LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 24.6.2018


trang_bguyen_tr5ang_dabn_giabn_1R


Một khi đã không thể trình bày cặn kẽ suy nghĩ về một vấn đề nào đó, cách tốt nhất là hãy im lặng. Đã đọc đâu đó, ở trang sách nào đó, đại khái có người lên núi tu tập, một hôm xuống núi, thiên hạ hỏi: “30 mươi năm qua, ngài đã học được những gì?”. Ông ta đáp: “Tôi học cách im lặng”. Im lặng khó đến thế ư? Thời trẻ, hễ thấy gì trái trai gai mắt, thông thường con người ta há mồm ra xoèn xoẹt. Nhưng rồi, đến một lúc nào đó, họ lại chọn cách im lặng. Ấy cũng là lúc tuổi già đã đến; nếu chưa già, chỉ có thể là sự vô cảm.

Thời buổi này, chọn lấy thái độ nào cũng thấy khó. Thôi thì, hãy tự nhủ bằng câu thơ: “Khạc chẳng ra cho nuốt chẳng vào/ Miếng tình nghẹn lắm biết làm sao/ Muốn kêu một tiếng cho to lắm/ Rằng ối ai ôi, nó thế nào?”. Thơ Nguyễn Gia Thiều. Vấn đề là kêu lên với ai? Hay lại chọn cách như Tản Đà tiên sinh: “Bóng ơi mời bóng vào nhà/ Ngọn đèn khơi tỏ, đôi ta cùng ngồi/ Cùng nhau rãi một đôi nhời/ Ta ngồi ta nói, bóng ngồi bóng nghe”. Xét ra, tâm thế này cô đơn, não nùng quá đi mất.

Sao không chọn lấy cách nói với vợ? Thế lại hay. Y sẽ nói gì? Chớ dại nói năng, tâm sự, kể lể, chuyện trò về “miếng tình” đã qua. Dễ chịu nhất và khôn ngoan nhất vẫn là nói với nhau về “miếng ăn”. Nói rằng, thời buổi này, không khéo sẽ chết đói nếu học theo cách ăn của ngài Khổng Tử. Nghe lạ tai quá phải không? Tục ngữ Việt Nam có câu: “Đói ăn rau, đau uống thuốc”. Dễ dàng lắm. Dễ như lật bàn tay.

Thế mà, ừ, Khổng Tử có khác, ông ta bảo: “Cơm càng trắng tinh càng tốt, (càng thích), gỏi thái còn nhỏ càng tốt. Cơm hẩm và thiu, cá ươn mà thịt đã nhão thì không ăn. (Thức ăn mà) sắc đã biến, hư rồi, không ăn; mùi hôi cũng không ăn. (Có sách dịch là những vật trái mùa). Cắt không ngay ngắn (hoặc không đúng cách), không ăn. Nước chấm không thích hợp, không ăn. Dù có thịt, cũng ăn ít thịt hơn cơm. Duy có rượu là không hạn chế, nhưng không uống tới say. Rượu bán ở cửa hàng, không uống; thịt mua ở chợ, không ăn. Bữa nào cũng ăn gừng. Không ăn tới quá no. Tế ở công miếu rồi, được phần thịt thì phân phát ngay, không để cách đêm. (Vì thịt tế vào buổi sáng thì làm vào hôm trước, nếu để cách đêm nữa, qua ngày hôm sau là ba ngày, thịt ôi đi). Thịt cúng tổ tiên, không để quá ba ngày, quá ba ngày thì không ăn. Khi ăn, không đàm luận, khi ngủ không nói chuyện. Tuy là cơm thô, canh rau, mà trước khi ăn cũng cung kính cúng vái như lúc trai giới”. Đoạn này trích từ thiên Hương đảng của sách Luận ngữ, bản dịch Nguyễn Hiến Lê.

Bây giờ, mỗi ngày ra chợ, vào siêu thị ùa vào trong mắt không thiếu một thứ gì nhưng rồi vẫn nghi ngại, không dám mua bởi tự hỏi: “Có an toàn thực phẩm?”. Ước gì trở lại cái ngày mới chân ướt chân ráo vào Sài Gòn trọ học, dù thiếu thốn nhưng lúc được ăn là hoàn toàn yên tâm về chất lượng. Vẫn còn nhớ hoài dãy quán cơm bình dân dành cho sinh viên ở hẽm bên hông Trường Đại học Sư phạm ở đường Lê Văn Sỹ, ngay dưới dốc cầu Trương Minh Giảng. Nay hoàn toàn không con dấu tích. Con hẻm chật chội đã mở đường rộng, xuyên thẳng qua đường Nam Kỳ khởi Nghĩa. Mỗi thời mỗi khác.

Vừa rồi, tìm đọc lại quyển Hà Nội cũ in năm 1943 của Sở Bảo Doãn Kế Thiện (1891-1965), trong đó có kể về “xóm học trò” xưa. Đại khái, gần đến ngày thi, thí sinh các nơi tề tựu về Thăng Long. Tất nhiên họ phải ở trọ nơi gần Trường thi để thuận tiện việc đi lại và đỡ tốn kém, dần dần nơi ấy có tên gọi là “Xóm học trò”- tương tự như Xóm La-tinh ở Paris. Vị trí ấy khoảng đầu vườn hoa Cửa Nam cho tới ngõ Hội Vũ ở Hà Nội bây giờ. Cứ những năm Tí, Ngọ, Mão, Dậu có thi Hương thì hàng quán nơi này mọc lên, đón các thí  sinh đến ăn ở trở thành nơi đông đúc vui vẽ. Khoa thi càng đông thì các cô bán cơm, cho thuê phòng trọ ở Xóm học trò lại phát tài.

Các o Hà Nội đáo để, hóm hỉnh lắm, họ còn biết đặt ra bài vè để chào mời thí sinh. Nội dung như sau: “Ba gian nhà khách/ Chiếu sạch giường cao/ Mời các thầy vào/ Muốn sao được thế/ Mắm Nghệ lòng dòn/ Rượu ngon cơm trắng”. Sau khi “tiếp thị” hàng quán của mình, các o còn khôn khéo biết “đánh đòn tâm lý” vào những người đi thi: “Các thầy dù chẳng sá vào/ Hãy dừng chân lại em chào cái nao/ Đêm qua em mới chiêm bao/ Có năm ông Cử mới vào nhà em/ Cau non bổ, trầu cay têm/ Đựng trong đĩa sứ em đem kính mời/ Năm thầy tốt số hơn người/ Khoa này tất đỗ nhớ lời em đây”. Nghe thế, thí sinh nào mà không sướng phổng mũi? Dù mua bán nhưng lời mời chào lại thanh lịch, văn minh.

Có giai thoại cực hay mà ông Doãn Kế Thiện đã kể trong tập sách này. Thú lắm. Hãy ghi lại như một tài liệu cho những ai cần tham khảo vậy. Rằng, trong số các cô bán cơm có quán của cô Thanh. Ngày nọ, quán bên cạnh ồn ào tiếng đọc thơ, loạn xạ bình luận văn chương, thi phú của các sĩ tử. Ai đều cho thơ của mình là nhất, cãi nhau ỏm tỏi, ồn ào hơn cái chợ. Bấy giờ, ngồi chung quán có chàng trẻ tuổi tự xưng học trò nhưng chẳng hề thấy béng mảng vào trường thi, suốt ngày chỉ tì tì nốc rượu. Lúc nghe đám học trò cãi nhau rác cả tai, chàng bèn cất tiếng ngâm như cọp rống: “Thôi đừng đọc nữa, khổ tai tôi/ Cho cả nhà hàng bịt mắm thôi/ Tiếng súng bên thành kêu dậy đất/ Thần thi thánh phú ích cho ai?”. Từ "mắm" khiến ta nhớ đến câu thơ của Cao Bá Quát: "Ngán thay cái mũi vô duyên/ Câu thơ Thi xã, con thuyền Nghệ An". Thuyền Nghệ An thời ấy chuyên chở mắm bán xa gần. Ngon thì ngon nhưng so sánh câu thơ với mùi mắm thì éo le lắm lắm/

Biết bị chửi xéo, lũ cậu học trò nổi giận, lại đang say nên hùa nhau dạy cho kẻ lếu láo ấy bài học nên thân. Chẳng hề sợ hãi, chàng đứng dậy, lạ thay, chỉ với đôi đũa tre nhưng lại thừa sức gạt phăng các gậy, gộc đằng đằng sát khí. Lũ học trò hoảng sợ chạy tán loạn như vịt. Sau cuộc ẩu đả, chủ quán đuổi tất và buộc chàng phải trả hết tiền cơm rượu. Không nói, không rằng, chàng trả tiền nhưng lại thiếu 5 quan, bị cô chủ quán đòi lột áo. Quan sát nhìn nẫy giờ, cô Thanh tủm tỉm cười, bèn sai người mang tiền qua trả giúp. Về sau, có câu vần vè trêu chọc: “Cô kia kén cá chọn canh/ Đem tiền chực rước cái anh lạc loài/ Thực là đáng bực tài giai/ Có tài ăn bửa một hai đâm liều”. Cô Thanh cũng chẳng thèm “thanh minh thanh nga”, bỏ mặc ngoài tai lời đàm tiếu ấy.

