minh Tuấn


Ba ngày Tết vụt qua cái vèo. Chỉ nháy mắt là xong ngày xuân tuổi mới. Nắng ấm. Gió lạnh. Đường phố vắng. Những men say ngất ngưởng đã thoáng. Những nhố nhăng, bắng nhắng đã quên. Những hương vị của thời gian đã qua. Lại một mình cùng bàn phím. Chữ lại viết. Chữ lại đi. Từng con chữ tri âm. Chữ hái ra mây trắng. Chữ trôi về lãng du. Và cuối cùng là gì? Chẳng rõ nữa. Mồng 3 Tết, đưa ông bà. Sáng dậy sớm đã thấy sửa soạn bếp núc. “Ngày mai anh đi Huế rồi. Năm nay cúng sớm hơn mọi năm”. Thì ra thế. Nghe cô em dâu nói mà cảm động. Thì ra, cũng vì y đó thôi. Mọi năm thường là mồng 4 Tết. Ngoài sân đang đốt giấy vàng mã. Khói và tro bay loáng thoáng trong nắng. Hoa cúc vàng. Lá biếc xanh. Đà Nẵng trong tâm tưởng, trong mắt nhìn và tận trong sâu thẳm nỗi nhớ rõ rệt và đậm dấu nhớ không phai.

Kìa núi nọ phau phau mây trắng,

Tay kiếm cung mà nên dáng từ bi,

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng

Được mất dương dương người thái thượng,

Khen chê phơi phới ngọn đông phong.

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,

Không phật, không tiên, không vướng tục.

Còn lâu y mới được ngất ngưởng như Nguyễn Công Trứ. Đó là người biết sống. Tâm thế y còn sân si lắm. Hỉ nộ ái ố vẫn đầy. Sức mấy có thể an nhiên tự tại nhìn ngắm cuộc đời một cách nhẹ nhàng đến thế. Còn phải vật lộn chán chê trong cuộc mưu sinh mỗi ngày. Làm sao có thể “thõng tay vào chợ”? Đi vào chợ là đi vào dòng đời với mọi sắc dục trần tục của một kiếp người. Chỉ các bậc thiền sư đi vào chợ mới có thể an nhiên như đang tu tâm dưỡng tính trên non xanh rừng thẳm.

Trăm năm trong cõi người ta”. Tiếng thở dài ngân vang thăm thẳm của 6 từ ấy đã vẽ ra một số kiếp, một phận người, một cuộc mưu sinh liên tục, dằng dai, không một phút nào ngơi nghỉ. Nếu thu gọn lại trong 1 từ, chỉ có thể là từ “chợ”. Thật ra cuộc chiến đấu kinh khiếp nhất không phải lúc đi giữa chợ bị sự tác động ngoại vật chi phối đến tâm, tính, tình mà chính là cuộc chiến chống lại chính mình. Chống lại những hằn học, ham hố, lăng nhăng, ba trợn ba trạo, ba que xỏ lá, đá cá lăn dưa, vẽ nhọ bôi hề từ phía bóng tối của tâm hồn. Làm thơ, vẽ vời chính là sự “thanh lọc”, “tẩy rửa” linh hồn để tìm về cái thuở vừa cất tiếng khóc oa oa chạm mặt cõi nhân sinh. Rồi bước chân đi vào trong “chợ”. Đi vào “trăm năm trong cõi người ta”. Tưởng chỉ “người ta” thôi ư? Không đâu, nơi đó còn có cả ngợm, người, tiên, thánh thần, ma ma Phật Phật … nữa. Rồi có lúc con người ta lại tự hỏi và tự tìm lấy câu trả lời: “Tôi là ai, từ đâu đến, và cuối cùng đi về đâu?”. Trong các câu hỏi vọng lên trong cõi hỗn mang trời đất, câu hỏi ấy là nhảm nhất. Sống là bước đi, là nhập cuộc. Sống đi. Lao về phía trước. Có lúc hài lòng, có khi thất vọng. Đời nó vốn thế. Vậy hà cớ gì phải bận tâm với câu hỏi chết tiệt kia? Nghĩ thế, bèn tự nhủ: “Làm thơ đi. Có phải nhẹ nhàng hơn không?”. Đúng thế.