Ít lâu sau, thiên hạ ngạc nhiên khi thấy cô kết duyên cùng lãnh binh Trần Thiện Minh - chính là anh chàng “lạc loài “ kia. Thì ra, lúc nước mất nhà tan, nghĩ rằng, cái học cử nghiệp chẳng hữu ích gì, chàng chuyên tâm theo võ nghệ, gia nhập quân đội và được danh tướng Nguyễn Tri Phương phong chức lãnh binh. Như vậy, giai thoại này diễn ra vào năm 1873 - năm giặc Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất.

“Có tài ăn bửa một hai đâm liều”. Nhân đây giải thích luôn vài từ có lên quan đến ăn, chẳng hạn, ăn bửa là ăn quỵt; ăn chõm là ăn chực; ăn gọ là ăn ghé - ăn của người khác, đồng nghĩa với ăn bòn, ăn khín, Nam bộ có câu “Ăn khín bà chín bẻ răng”; ăn mót là ăn nhặt - lượm đồ rơi rớt mà ăn, theo tự điển Việt-Bồ-La (1651) thì thuở ấy, ăn mót đồng nghĩa với ăn mày; ăn vả là ăn nhờ, ăn bám; ăn vã (dấu ngã) là ăn đồ ăn không v.v… Đủ kiểu ăn nhưng “ăn đất/ ăn bom/ ăn bùn” chắc chắn là ngủm củ tỏi; “ăn xôi nghe kèn” cũng là mặc áo sơ mi gỗ: “Giàu thì thịt cá cơm canh/ Khó thì lưng rau dĩa muối, cúng anh tôi đi lấy chồng/ Hỡi anh chồng cũ tôi ơi/ Anh có khôn thiêng thì anh trở dậy ăn xôi nghe kèn...". Kèn đây là kèn đưa đám. Đã thế, còn ăn cái nỗi gì?.

Thời trước, khoái chí nhất vẫn lúc được ăn yến tiệc do vua ban. Muốn thế, ngay từ trẻ nhỏ phải lo dùi mài kinh sử, rồi lều chõng, thi đậu, ra làm quan ắt có cơ hội. Mà thi cử ngày trước cũng không ít trường hợp oái oăm. Chẳng hạn, có trường hợp ngoại lệ dù không qua khảo hạch mà vẫn được thi Hương. Trong quyển Nam thiên trân dị tập của Vũ Xuân Tiên in năm 1917 cho biết: “Nguyễn Toàn An, người xã Thời Cử, huyện Đường An, sung làm lánh bính (lính coi  giữ và dọn cỏ ở cung điện) vào đầu niên hiệu Hồng Đức (1470- 1497). Nhân đêm trung thu, các quan vào triều chầu hầu. Bấy giờ ánh trăng mờ tối, vua ra đầu đề Trung thu vô nguyệt (Đêm trung thu không trăng) để các quan làm thơ vịnh. Vua nóng lòng chờ đợi mà chưa thấy ai lên tiếng.

Chợt thấy Toàn An quỳ dâng một bài thơ Đường luật. Mọi người cười ồ: “Lánh binh mà vẫn làm được thơ à?”. Vua sai xem lấy. Bài thơ làm bằng chữ Nôm, với câu kết như sau: “Chớ thấy phen này mà rẻ nguyệt/ Thu sau trông nguyệt, nguyệt càng cao”. Ai nấy đều thán phục, nhân đấy xin vua cho Toàn An được giải chức lánh binh để về quê đi thi. Sau đó, ông thi đậu Hương thí. Đến khoa Nhâm Thìn (1472), Toàn An đậu Bảng nhãn, lúc này ông mới 23 tuổi. Vinh quy được ít lâu thì cha mất.

Thời bấy giờ luật pháp rất nghiêm. Người nào trong khi để tang cha mà vợ có mang thì bị coi là vô đạo. Ông vì vậy thủ chế suốt ba năm, không dám gần vợ. Đến khi mãn tang thì ông mất, không có con nối dõi. Vua được tin này, lấy làm thương xót. Từ đấy mới bỏ lệ cấm sinh đẻ trong lúc cư tang” (Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam - tập II, , tr.1064, Viện Nghiên cứu Hán Nôm - NXB Thế Giới - 1997).

Mà giai thoại thú vị liên quan đến chuyện thi cử ngày xưa, kể ra cũng nhiều. Phạm Đình Hổ chép trong Vũ trung tùy bút, đọc lại, cứ như đùa: “Đầu đời Cảnh Hưng (1740-1786) có ông Ngô Thì Sĩ nổi tiếng là bậc hay chữ, bị bọn quan đương thời ghen ghét, khi đến thi Hội các khảo quan dò xét hễ thấy quyển nào giọng văn hơi giống thì bảo nhau: “Quyển này hẳn là khẩu khí Ngô Thì Sĩ”, thế là họ hết sức bới móc đánh hỏng đi. Trịnh chúa Nghị Tổ (Trịnh Doanh) biết có thói tệ ấy nên khi thi cử xong rồi, truyền đem quyển hỏng của Ngô Thì Sĩ ra duyệt lại. Các khảo quan bấy giờ, nhiều người bị truất phạt, nhưng vẫn không cấm chỉ được cái tệ ấy. Khoa Bính Tuất (1766), Ngô công bị bệnh tả, vào trường đệ tứ, cố làm qua loa cho xong quyển. Khảo quan chấm quyển bảo nhau: “Quyển này làm văn thì luyện đạt lắm, đáng là văn Hội nguyên, nhưng văn khí hơi yếu, không phải giọng văn Ngô Thì Sĩ”. Chấm đến quyển của ông Nguyễn Bá Dương lại bảo nhau: “Quyển này văn khí khác thường, giống giọng văn Ngô Thì Sĩ nhưng làm văn lại kém, Thì Sĩ tất không làm như thế”. Vì họ hồ đồ không biết định quyển nào là văn Ngô Thì Sĩ mà đánh hỏng nên Thì Sĩ mới đỗ hội nguyên”.

Về sau, ông Ngô Thì Sĩ để lại một sự nghiệp đồ sộ về văn chương, có tài kinh bang tế thế. Trong quyển Việt sử tiêu án, ông đã giải thích rõ ràng những từ thuộc khoa cử nước nhà mà nay không phải ai cũng tường tận. Về trạng nguyên, ai cũng rõ nhưng tại sao có lúc sử chép “Kinh trạng nguyên/ Trại trạng nguyên”? Ngô Thì Sĩ cho biết: “Đời nhà Trần thi cử có chia ra Kinh- Trại cũng như đời Thanh (Trung Quốc) chia ra Mãn - Hán. Vì đời Trần lấy Hoan - Ái (tức Thanh Hóa - Nghệ An) làm các châu ở xa, giáo dục chưa được thấm nhuần, nhân tài không nhiều bằng các kinh trấn, cho nên mỗi khoa thi lấy người giỏi nhất về bên Trại gọi là Trại trạng nguyên, cho ngang tài với Kinh trạng nguyên để tỏ ý khuyến khích”. Qua đó ta thấy sự phân biệt này là chính sách nhằm khuyến khích việc học, việc thi ở các vùng cao, vùng xa, không gần kinh đô.

À, lan man từ chuyện ăn qua chuyện thi cử, có chán không? Tất nhiên là không. Tại làm sao thế? Bởi vì rằng, đọc sách nhẩn nha rồi ghi chép đôi điều dù lộn xộn, lộn lạo cũng là một cách "Ta ngồi ta nói, bóng ngồi bóng nghe" đấy thôi.

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 28.5.2018

trantrungsang


Mỗi ngày, dành bao nhiêu thời gian cho facebook? Câu hỏi này, không thừa. Ngày kia, một đồng nghiệp bảo: “Vấn đề là làm sao kéo độc giả rời khỏi các trang mạng xã hội. Nếu không, báo giấy ngủm củ tỏi, ngay cả báo điện tử cũng lắc lư con tàu đi. Vậy lấy gì mà ăn?”.

Nhắc đến từ ăn, ngay lập tức trong trí nhớ của con người ta lại nhớ về những món ăn của thời hoa niên. Ngày ấy, mẹ nấu cho ăn. Rồi, sau này, vợ nấu. Ông Vũ Bằng may mắn có được bà Quỳ - người vợ nấu ăn ngon nên trong những trang Thương nhớ mười hai, phần hay nhất vẫn là lúc nhớ về món ăn. Viết tựa cho quyển Ngày đi trên chữ, nhà văn Nguyễn Nhật Ánh nói đúng, “đã là nhà văn thì sớm muộn gì cũng động bút đến đề tài ẩm thực, từ Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Bằng đến Võ Phiến, Nguyễn Văn Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lê Giang, Đoàn Thạch Biền... Món ăn vật chất như vậy có liên quan mật thiết đến món ăn tinh thần, vì nó là một sự tích lũy, gửi gắm của văn hóa rồi nghiễm nhiên trở thành biểu tượng của văn hóa”.

Có phải trong tiếng Việt, đồng âm dị nghĩa xuất hiện nhiều nhất vẫn là từ ăn? Vừa đọc trên facebook của người nọ, có liệt kê: “Ăn đi: Không có nghĩa là vừa ăn vừa đi, chỉ nhắc nhở ai đó ăn mạnh vào; Ăn mặc: Không có ăn gì cả, chỉ có mặc không thôi; Ăn nói: Cũng không ăn gì cả, chỉ nói không thôi; Ăn học: chủ yếu là học, quá trình học tập của một người, ăn không đáng kể”. Còn có thể đưa ra nhiều, rất nhiều thí dụ khác nữa.

Với y, đoạn văn viết về ăn ấn tượng nhất vẫn thuộc về Tản Đà. Ai đời, lại có câu văn như thế này: “Đồ ăn ngon, giờ ăn không ngon, chỗ ngồi ăn không ngon, không được người cùng ăn cho ngon: không ngon. Giờ ăn ngon; đồ ăn không ngon, chỗ ngồi ăn không ngon, không được người cùng ăn cho ngon: không ngon; Chỗ ngồi ăn ngon; đồ ăn không ngon, giờ ăn không ngon, không được người cùng ăn cho ngon: không ngon. Được người cùng ăn cho ngon, đồ ăn không ngon, giờ ăn không ngon, chỗ ngồi không ngon: không ngon”. Âu cũng là cách diễn đạt của một người lúc đã có hơi men chăng? Trong quyển Nghệ thuật chơi chữ trong văn chương người Việt (NXB Giáo Dục - 2004), nhà nghiên cứu Triều Nguyên cho rằng, “chỉ cần viết lại một câu như sau là đủ: “Ăn sẽ không ngon miệng, khi chỉ một trong bốn yêu cầu sau không ngon (hay không phù hợp): đồ ăn, giờ ăn, chỗ ngồi ăn, người cùng ngồi ăn” (tr.119). Nếu thế, còn gì Tản Đà?

Cá tính, bản lĩnh của nhà văn thể hiện ở văn phong, từ chọn chữ đến cách diễn đạt. Đọc văn bản đã ra đời từ thuở xa xăm, phải đặt vào trong bối cảnh chính trị - xã hội đương thời, mới có thể nắm bắt hồn vía về sự ra đời của nó trong thời điểm đó. Chẳng hạn, “Từ độ sầu đến nay, ngày cũng có lúc sầu, đêm cũng có lúc sầu. Mưa dầm lá rụng mà sầu, trăng trong gió mát mà càng sầu; một mình tĩnh mịch mà sầu, đông người cười nói mà càng sầu; nằm vắt tay lên trán mà sầu, đem thơ văn ngâm vịnh mà càng sầu. Sầu không có mối, chém sao cho đứt; sầu không có khối, đập sao cho tan…”. Đoạn văn này, Tản Đà viết đâu khoảng năm 1918, cứ nghe như thơ, như phú bởi điệu văn/ câu văn du dương biền ngẫu. Văn xuôi hiện  đại Việt Nam đã đi những bước đầu như thế.

Người ta bảo, muốn bình văn phải biết cảm. Đúng nhưng chưa đủ. Phải đọc nhiều nữa. Với đoạn văn trên, nhà thơ Xuân Diệu đã liên tưởng đến một bài vọng cổ cùng chủ đề cũng ra đời cùng thời điểm. Không rõ ông chép từ đâu, hay từ trí nhớ đã từng nghe? Dù không biết ca, chỉ đọc nhưng lạ cho câu chữ bởi nó tạo ra một xao xuyến đến lạ thường: “Đêm trường, tôi đứng ngồi sầu thảm/ Không biết tôi thương nhớ ai mà tôi ra ngẩn vào ngơ/ Có phải là tôi đây, thương mây, thương gió hay thương ai cuối bãi đầu ghành?/ Hay là tôi đây thương cây, thương cỏ, thương bông rồi lại những thương nhành/ Cái chữ “thương” tuy không ai giựt với ai giành/ Nhưng sao nó khiến cho người vơ vẩn đứng ngồi không an!”. Tâm trạng này, cách kể lể này, biết đâu nay có người cho là “sến như con hến” nhưng y lại không. Bởi các từ nối theo nhau nhịp nhàng vần điệu, cứ quấn quít, níu kéo nhau dằng dặc mãi…

“Vậy thì ai xin tôi cũng cho, ai mua tôi cũng bán, bán mắc, bán rẻ, tiền xu, tiền nhỏ, đây tôi cũng bán phứt chữ “thương” này/ Cũng vì thế mà thân tôi đây như gió dạn, như sương dày/ Chữ “thương” này không biết gốc rễ tại nơi đâu?/ Vậy tôi xin hỏi người tâm trí cao sâu/ Tỏ khúc nôi cho tôi được rõ đuôi đầu/ Để mà tôi dứt một mối mối sầu gây bởi chữ ‘thương’”. Nếu tác giả bài vọng cổ này, muốn “bán phứt chữ thương”, về sau thi nhân Ưng Bình Thúc Giạ Thị lại có tập thơ Bán buồn mua vui. Có phải thi nhân xứ Huế ảnh hưởng từ câu ca đao: “Bây giờ đôi ngả xa xôi/ Có thương thì phải mua vui bán sầu”. Xét ra, đây cũng là cũng là người biết sống. Sống phải vui. Tội gì phải chuốc lấy nỗi buồn rầu thăm thẳm? Nghĩ là thế. Nhưng rồi phải chất liệu của cuộc sống thời buổi nào cũng nhiều gam màu khác nhau.

À, câu “Sầu không có mối, chém sao cho đứt; sầu không có khối, đập sao cho tan…”, nay lại nghe na ná như… lời dạo đầu trong phim Bao Thanh Thiên đã phát sóng từ năm 1997, sau Tản Đà những gần 80 năm: “Rút gươm chém xuống nước, nước chảy càng mạnh/ Nâng chén tiêu sầu càng sầu thêm”. Mới đây nhất, ông nhạc sĩ Vũ Thành An lại có ca từ: “Ta lần mò leo mãi không qua được vách sầu”. Ra là vậy, với mối sầu riêng tư thì thời nào cũng chẳng khác gì. Mà dù có sầu đến cỡ nào đi nữa cũng phải ăn. Tội nghiệp nhất vẫn là những là ai tương tư: “Sầu tình cơm chẳng muốn ăn/ Đã bưng lấy bát lại dằn xuống mâm”. Ăn làm sao được mà ăn: “Bữa cơm có cá có canh/ Anh không mát dạ bằng anh thấy nàng”.

Ai lại cũng từng trải qua năm tháng này? Y cũng thế thôi, từ cái thuở Tôi chạy theo thơ (2003) đã: “mắt nhắm lại đợi chờ/ em sẽ đến bằng bước chân rón rén/ nếu ban ngày không gặp được nhau/ thì chiêm bao sẽ là nơi hò hẹn...”. Rồi sau đó, có lúc: “Có những giấc chiêm bao/ Đi qua trong giấc ngủ/ Vẫn còn nghĩ về nhau/ Là ngàn năm sóng vỗ/ Vẫn hiện hữu trong đời/ Sớm mai hoa vẫn nở/ Ngoài chân trời có trời/ Hai người chung hơi thở”. Những câu thơ đã viết lại quên. Quên rồi lại nhớ. Một vết xước nhỏ nhoi trong lồng ngực bền theo năm tháng. Nhưng rồi, dù muốn gì thì muốn, con người ta cũng phải ăn.