Thời gian lầm lũi trôi qua

Sáng nay chợt thấy ối chà, chà xuân

Xuân là Tết. Tết, niềm vui ấy, dẫu ở độ tuổi nào đi nữa, con người ta vẫn còn nguyên vẹn sự háo hức và chờ đợi. Không gì thanh thản, hân hoan, rộn ràng cho bằng những ngày đợi Tết. Đợi một cảm giác đang đến trong từng phút giây, từng ngày. Thì ra, một trong những niềm hứng nhất, trong đó còn có cả sự chờ đợi nữa. Rồi sự chờ đợi ấy cũng đến. Tết đến. Rồi Xuân qua. Dòng chảy của thời gian ngàn đời vẫn thế.
Những ngày Tết, lại là dịp ngồi một mình và nghĩ về chính mình. Xoè tay ra thấy gì ngoài những đường mưu sinh ngang dọc đã hằn nếp? Thấy gì ngoài mây trắng đã đọng lại trên mí mắt? Thấy gì ngoài những ngọn gió thời gian đã thổi buốt óc? Thấy gì? Đôi khi con người ta chẳng thấy gì ngoài số tuổi đã chất chồng trĩu vai, chồn chân mỏi gối.

Sáng dậy sớm. Đi một vòng, đi lại những ngã đường đã từng đi. Lắng nghe dưới gót giày nhịp đi trên phố vọng lên tiếng gọi: “Q ơi”. Âm thanh ấy bao giờ cũng hiện diện rõ nét trong chính tâm hồn. Y mê đắm. Y đắm đuối nơi đã sống chỉ 18 năm nhưng lại trở thành cội nguồn. Về quê là gì? Là lúc con người ta nạp lại năng lượng. Năng lượng từ thiên nhiên, mái ấm, tình thân, bạn bè, từ giọng nói của vùng đất đã chôn nhau cắt rốn… Nạp lại năng lượng sống. Ý nghĩa của về quê đó chăng? Ai cũng có một nơi chốn để quay về. Cái lần cuối cùng ấy, ai cũng như ai. Chỉ ba tấc đất. Một nhúm tro. Vậy là xong một dấu tích một con người đã  từng có khoảnh khắc ngắn ngủi dẫm chân lên trái đất.

Ngày Tết qua nhanh. Sáng mồng 1, như mọi năm lên thắp nhang mộ ba, chị Ái. Trên đường về, ăn bê thui Cầu Mống. Tối lai rai cùng bạn bè. Ngày mồng 2, theo lệ cũ, anh em cựu chiến binh tập trung nhà Nghĩa, sau đó, lên nhà Bảo. Hôm nay, mồng 3 Tết rồi. Ở nhà. Mỏi mệt. Đã nghe những cuộc điện thoại, nhưng từ chối. Oải quá rồi. Thoáng nhớ mùi men đã chợn, đã ngấy. Ở nhà, đọc nhì nhằng cho nó lành. Đọc cái tin này, khiếp quá. Báo Thể thao & Văn hoá đưa tin lấy từ nguồn TTXVN: “Trong 3 ngày (từ ngày 28 đến sáng mùng 2 Tết), hệ thống các cơ sở khám, chữa bệnh đã khám cấp cứu cho 17.278 trường hợp do tai nạn giao thông (tăng 113% so với Tết Ất Mùi), trong đó 1.928 trường hợp chấn thương sọ não (chiếm 11,2%), 182 trường hợp phẫu thuật chấn thương sọ não (chiếm 1%). Tổng số ca khám, cấp cứu do đánh nhau là 1.971 trường hợp (giảm 83% so với 3 ngày Tết Ất Mùi)”.

Chiều mai đi Huế.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 5.2.2016


tap-chi-nghien-cuu-han-nom-1R

 

Vàng tuy trời chẳng trao tay

Bình an hai chữ xem tày mấy muôn

…Từ xa xưa, Nguyễn Trãi đã viết trong Gia huấn ca hai câu thơ trên để thấy rằng bình an là điều đáng quý như thế nào. Vì vậy người Việt gặp nhau trong những ngày đầu năm mới, chúng ta vẫn thường chúc nhau “Bình an”, “An khang”… Thậm chí ngày thường, câu cửa miệng cũng là chúc nhau “An toàn”, “An lành”, “An nhiên tự tại”… (Thư Ban Biên tập - Báo Tuổi Trẻ số Tất niên 4.2.2016, tr.1). “Gia huấn ca của Nguyễn Trãi (1380-1442) là một tác phẩm có nội dung khuyên dạy những người thân trong gia đình, học trò, về cách ăn ở cư xử ở đời…” (Chuyện ẩm thực trong thi văn ngày trước - Kiến Thức Ngày Nay số Xuân 2016, tr.62). Như một sự mặc định lâu nay, hễ nói đến Gia huấn ca, mọi người lại gán cho Nguyễn Trãi. Từ nhiều năm nay, giới nghiên cứu đã có những ý kiến “nói khác” và chứng minh rằng, Nguyễn Trãi không phải là tác giả Gia huấn ca.