Ăn ảnh nhé? Thế mới là tiếng Việt thần sầu quỷ khốc. Một người xem tấm ảnh thốt lên: “Chà, ăn ảnh quá ta”. Thế thì khen hay chê? Cả hai đấy chứ. Phải ngầm hiểu dù chàng ta/ cô ta bề ngoài chỉ “thường thường bậc trung” nhưng lúc chụp ảnh lại đẹp hẳn lên. Đó là ăn ảnh. Ăn tạp nhé? Nghe bảo thế, có người sẽ giận. Ăn tạp là ăn hầm bà lằng xắn cấu, ăn món ngon lẫn món xoàng, ăn tả pín lù, món quen lẫn món lạ, miễn có là ăn, cốt nhồi nhét cho đầy bao tử. Thế nhưng, đừng nói đâu cho xa, chỉ khoảng chừng 300 năm trước đậy thôi, khi nghe “ăn tạp” không ít người reo lên mừng rỡ. Cứ theo như Từ điển Việt-Bồ-La (1651) thì ăn tạp là “ăn thịt. Ngày ăn tạp: Ngày được phép ăn thịt”. Vậy thích nhé. Còn ăn táp là “ăn thịt nướng dối hầu như còn sống”. Trải theo năm tháng ngữ nghĩa tiếng Việt đã có sự thay đổi.

“Ngồi ăn chạo rạo/ Uống rượu bằng tô/ Xương xóc mút vô/ Thịt thà cả rổ/ Kẻ thì ăn tộ/ Người lại gặm xương/ Kẻ nhai be sườn/ Người gặm khu lẳng/ Vừa đi vừa cắn/ Cái miệng chèm nhèm/ Té xuống đứng lên/ Lại còn nói bướng/ Xưng hùng xưng tướng/ Chẳng đứa nào say”. Đích thị là những kẻ ăn thịt chó. Nhân vật của ông Nam Cao bảo: “Trẻ con không biết ăn thịt chó”, chỉ cách ngụy biện của ông bố  đãi bợm nhậu tham ăn tham uống, ăn hết cả phần của vợ con. Ăn thì phải uống. Uống rượu. Rượu vào lời ra. Tất nhiên rồi. Nhưng cũng phải hỏi ngay câu này, chứ chút nữa say tít cung mây lại quên. Những lời “bán trời không mời thiên lôi” phát ngôn trong lúc say bí tỉ thường bị đánh giá “ba xi đế/ ba xích đế” hoặc “ba hoa xích đế”. Hiểu như thế nào cho đúng? Thành ngữ này chỉ có ở Nam bộ.

Trong quyển Nói có sách (1971), nhà văn Vũ Bằng giải thích: “Khi muốn chỉ một câu chuyện gì đó không chính xác hoặc phù phiếm, hão huyền ta thường gán cho nó một câu “Chuyện ba xích đế”. Nếu đem chiết tự mà xét “ba xích đế” chẳng có một nghĩa gì hết. Nhưng nói như vậy, không phải nó không có xuất xứ. “Ba xích đế” không bắt nguồn từ Tam hoàng, Ngũ đế, mà rất đơn giản, từ “ba xích đế”. “Đế” là một thứ rượu lậu, ta thường uống, nấu bằng cỏ “đế”.

Trước đây, vì độc quyền nấu rượu ở trong tay người Pháp, nên ở miền Nam, muốn có một thứ rượu vừa rẻ, vừa ngon do nông dân ta lấy gạo nếp làm ra, cũng phải nấu “lậu”. Muốn nấu “lậu” thì phải ra “biền” (ruộng) mà nấu. Ngoài biền không có sẵn củi, nên phải nấu rượu bằng cỏ đế. Vì thế mà ta gọi “rượu đế”, tức rượu “lậu” đun bằng cỏ đế. Uống trung bình chỉ ba xị (ve nhỏ) là say. Một lẽ nữa là ở miền Nam thường hay có lối nói ăn ba miếng chơi, uống ba chén chơi, nói ba câu chuyện chơi tiêu khiển. Thành ra có từ “ba xích đế”. Sau ba xị đế rồi, người ta bắt đầu “tửu nhập ngôn xuất’, nói có chất say, không kiểm soát được nữa.

“Chuyện ba xích đế” tức là “chuyện ba xị đế”. “Tào lao ba xích đế” là nói chuyện tào lao sau khi đã uống ba xị đế rồi” (bản in năm 1996 của NXB Đồng Tháp, tr.73-74). Rõ ràng, ban đầu câu nói quen miệng là “ba xị đế”, sau trở thành “ba xi đế” hoặc “ba xích đế”. Mà “ba” rất gần với “ba hoa” nên trại qua “ba hoa xích đế” cũng lẽ thường tình. Còn có những cụm từ tương tự như ba hoa thiên địa, ba hoa chích chòe… tức là “nổ” cho sướng miệng, “ba la bô lô/ bô lô ba la”, tự vống những gì có liên quan đến khả năng, tài năng của mình nhưng thực chất “ba voi không được bát nước xáo”. Gần đây lại có cụm từ “tào lao bí đao” cũng gần đồng nghĩa, là nói chẳng trúng trật vào đâu cả. Cách nói này, còn có những cụm từ tương tự như ba hoa thiên địa, ba hoa chích chòe…Ấy là cách nói/ phát ngôn của kẻ say, còn hình dáng thế nào? Thành ngữ miền Nam lại có câu “Ba chùm ba chán”, Việt Nam tự điển (1971) giải thích: “Chệnh choạng, dáng người say, say rượu hoa cả mắt thấy một thành ba”.

Ông Bùi Giáng có câu thơ cà rỡn: “Một lần thấy một ra ba/ Một lần thấy một mà ra bốn lần”. Sao lại bốn lần? Nói lái thử xem. Trong câu đối tiếng Việt, đôi khi mượn cách nói lái để có những câu đối ngộ nghĩnh. Thử lục trong trí nhớ, ghi lại xem sao. Ừ rằng, thì, là, mà, đây nè: Con cò lửa đứng trước cửa lò; Con cá đối nằm trong cối đá; Mèo cụt đuôi nằm mút đuôi kèo; Con mèo cái nằm trên mái kèo; Chim vàng lông đậu trên vồng lang; Cống cả đá, cá cả đống; Cỏ đầu Cầu Đỏ xanh biêng biếc/ Cò lửa Cửa Lò Trắng phau phau (Cầu Đỏ ở Đà Nẵng, Cửa Lò ở Nghệ An); Cá có đâu mà anh ngồi câu đó?/ Biết có không mà công khó anh ơi v.v… Nhân đây ghi lại luôn câu hò đối đáp cực hay. Nữ vênh mặt mà rằng: “Con công con rùa, con cua con rồng/ Anh mà đối đặng được nằm chồng lên bụng em”. Táo tợn thật. Tưởng bắt bí, nào ngờ chàng trai thông minh, tinh quái ra phết: “Con cóc con sáo, con cáo con sóc/ Anh đà đối đặng, nhảy phóc lên bụng em anh nằm”.

Còn dăm câu nói lái khác nhưng cái tâm người đặt ra ác quá, chẳng hạn, Mài kéo cắt đuôi mèo cái; Lòn cưa cứa cổ lừa con… thoạt đọc qua đã rợn tóc gáy. Không phải ngẫu nhiên thời xưa các thầy đồ thường ra câu đối và buộc học trò đối lại, vì qua đó, có thể biết tính nết của từng người mà uốn nắn, dạy dỗ.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 23.5.2018

 

que-huongbnloc


Một từ tiếng Việt vừa mới ra đời, vui không? Không, vì nó mới ló mặt ra đã bị thiên hạ ầm ầm phản ứng: “Thu giá” - nhằm thay thế cho “thu phí”.

Tại sao có sự thay đổi này? Trả lời báo Sài Gòn giải phóng (ngày  22.5.2018), ông Bộ trưởng nọ giải thích: “Trước kia, việc điều chỉnh vấn đề "thu phí" qua các thông tư của Bộ Tài chính, nhưng nay đã chuyển sang Bộ GT-VT quản lý, điều tiết để làm sao đảm bảo sự hài hòa. Chúng ta phải xem BOT là một "sản phẩm của doanh nghiệp", mà doanh nghiệp thì ấn định giá. Còn phí thì mang tính chất nhà nước”. Cụ thể, theo luật, nếu "thu phí" thì mức thu phí sẽ do HĐND, Quốc hội quyết định; còn "giá" là dịch vụ của doanh nghiệp cung cấp. Đây là "sản phẩm của doanh nghiệp" thì chúng ta điều chỉnh cho hợp lý. “Chuyển qua "giá", chúng ta mới giảm được giá sao cho cân đối được phương án tài chính. Chứ nếu coi đó là "phí" thì phải thông qua các bộ… Đây là cơ chế của Chính phủ thôi. So ra không khác gì cả, chỉ là linh động hơn rất nhiều”, Bộ trưởng khẳng định”.

Cách giải thích lòng vòng này, là chuyện của người quản lý. Không bàn đến. Chỉ hỏi rằng, trong tiếng Việt xưa nay có từ “thu giá” hay không? Vừa đọc trên Facebook của nhà nghiên cứu Đoàn Lê Giang, có đoạn phân tích: “Chữ “phí” là chi phí, số tiền bỏ ra làm cái gì đó, hay số tiền bỏ ra tiêu phí cho một việc gì đó, nên thu phí là thu tiền phục vụ người ta được hưởng lợi một dịch vụ nào đó: thu phí xăng dầu, thu phí cầu đường, thu phí đò giang... Chữ “giá” là giá trị, giá cả một một món đồ gì đó, là định mức biểu hiện bằng tiền. Chữ giá và phí không hề đồng nghĩa hay gần nghĩa. Trong tiếng Việt xưa nay chỉ có “thu phí” chứ không hề có chữ "thu giá". "Thu giá" chỉ là "thu lại giá đỗ", nếu không thì vô nghĩa, không thể thay cho "thu phí" được. Chữ “giá” có thể dùng kèm với "thu phí" thành “giá thu phí”, chứ không thể dùng thay”.

Mọi việc rõ ràng, về chữ nghĩa, không bàn thêm.

Mới vừa rồi, đọc đâu đó bài viết của cô gái nọ mắt xanh mũi lõ, từ phương Tây đến sống và làm việc tại Hà Nội, tên là Blossom. Sau một thời gian “nhất lân la, nhì trà trộn” với bà con bản xứ, cô đã đúc kết sáu điều kỳ lạ tại Việt Nam. Thật ra không chỉ có sáu, còn có nhiều rất nhiều điều kỳ cục khác mà cô chưa nhận ra, chẳng hạn, sự méo mó tiếng Việt vừa nêu trên.

Ở đây, y chỉ trích lấy đoạn bàn về ăn uống mà cô Blossom đã quan sát, đã nhận thấy tỏ tường: “Thực phẩm kỳ lạ: Người Việt nổi tiếng với những món ăn lạ lùng, thường gây tranh cãi như thịt chó, thịt mèo, trứng vịt lộn, rùa, chuột, thậm chí, tôi xin được nói, là cả nhím nữa. Rồi bạn sẽ thấy mọi thứ, từ những con sâu vẫn còn ngọ nguậy tới đầu chó treo lủng lẳng tới những loại côn trùng trườn bò trông sởn da gà; những con rắn còn sống bị rạch bụng giữa phố để lấy máu, trái tim hẵn còn đập bị người ta thả vào cốc bia rồi nốc cạn một hơi, tới những loài côn trùng, như dế được chiên lên làm đồ nhắm với bia, cùng với sâu hoặc nhộng. Ấu trùng dừa (đuông dừa) được ăn khi sống và nó cứ quằn quại trong miệng”.

Trong nghệ thuật ẩm thực của năm châu bốn biển, khó có thể nói đâu là kỳ cục và không kỳ cục. Đọc Món lạ miền Nam của Vũ Bằng, y khoái có dịp thưởng thức món thịt bò có tên gọi “bò kiến”, đại khái, “Ấy là vì cái bí quyết làm thịt bò kiến này không được chạm đến lửa: lửa nó làm khô mất huyết, nhưng phải dùng một thứ khác để làm cho thịt tái đi. Đó là giống kiến vàng. Thịt lựa chỗ nào ngon, nhất là cái thăn hay bắp vế, đem treo lên chỗ mát rồi giăng dây cho kiến vàng bu lại đen kịt như thể ong quân vây lấy ong chúa không để cho tổ hở một chỗ nào. Để như thế độ vài tiếng đồng hồ - muốn để từ sáng đến trưa càng tốt - miếng thịt vẫn cứ tươi như thường, không teo, trái lại vẫn cứ mịn màng thêm lên, đậm đà hơn lên và ngọt hơn lên”. Miếng thịt mềm đi, nói một cách nôm na là nhờ… nước đái kiến!

“- Nước đái nó ra sao?  

- Nước đái kiến vào mắt mình, nó “the thé” kỳ lắm, không tả được. Thoạt đầu, tôi tưởng đến mù, nhưng chỉ độ mươi năm phút thì hết, nhưng kiến nó đã vớ được mình thì “bám riết” không chịu rời ra. Tôi đành phải nhảy từ trên cây xuống dưới sông để họa may kiến có buông tha chăng: vô ích. Sau mãi có người bảo mới biết là giống kiến vàng sợ nhất tro, muốn đuổi chúng đi chỗ khác, cứ lấy tro mà rắc lên đường chúng đi, chỉ một lát là biến hết - có phần còn tốt hơn cả thuốc xịt côn trùng Fly Tox, My Tox nữa! Phải rồi! Đuổi chúng đi chớ đường có giết kiến làm gì, tội nghiệp! Là vì cái giống kiến vàng này quí lắm, có nhiều khi phải đi mua từng giỏ để đem về nuôi trên các cây có trái”.

Câu cuối ở đoạn văn của Vũ Bằng, có ai ngập ngừng, dừng lại không? Với y, ắt có. Không sinh sống nhiều năm ở nông thôn, nhất là tại miền Nam nên không thể biết thêm lợi ích của giống kiến vàng: “quí lắm, có nhiều khi phải đi mua từng giỏ để đem về nuôi trên các cây có trái”. Tại sao lại “nuôi trên các cây có trái”? Trả lời chi tiết này, cách dễ chịu nhất vẫn là đọc lại truyện ngắn Trộm của lạ của nhà văn Bình Nguyên Lộc.    

Trước hết, phải dài dòng một chút, rằng, trước đây, ở miền Nam có tạp chí Hương quê dành tặng cho bà con nông dân, không bán. Hai nhà văn Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam thay phiên nhau viết các truyện ngắn theo chủ đề “hương đồng gió nội”. Lúc NXB Trẻ mua bản quyền toàn bộ sáng tác của Sơn Nam, chính y đã tìm từ Hương quê các truyện ngắn của ông đã in để có được sự nối dài của Hương rừng Cà Mau. Và nay, tới phiên Bình Nguyên Lộc với tập truyện ngắn cùng tên Hương quê (NXB Trẻ - 2018) cũng chọn từ tạp chí trên. Người cung cấp nguồn tài liệu lần này là TS Nguyễn Văn Đông - giảng viên Trường Đại học Thủ Dầu Một.

Trộm của lạ, viết về cách trị loại kiến hôi đã khiến “cả cam lẫn quýt đều chua, nếu không èo, không chai cứng, không khô rom”. Trị bằng cách nào? Hãy nghe nhân viên sở Canh nông trả lời: “Nếu vậy thì rất dễ cứu vãn cây trái của quý ông. Đây là một phát minh của người Việt Nam ta của cụ Trương Vĩnh Ký”. Chi tiết này, không rõ Bình Nguyên Lộc đọc từ đâu, khó kiểm chứng, nhưng: “Thả kiến vàng lên những cây có ổ kiến hôi. Hai loài kiến này thù nhau “bất cộng đái thiên” và chúng sẽ giết nhau, và rốt cuộc kiến vàng thắng. Chúng nó thắng rồi chiếm luôn những cây đó, kiến hôi sẽ không bao giờ dám trở lại nữa hết. Ông không tin, cứ làm thử thì biết”. Quả nhiên mọi việc diễn ra trúng chóc, đúng y chang.

Thế thì, ai nghĩ ra cách sử dụng kiến vàng để “sáng tạo” ra món “bò kiến” số dzách ở miền Nam nước Việt? Chỉ có thể đệ tử của Lưu Linh. Mà con kiến vàng này đã đi vào ca dao huê tình, chàng ỡm ờ: “Ước gì anh hóa được con kiến vàng/ Bò ngang quai nón hun nàng cái chơi; nàng lúng liếng: “Ước gì em hóa được con kiến hôi/ Bò ngang quai nón đái trôi kiến vàng”. Căn cứ vào cách trị kiến vừa nêu trên, trong trường hợp éo le này, cô nàng thua là cái chắc.

Thích nhất vẫn là bài vè về các loại kiến, đọc nghe du dương, vui tai, ngộ nghĩnh: “Kiến lửa tập đoàn/ kiến vàng ở ổ/ Cao đầu lớn cổ/ thiệt là kiến hùm/ Cắn chúng la um:/ kiến kim, kiến nhọt/ Nhỏ như con mọt/ thiệt là kiến hôi/ Động trời nó sôi:/ kiến cánh, kiến lửa/ Bò ngang, bò ngửa:/ kiến riện đơn chai/ Bò dông, bò dài/ bò qua, bò lại/ Kiến đực nói phải/ kiến cái làm khôn/ Rủ nhau lên cồn/ xoi hang lạch cạch/ Thuở xưa, trong sách/ Bàn Cổ sở phân/ Sanh ra chúng dân/ đỏ đen như kiến…”.