Có lẽ, người trước nhất lên tiếng nghi ngờ là học giả Hoàng Xuân Hãn, trong Thi văn Việt Nam (1951), ông đặt vấn đề: “Tuy nhiên, các chữ cổ, thường thấy trong những bài chắc chắn soạn đời Lê, ở đây thấy rất ít. Vả trong một vài nơi có nói đến các thứ đánh bạc như tổ tôm, tam cúc, chắn, đố mười. Không biết những trò chơi ấy đã có đời Nguyễn Trãi hay chưa? Nói tóm lại, ta không có chứng gì nhận chắc quyết lời tục truyền rằng tập gia huấn này là của Nguyễn Trãi. Nếu thật là của ông soạn ra, thì sự sao đi chép lại bởi người đời sau, và nhất là đời Nguyễn, đã làm cho phần văn cổ đã bị chữa đi nhiều rồi".

Vậy ai là tác giả Gia huấn ca?

Câu hỏi lý thú này, trên tạp chí Nghiên cứu Hán Nôm - 1984 của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nhà nghiên cứu Hoàng Văn Lâu cho biết: “Chúng tôi đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi được nêu từ kho thư tịch và tư liệu Hán Nôm”. Có thể tóm tắt, ông Lâu đã tìm được văn bản chép tay, ký hiệu AB.532. “Điều đáng chú ý là bản nay còn giữ lại được lời ghi chú, một Nguyên tự của tác giả và một bài Bạt ở cuối sách”. Từ những thông tin này, “cho chúng ta biết: 1. Tên của tác phẩm này (tức là bài thứ nhất trong Gia huấn ca)Phụ châm; 2. Phụ châm được tác giả sáng tác dựa trên những câu cách ngôn cổ và những câu ca dao, tục ngữ bằng quốc ngữ”. Ai viết Phụ châm? Nguyên tự không nêu tên tác giả. May quá, trong lời Bạt cho biết Phụ châm là sáng tác của Yên Thái Tôn sư. Vị thầy tôn kính ở Yên Thái là ai? Về địa danh Yên Thái, Hà Nội có phường Yên Thái, nhưng Nghệ An cũ, Thanh Hóa, Sơn Tây cũ, Nam Định cũng có địa danh Yên Thái; hoặc An Thái. An hoặc Yên cùng là 2 âm đọc của một chữ.

Chưa thể có câu trả lời dứt khoát.

Ông Lâu lại tiếp tục tìm kiếm các tài liệu khác. Ông tìm được hai văn bản có tên Xuyết thập tạp ký. Một bản ký hiệu A.1792. Một bản ký hiệu AB.132. Theo nhà thư mục học số Một của Việt Nam, cụ Trần Văn Giáp, tác giả Lược truyện các tác gia Việt Nam, Thư mục Hán Nôm khẳng định là tác giả Xuyết thập tạp ký là Lý Văn Phức (1785-1849). Văn bản ký hiệu A.1792 bị loại “vì nội dung của sách không phù hợp với bài tự của Lý Văn Phức ghi trong Xuyết thập tạp ký”. Văn bản ký hiệu AB.132 ngay trang đầu có bài tự của tác giả, ký tên: “Vĩnh Thuận Khắc Trai Lý Văn Phức Lân Chi”; phần Phụ châm được chép cuối sách có tên Phụ châm tiện lãm, ghi rõ “Lý Hồ Khẩu tiên sinh soạn”. Hồ Khẩu là địa danh. Ông Lý ở Hồ Khẩu là ai? Chính là Lý Văn Phức, người  làng Hồ Khẩu, huyện Vĩnh Thuận (Hà Nội). “Điều này hoàn toàn phù hợp với lời của bài Bạt trong Cảnh phụ châm, ký hiệu AB.532, nói rằng Phụ châm là tác phẩm của Yên Thái Tôn sư”.

Được biết, Hồ Khẩu và Yên Thái là hai làng liền nhau thuộc tổng Trung, huyện Vĩnh Thuận của Hà Nội cũ. Làng Hồ Khẩu, nơi hiện còn đền thờ Lý Văn Phức, vẫn được gọi là phố Yên Thái. Theo ông Lâu, Lý Văn Phức (1785-1849) đã viết Nhị thập tứ hiếu, Phụ châm và một số tác phẩm chữ Hán là lúc đang dạy học ỏ đây.

Sự việc đã rõ ràng. Vấn đề đặt ra vì sao Phụ châm của Lý Văn Phức lại "nhảy" vào Gia huấn ca và ghi tên tác giả là Nguyễn Trãi. 1. Sách cũ có nói Nguyễn Trãi viết Gia huấn ca, đời sau, có người tưởng rằng Phụ châm kia chính là Gia huấn ca nên đã sưu tầm, sắp xếp và lấy tên chung là Gia huấn ca? 2. Cũng có thể là một "ngụy thư" - nhằm gán cho Nguyễn Trãi? Nhắc lại rằng, Nam phong tạp chí số 48 (1921) từng "phát hiện" và in nhiều kỳ Lĩnh Nam dật sử, đề là tác phẩm của danh tướng Trần Nhật Duật. Sau đó, bổn báo phải có bài cãi chính trên số báo 53. "Râu ông nọ cằm bà kia" là chuyện thường tình trong văn học sử. Chẳng hạn, bài thơ Bán than: "Một gánh kiền khôn quẩy tếch ngàn/ Hỏi chi bán đó, dạ rằng than/ Ít nhiều miễn được đồng tiền tốt/ Hơn thiệt nài bao gốc củi tàn/Ở với lửa hương cho vẹn kiếp/ Thử xem sắt đá có bền gan/ Nghĩ mình lem luốc toan nghề khác/ Nhưng sợ trời kia lắm kẻ hàn" được gán cho danh tướng Trần Khánh Dư. Dù rằng, với các chứng cứ trên, đâu phải ai ai cũng “tâm phục khẩu phục” nhưng từ sự nghi ngờ của học giả Hoàng Xuân Hãn chắc chắn Gia huấn ca không thể ra đời từ thời Nguyễn Trãi. Xin nêu một ví dụ về từ ngữ đặng chứng minh cho ý kiến của Hoàng Xuân Hãn. Ông Nguyễn Dư, tác giả Khơi lại dòng xưa (NXB Lao Động) trong bài viết Đi tìm tác giả Gia huấn ca, có đoạn:

“Đua chi chén rượu câu thơ

Thuốc Lào ngon lạt nước cờ thấp cao

Chữ "Lào" được dân ta dùng từ thời nào? (…) Sách Dư địa chí (1438) của Nguyễn Trãi chép: "Biển cùng Vân, Linh ở về Thuận Hóa. Ở vùng ấy đất thì đen, mầu mỡ, hợp với trồng thuốc hút và thứ tiêu hạt to; ruộng thì vào hạng trung trung. Điện Bàn có trĩ vàng. Sa Bôi có chè lưỡi chim sẻ. Hải Lăng có thỏ lông trắng. Thuốc hút (chỉ dược) là thứ cây lấy lá cuộn vào giấy rồi châm lửa hút" (Nguyễn Trãi toàn tập, tr. 234). Đầu thế kỉ 15, nước ta có trồng cây thuốc hút (chỉ dược). Nguyễn Trãi không nói tới thuốc lào.

Cây thuốc hút của Nguyễn Trãi có phải là cây thuốc lá hay thuốc lào ngày nay không?