Có ai ăn kiến không? Chắc không. Nhưng chăn kiến thì có. Bằng chứng là NXB Trẻ đã ấn hành tập truyện ngắn Người chăn kiến của Bùi Ngọc Tấn. Tìm đọc lại, phải mua lấy sách. Chi bằng đọc từ trang web của Hội Nhà văn TP.HCM đã post, trong đó, có đoạn: “Hôm ấy đi làm vệ sinh về, tay B trưởng bắt ra 4 con kiến đỏ bé xíu đựng trong cái vỏ bao thuốc lá. Hắn cầm mẩu gạch non khoanh 4 vòng tròn xuống nền xi măng. 12 anh tù được hắn chỉ định chia thành 3 ca chăn 4 con kiến nhỏ. Ông M không ngờ mình lại mê chăn kiến đến như thế. Công việc kì dị ngày càng hấp dẫn ông. Nó làm ông khao khát đến bồn chồn. Cho dù đó là khổ ải. Phải giữ kiến luôn ở trong vòng tròn. Trong ấy có bánh bích qui, có đường, có thịt, kiến ăn nhưng không chịu ngủ, kiến vẫn bò tìm tổ. Phải luôn tay chặn kiến lại và không được làm sứt một cái chân của kiến. Chính những điều ấy khiến ông thèm khát. Nó sẽ giúp ông quên thời gian, quên những thiên thu tại ngoại”. Người chăn kiến còn là tiếng lóng nhằm chỉ kẻ gỡ lịch/ nằm nhà pha/ nằm nhà đá/ nằm hộp…

Viết đến đây lại nhớ mẩu chuyện nhỏ, bấy giờ nhà thơ Nguyễn Thái Dương đang làm Thư ký tòa soạn của báo Mực Tìm. Ngày kia, đọc các bản thảo để chọn in, bắt gặp bài thơ có câu: “Ngồi buồn bắt giết kiến chơi”, anh rùng mình. Và từ đó, anh không còn dám quan hệ với tác giả câu thơ đó, dù trước đây đã là bè bạn. Chắc chắn y cũng vậy thôi. Hành động đó là biểu hiện của cái ác. Vậy mà bây giờ lại phổ biến “Game giết kiến - Trò chơi giết kiến online miễn phí cho Andorid, Iphone”. Thử hỏi, có phải đó là mầm mống tạo ra cái ác? Còn nhớ, thuở bé thường mê mẩn đọc tạp chí Phổ thông do nhà thơ Nguyễn Vỹ chủ biên, có lần đọc bài viết bàn về thơ Haiku. Đọc lâu quá rồi, chỉ nhớ đại ý, có nhà thơ cóc keng nọ làm bài thơ: “Con chuồn chuồn/ Ngắt hai cánh/ Trái ớt”. Anh ta thích lắm, đọc oang oang đầu làng  cuối xóm, thiên hạ khen rùm trời, duy chỉ có vị thiền sư nghiêm mặt bảo: “Đó là cái ác”; và sửa lại: “Trái ớt/ Chắp hai cánh/ Con chuồn chuồn”. Ôi chao, tâm thế nào thì thơ thế ấy.

Cái tâm của y ra làm sao?  Không rõ. Chỉ có điều y không còn ăn thịt chó nữa. Chỉ ăn thời đi bộ đội ở rừng, xa tít bên quê hương Chùa Tháp. Tuy không còn ăn nhưng vẫn chép lại bài vè này, ít ra cũng cho thấy cách chế biến trong Nam khác hẵn ngoài Bắc. “Nghe vẻ nghe ve/Nghe vè thịt chó/Thằng nào chịu khó/ Bắt nước cạo lông/ Thằng nào ở không/ Rang mè rang đậu/ Anh nào chịu khó/ Thì đi mua tương/ Cái việc tầm thường/ Ai ai cũng biết/ Muốn cho tươm tất/ Đậu phụng, đậu nành/ Củ sả, củ hành/ Mua ba tiền bún/ Một tiền rau húng/ Một trái dừa khô/ Bỏ tiền hùn vô/ Mua ba chai rượu/ Anh nào háo tửu/ Thì hùn thêm tiền/ Xách rổ đi liền/ Đi mau tới chợ/ Đừng có sớ rớ/ Gấp gấp mà về”.

Rõ ràng, không hề có mắm tôm, lá mơ, củ riềng… Chỉ mấy câu vần vè, nhưng ta cũng thấy được cái “không khí” rất ồn ào, tấp nập, nhộn nhịp khi chuẩn bị… nhậu! Sau đó, phải làm gì nhỉ? “Anh nào có nghề/ Ra tay đập chó/ Anh nào nhúm lửa/ Bắt chảo nước sôi/ Cạo lông sạch rồi/ Đem thui vàng hực/ Anh nào chịu cực/ Món nướng món xào/ Xương sống để sau/ Xương sườn nấu cháo”. Đã ăn thì phải uống. Dám quả quyết, trong các thức uống nhằm đạt đến thú vui tao nhã (lẫn thô tục) ở đời, chỉ có rượu được… đi vào thơ văn, nhạc họa, ca dao, hò vè với tần số cao nhất. Nhưng rồi nếu chọn lấy một, y chỉ chọn lấy bài này: “Uống một ly nâm nhi tình bạn/ Uống hai ly giải hạn cơn sầu/ Uống ba ly mũi chảy đầy râu/Uống bốn ly ngồi đâu nói đó/ Uống năm ly cho chó ăn chè/ Uống sáu ly ai nói nấy nghe/ Uống bảy ly làm xe lội nước/ Uống tám ly chân bước, chân quỳ/Uống chín ly còn gì mà kể/ Uống mười ly khiêng để xuống xuồng!”.

Khiêng một kẻ say quắc cần câu xuống xuồng, không khéo hắn ta té nhào xuống sông, kênh, rạch thì khốn. Vậy lúc ấy, phải làm sao giải rượu cấp kỳ cho kẻ đó? Dễ ợt, cứ việc kề tai hắn ta, nói khẽ: “Này, hiện nay, trong tiếng Việt đã xuất hiện từ “thu giá” - nhằm thay thế cho “thu phí”, nhớ chửa?”. Ngay lập tức, hắn ta sẽ bật người dậy, tỉnh táo, tỉnh queo như chưa hề uống giọt nào rồi kinh ngạc thốt lên một cách bình tỉnh bằng ngữ điệu cực kỳ nghiêm trọng: “Thế à? Thế à?”.

Thì đúng là thế.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 19.5.2018



Vietnamese_xam_artists

 

Đọc tác phẩm văn chương, còn có cái thú là qua đó, có thể tìm thấy dấu vết sinh hoạt của một thời. Chẳng hạn, hát xẩm - cũng là một cách ăn mày thiên hạ. Đem giọng hát ra kiếm cơm qua ngày. Đáng thương lắm. Đi ra nước ngoài, ở nơi chốn đông người qua lại thỉnh thoảng lại thấy có người ăn mặc, trang điểm kỳ quái, lạ mắt cứ ngồi sững như tượng, chẳng thèm hé răng nói nửa lời, cứ ngồi yên, ai thương tình thì ném vài xu vào cái mũ đặt dưới chân.

Sực nhớ đến một truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan viết về anh xẩm: “Hát hết bài xẩm chợ, anh xoay ra cải lương... Anh ngửa đầu, dúm gân mặt, há mồm ra mà hát. Tiếng đàn tưng tưng hòa theo, lúc khoan lúc nhặt: “Nào, các ông các bà cho nhà cháu kiếm bữa”. Anh xẩm này cứ hát và trời cứ mưa gió, cuối cùng: “Và khi đã hiến hết tất cả các bài hát anh thuộc, anh ngồi im lặng để chờ và để nghe. Sau hết sờ tay vào lòng thau không để vét. Rồi anh run cầm cập, xếp thau, ôm đàn, cuốn chiếu, cầm gậy, đứng dậy, thong thả lần lối đi...”.

Nói một cách vắn tắt, hát xẩm là một loại ca nhạc của người khiếm thị, họ đem ngón nghề của mình phục vụ bà con cô bác từ thành thị đến nông thôn để kiếm miếng cơm manh áo. Ngoài giọng hát, dụng cụ hành nghề còn có gì? Nhà văn Nguyễn Công Hoan miêu tả: “Anh ngồi trên manh chiếu, trước cái xoong sắt tây thủng, một đùi ghếch lên mặt đàn. Tay nắm cần, tay bật dây, anh uốn cung đàn trầm bổng theo tiếng hát khàn khàn. Cái mũ dạ, trơn từ đỉnh đến rìa, mềm oặt theo khuôn đầu, che cho anh khỏi lạnh gáy. Nhưng cái áo tây vàng rộng thùng thình không giữ nổi hơi rét cắt da. Mặt anh xám lại”.

Thế nhưng đừng có khinh thường họ. Bởi ông tổ của nghề là hoàng tử Trần Quốc Đỉnh, con của... vua Trần Thánh Tôn đấy! Ai tin thì tin, không tin thì thôi. Với truyền thuyết này rõ ràng họ cũng thuộc “danh gia vọng tộc” chứ không phải phường “khố rách áo ôm”! Với thế hệ chúng ta, họ là những người đã có công sáng tạo và lưu hành một lối hát độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc. Người hát xẩm cuối cùng của thời đại computer này là cụ Hà Thị Cầu lừng danh.

Cái hay của hát xẩm từ giọng hát, tất nhiên, nhưng không chỉ là những câu tầm phào mà “có tích có tuồng” hẳn hòi. Ngày kia, đã lâu, ra chơi Hà Nội, y có sưu tầm một bài hát xẩm. Và nhận rằng, phố phường Hà Nội của đầu thế kỷ XX hiện lên đa dạng, phong phú và “hoạt náo” hơn trong những bài ca dao mà ta đã biết. Thật tài tình, khi một “nghệ sĩ nhân dân” mở đầu: “Bắc kỳ vui nhất Hà thành/ Phố phường sầm uất, văn minh rợp trời/ Thanh tao lịch sự đủ mùi/ Cao lâu, rạp hát vui chơi đủ đầy... Vui nhất là ở đâu? Thưa: “Nhất vui là cảnh Bờ Hồ/ Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Đào, Hàng Ngang/ Mã Mây, phố Mới, Hàng Vàng/ Đồng Xuân, Hàng Giấy, Hàng Buồm vui thay/ Bán buôn tấp nập đêm ngày/ Ô tô đi lại như bay ngoài đường...”. Xem ra hoạt náo, nhộn nhịp lắm chứ! Ta hãy nghe tiếp: “Ấy là kể những phố to/ Còn như Hàng Quạt, Hàng Lờ, Hàng Da/ Cửa Nam, Hàng Lọng, phố Ga/ Hà Trung, Ngõ Trạm, Hàng Gà, cửa Đông/ Hàng Cân, Hàng Cót, Hàng Đồng/ Hàng Men, Hàng Bát, Hàng Bông, Hàng Bài/ Hàng Cau, Hàng Bột, Hàng Khoai/ Hàng Nâu, Hàng Trứng, Hàng Gai, Hàng Mành/ Hàng Tre, Hàng Sủ, Hàng Hành/ Phúc Châu, Cầu Gỗ, Bắc Ninh, Hàng Hòm”.

Chẳng lẽ chỉ có thế thôi sao? Còn nữa: “Còn như đường lớn phố Tây/ Tràng Tiền, Đồng Khánh, Hàng Khây, Nhà Thờ/ Nhất vui là hiệu Gô Đa/ Ra vào nhộn nhịp ai mà chẳng hay/ Tràng Tiền có rạp hát Tây/ Bên kia Đồn Thủy, bên này Nhà Đoan/ Vườn hoa Con Cóc trông sang/ Là dinh Thống sứ Xâm (Châtel) càng tránh xa/ Tượng Tây đứng giữa vừa hoa/ Bên này Đốc - lý trông ra Bờ Hồ/ Kể từ phố xá bây giờ/ Phồn hoa đệ nhất kinh đô Bắc kỳ”. Nhưng đã nói đến Hà Nội, mà không nhắc gì đến chợ Đồng Xuân là một thiếu sót, tựa như ăn cày tơ mà thiếu đi mắm tôm rất “quốc hồn quốc túy”. Chợ Đồng Xuân được người Pháp xây dựng từ năm 1889. Thì đây: “Ai ơi đứng lại mà trông/ Hàng vóc, hàng nhiễu thong dong rườm rà/ Ngoài chợ có chị hàng hoa/ Có người đổi bạc đi ra đi vào/ Nào hàng bún nấu bán rao/ Nào hàng kẹo đạn (?), phở xào, ngô bung/ Lại thêm bánh rán, kẹo vừng/ Rau, dưa đủ cả chè thung, chả giò/ Ồn ào chuyện nhỏ chuyện to/ Líu lo chú khách bánh bò bán rao”.

Còn gì nữa không? Thưa: “Nức nở là chị hàng na/ Chua chát hàng khế, ngọt ra hàng đườn/ Thơm tho là chị hàng hương/ Tanh ngắt hàng cá, phô trương hàng vàng/ Lôi thôi như chị hàng giang/Vừa đan vừa bán cả sàn lẫn nia/ Trề môi như chị hàng thìa/ Hàng bán bát đĩa phân chia đàng hoàng/ Lồng cồng như chị hàng thùng/ Thượng vàng hạ cám đủ cùng thiếu chi/ Cải hoa, cải bắp, cải thìa/ Thơm, mùi, húng láng, thứ gì cũng bán mua/ Hay cắp như chị hàng cua/ Nhảy nhót hàng ếch ai mua được rày/ Có người bán dép, bán giầy/ Có người cạo mặt, ngoáy tai đông đầy/ Có người xem tướng xem tay/ Chầu văn đồng bóng ốp ngay tức thời/ Thôi thì đủ thứ, đủ người/ Ồn ào nhộn nhịp, nói cười chen vai/ Có anh bán thuốc cũng hay/ Mồm rao liến láu, bệnh khỏi ngay tức thì”. Giỏi thật! Chợt nhớ đến Xuân Tóc Đỏ cũng từng bán thuốc cảm mạo thương hàn ở chợ này!

Thật tuyệt, các “nghệ sĩ nhân dân” đặt bài hát xẩm này trên không chỉ phản ánh hiện thực mà còn... phê phán hiện thực nữa! Thật cảm động khi kết thúc là một tiếng thở dài: “Văn minh đèn điện sáng lòe/ Thông thương kỹ nghệ mọi nghề chấn hưng/ Chỉ cánh áo ngắn khốn cùng/ Làm lụng suốt tháng mà không đủ dùng/ Bữa cơm, bữa cháo nhạt nhùng/ Thôi đành nheo nhóc bọc đùm lấy nhau”. Thì ra, người nghèo thời nào cũng khổ.  

Từ hát xẩm lại lan man nghĩ đến các điệu nói thơ ở trong Nam - nhất là nói thơ quân phường có liên quan gì đến hát xẩm?

“Quân phường” là gì?  Thời xa xưa ở Nam bộ. những người ăn xin được gọi chung là “quân phường”. Muốn người ta cho ăn phải biết há mồm ra mà kêu mà gào, có câu có kệ nhịp nhàng du dương: “Cao lương, cao lễ, ba để, ba đào”, Đại Nam quấc âm tự vị (1895) của Huình Tịnh Paulus Của giải thích: “Tiếng ăn mày chúc cho chủ bố thí sang giàu có dư”. Tiếng kêu ấy, gọi là tiếng “kêu cơm”: “Đi rảo ngoài đàng mà kêu nghèo, kêu đói cho người ta động lòng bố thí, ấy là công chuyện quân phường”. Dấu vết của từ quân phường, còn có thể tìm thấy trong Cổ Gia Định phong cảnh vịnh, từ ấn bản năm 1882 do nhà bác học Trương Vĩnh Ký sưu tầm đã cho thấy: Dãy thầy bói nhóm bên đường, thấy gieo tiền hào sách hào đơn, lời kỳ cục quẻ rằng linh quẻ/ Bọn quân phường ngồi dưới cội, nghe đổ sứa hồi khoan hồi nhặt, giọng oan ương hơi thiệt tốt hơi”.

Trương Vĩnh Ký giải thích: “Bọn quân phường là quân ăn mày nghề, bị 9 quai, hay ngồi dưới bóng cây mát, nhịp sứa mà nói thơ cho người đi đường thấy mà cho tiền”. Câu trên còn có từ khó hiểu: “đổ sứa/ phịp sứa”, vậy sứa là gì? Đọc một văn bản cũ gặp từ cũ, nếu không hiểu, còn gì thích thú? Bèn tra tự điển. Ông Huình Tịnh Paulus Của cho biết: “Sứa: Đồ nhịp làm bằng hai miếng cây khum khum. Sanh sứa: Đồ gõ nhịp trong khi ca hát”. Hai miếng gỗ ấy không chỉ tạo ra âm thanh khiến người ta chú ý, còn là một cách để bắt/ giữ nhịp. “Ăn mày là ai, ăn mày là ta/ Đói cơm rách áo hóa ra ăn mày”.  Theo Từ điển Việt - Bồ-La (in năm 1651) của A. de Rhodes thì mấy trăm năm trước ăn mày/ ăn mót cùng một nghĩa.