Lê Quý Đôn cho biết: “Sách Thuyết Linh chép: Thuốc lá (yên diệp) sản xuất từ đất Mân. Người ở biên giới bị bệnh hàn, nếu không có thứ này thì không trị được. Vùng quan ngoại, thuốc lá rất quý, đến nỗi có người đem một con ngựa đổi lấy một cân thuốc lá. (...) Cây thuốc lá sản xuất ở Lữ Tống (Phi Luật Tân) vốn tên là Đạm ba cô (tobacco). (...) Nước Nam ta lúc đầu không có cây thuốc lá ấy. Từ năm Canh Tí tức niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 3 (1660) đời vua Lê Thần Tông (...) người Ai Lao mới đem đến, nhân dân nước ta bắt đầu trồng cây thuốc lá. Quan dân, đàn bà con gái tranh nhau hút thuốc lá, đến nỗi có câu: "Có thể ba ngày không ăn, chớ không thể một giờ không hút thuốc lá". Năm 1665 đời vua Lê Huyền Tông, triều đình đã hai lần xuống lệnh chỉ nghiêm cấm, lùng bắt những người trồng thuốc, bán thuốc và lén hút thuốc, nhưng rốt cuộc không dứt tuyệt được. Người ta phần nhiều khoét cột tre làm ống điếu và chôn điếu sành xuống đất. Tro than thuốc lá lắm lần gây thành hoả hoạn. Lâu dần lệnh cấm bãi bỏ. Nay thì việc hút thuốc lá đã thành thói thông thường" (Lê Quý Đôn, Vân đài loại ngữ, bản dịch của Tạ Quang Phát, Văn Hoá Thông Tin, 1995, tập 3, tr. 158-159).

Theo Lê Quý Đôn thì cây thuốc lá được người Ai Lao đem vào nước ta năm 1660, nghĩa là hơn 200 năm sau khi Nguyễn Trãi chết”.

Đọc tài liệu cũ, biết thêm đôi chút điều gì đó, cũng là cái thú vậy. Những ngày này, chỉ một hai ngày nữa là Tết rồi, trong lòng chộn rộn, thư thái với cảm giác nghỉ ngơi, không bận rộn gì. Hôm qua đã mua về nhà hai chậu hoa vạn thọ. Mẹ y thích ngắm nhìn sắc màu vàng chanh; hoặc vàng nghệ của loại hoa có cái tên dân dã, bình dị ấy.

Sáng nay, thức dậy sớm. lại đọc lai rai một cái gì đó.  Đọc và dừng lại ở từ “mỗ”. Sở dĩ quan tâm, vì đồng nghiệp N.K.L đang ký bút danh này. Lâu nay, ai cũng biết “mỗ”: 1. tôi, ta, tiếng tự xung: “như mỗ đây”; 2. tiếng dùng để chỉ người, nơi, vật không rõ tên cụ thể: mỗ xứ, mỗ danh. Đại từ điển tiếng Việt của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam giải thích rành ràng. Đố mà cãi.

Thế nhưng khi đọc thơ văn cổ, khi gặp từ “mỗ” lại không thể hiểu theo nghĩa đó. Khi khảo sát thơ Quốc âm của Nguyễn Trãi, Tiến sĩ Trần Trọng Dương đã giải thích “mỗ” (từ cổ) theo nhiều nghĩa, xin lược ghi: 1. thường đứng trước danh từ phiếm chỉ, nọ, nào đó, chỉ người hay sự vật nào đó chưa biết một cách rõ ràng xác định. “Thủy chung mỗ vật đều nhờ chúa/ Động tĩnh nào ai chẳng phải sày”; 2. trỏ đối tượng đã nhắc đến, hoặc đối tượng mà ai cũng biết đến. “Ở thế những hiềm qua mỗ thế/ Có thân thì sá cốc chưng thân”, mỗ thế: cuộc đời này; 3. ngôi tự xung, ta, có thể là chủ ngữ, cũng có thể làm tính từ với nghĩa “của ta”. “Phú quý chẳng tham thanh tựa nước/ Lòng nào vạy, mỗ hây hây”; 4. trỏ số lượng nhỏ, chút, mảy may. “Từ ngày gặp hội phong vân/ Bổ báo chưa hề đặng mỗ phân”; 5. một. “Trúc thông hiên vắng trong khi ấy/ Nừng mỗ sơn tăng làm bạn ngâm”.

Trước đây, trên tạp chí Hán Nôm (số 1.1988), nhà nghiên cứu Nguyễn Tá Nhí cũng đã có bài biết Tìm hiểu nghĩa của từ “mỗ”. Điều thú vị của bài viết này, tác giả đã khảo sát Nguyễn Trãi - Quốc âm thi tập, Hồng Đức - Quốc âm thi tập, Thiên Nam ngữ lục để chọn ra các câu có từ “mỗ”.  Những ai muốn biết tần số từ “mỗ” xuất hiện cụ thể ra làm sao, hãy tìm đọc số tạp chí trên.

Tắt bàn phím thôi. Tết rồi. Xuống phố thôi. Chẳng lẽ cứ ngồi nhà rị mọ với chữ nghĩa mãi sao?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 19 trong tổng số 58

trinhduyson