Trở lại với bài hát xẩm đã từng phổ biến ở Hà Nội, ấy là một cách miêu tả thời người Tây mới sang. Vậy, ở Sài Gòn trong giai đoạn ấy có gì khác. Thât tuyệt cho các “nghệ sĩ nhân dân”, sau khi đã viết Cổ Gia Định phong cảnh vịnh, lại có Kim Gia Định phong cảnh vịnh. Đã có xưa ắt phải có nay. Ta hãy khảo sát tiếng rao bán buôn của một thời: “Đêm thì tiệc khách lao xao/ Đứa rao ngưu nại, đứa rao hạnh trà/ Đứa thì cháo vịt, cháo gà/ Cùng là công bính cùng là hoa sanh/ Những là đậu chúc, liên canh/ Sa lê quân tử ngồi quanh các đàng/ Đèn chong ghế sắp hai hàng/ Dễ mê con mắt, dễ hoan tâm tình”. Hãy nghe ông Trương Vĩnh Ký giải thích: “Ngưu nại là sữa bò, hạnh trà là nước bột hạnh nhân có bỏ đường. Công bính là “màng công phiến”, là thứ bánh nói làm bằng cơm cháy. Hoa sanh là “lạc hoa sanh” là tiếng chữ, nghĩa là đậu phọng, ngoài Bắc kêu phọng là lạc. Đậu chúc, chệc nó rao “lộc tào chúc” là chè đậu xanh với đường. Liên canh là cháo hạt sen bỏ đường, nó rao “liềng chi cấn”. Sa lê là trái lê, ăn dòn rạo rạo như cát”. 

Ối dào, thuở ấy, sao mà nhiều âm thanh đến thế? “Dưới Bến Nghé hát lẳng lơ, giọng con đò, con rỗi/ Trên tàu voi ca khủng khỉnh, tiếng con mục, thằng nài”. Lại nữa, “Trọ trẹ dưới sông, quân Huế, kéo neo hò hụi/ Xi xô ỉnh đường cái/ Khách già rao kẹo ối chao ôi”. Hãy nghe ông Trương Vĩnh Ký “diễn nôm” cho dễ hiểu: “Dưới sông Bến Nghé, ghe đò, ghe rỗi lên xuống hát dằng dai dằng dãi, thuyền con con bán bánh, bán trái vởn vơ qua lại rao túi bụi tùng bùng, ấy là dưới sông. Còn trên bờ thì ghe quân thằng mục, thằng chăn trâu bò ngựa voi ca hát dong dỏi nghe ỉnh tai”.

Những tiếng rao này làm nên hồn của phố thị đó thôi. Nay đố ai còn nghe nữa?

Nếu Hà Nội có chợ Đồng Xuân, Sài Gòn có chợ Bến Thành. Về lai lịch  hai cái chợ nổi tiếng này, chỉ cần vào Google là rõ. Về chợ Bến Thành, đại khái, ban đầu nằm ở bờ sông Bến Nghé, cạnh thành Bát Quái (thành Gia Định) nên gọi chợ Bến Thành. Năm 1870 bị cháy lớn và được xây dựng lại. Năm 1912, thị trưởng Sài Gòn Eugène Cuniac cho xây lại ngôi chợ mới vị trí hiện nay. Thế thì, ngày xây dựng chợ mới như thế nào? Khó có thể hình dung ra. Mà này, ca dào hò vè có ghi lại không? Chưa khảo sát chu đáo nên không dám có câu trả lời, chỉ biết rằng do sự thay đổi vị trí nên mới có câu: “Chợ Bến Thành dời đổi/ Người sao khỏi hợp tan/ Xa gần giữ nghĩa tào khang/  Chớ tham quyền quý, phụ phàng nghĩa xưa”.

Mới đây khi đọc Hà Hương phong nguyệt của nhà văn Lệ Hoằng Mưu viết năm 1912, y có tìm một đoạn viết về ngày khánh thành chợ. Xin trích lại cho những ai muốn có thêm tài liệu về ngôi chợ lừng danh này. Xin lưu ý, câu văn thuở ấy biền ngẫu, du dương như thơ, càng dễ nhớ: “Tới dịp Sài Gòn ăn lễ, người con đông như thể hội Tần, đàng dập dìu xe ngựa rần rần, hỏi mới biết lễ mầng tân thị. Trong chợ dọn coi huê mỹ. ngoài đèn giăng cờ xí huyên thiên, tối bữa đầu có diễu binh đèn, người ngựa chật như nêm khó bước. Kìa dạ nhạc thổi kèn đi trước, lính cỡi lừa xông lướt theo sau, ngọn đèn lồng chói rỡ tợ sao, đèn cua, rùa, trạnh, kình, ngao, tôm, cá bắt từ thành Sơn Đá thẳng ngã Ba Hình, lộn vào Tổng thống dinh, pháo liên thinh đua nổ…”.

Những âm thanh này đã mất dần theo năm tháng. Nếu có cỗ máy quay ngược lại thời gian như chú mèo máy Doremon thì tuyệt quá nhỉ? Thôi thì, ta hãy tìm qua tác phẩm văn chương. Mà văn chương cũng là một cách vun đắp cho người đọc tình yêu non sông đất nước. Nhiều người bảo, trong đó có nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, anh cho biết thuở bé đọc tác phẩm của Tô Hoài đã có ước ao được một lần đến thăm làng Nghĩa Đô, quê của tác giả Dế mèn phiêu lưu ký. “Con sông dùng dằng con sông không chảy/ Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”, câu thơ của Thu Bồn đã khiến bao người muốn được tận mắt nhìn lấy sông Hương? Và y, cứ ám ảnh mãi bởi câu thơ dung dị lạ thường của Quang Dũng: “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”. Đọc xong câu thơ, những muốn tắt máy tính,  xách va li làm một chuyến viễn du, bỏ lại sau lưng tháng ngày công chức đã chai lì cảm xúc để đến nơi ấy tìm một nguồn năng lượng mới.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 16.5.2018

Le-Hoang-Muu-Ha-Huong-Phong-Nguyet-bia-5

 

Nói láo mà chơi nghe láo chơi

Giàn dưa lún phún hạt mưa rơi

Chuyện đời chán hẳn, không thèm nhắc

Thơ thẩn nghe ma đọc mấy lời

Tứ tuyệt của Vương Ngư Dương đề từ Liêu trai chí dị; bản dịch Tản Đà. Đôi lúc cũng nên như thế, phải là thế. Bồ Tùng Linh viết chuyện ma, âu cũng bàn về chuyện đời. Những ngày này, lật qua trang báo, leo lên mạng xã hội đã thấy những gì? Trả lời câu hỏi ấy, đôi lúc nín lặng rồi buông ra tiếng thở dài. Chẳng lẽ, cứ mãi đứng phía bên ngoài thời cuộc? Chẳng biết trả lời ra làm sao. Thôi thì nằm đọc sách.

Mấy hôm nay đọc Hà Hương phong nguyệt của nhà văn Lê Hoằng Mưu. Rồi nghĩ rằng: Trước đây, các nhà nghiên cứu đã chọn Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách là quyển tiểu thuyết đầu tiên của Việt Nam. Gần đây, cái nhìn đó đã có xu hướng thay đổi, thí dụ, nên chăng chọn Truyện thầy Larazo Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản thì hợp lý hơn? Rồi lại có ý kiến nên chọn Hà Hương phong nguyệt? Từ tháng 7.1912, Lê Hoằng Mưu đã cho đã in từng kỳ trên báo Nông cổ mín đàm, mãi đến năm 1914 mới lần đầu in thành sách. Lập tức, tác phẩm này gây chấn động dư luận. Cứ theo như tài liệu viết về cuộc tranh luận thì nó bị nhà cầm quyền thu hồi vì “dâm thư”, “góp phần làm hư thuần phong mỹ tục nước nhà”. Từ các cuộc bút chiến trên Công luận báoLục tỉnh tân văn từ năm 1923, trở về sau, khi bàn đến Hà Hương phong nguyệt, các nhà nghiên cứu đều xác định đó là lý do chính. 

Những ngày này, một trong những vấn đề thuộc về văn bản học đáng lưu ý, theo y vẫn là lần đầu tiên công bố trọn vẹn tác phẩm Hà Hương phong nguyệt (NXB Văn hóa Văn nghệ - 2018). Người có công tìm tòi ấy chính là nhà nghiên cứu Võ Văn Nhơn, đã tìm ra văn bản in cách đây đúng 105 năm. Tập sách dày gần 500 trang in, cứ mỗi ngày đọc nhẩn nha để lý giải xem vì sao thời ấy, nó đã bị thu hồi?

Ơ này, một quyển sách đã ra đời từ đầu thế kỷ trước, nay ngồi bàn vì lý do nó bị thu hồi há chẳng phải là kẻ ngớ ngẫn ư? Nghĩ thế, y bèn lảng qua chuyện khác. Chuyện gì? Rằng, nếu Hà Hương phong nguyệt bị thu hồi vì lý do “dâm thư”, vậy hãy xem nhà văn Lê Hoằng Mưu đã miêu tả các pha hấp dẫn ấy như thế nào? Hay đấy! Thú vị đấy! Ít ra cũng có thể biết, cái chuyện phòng the kín đáo này đã được diễn tả bằng ngôn từ văn chương ra làm sao. Diễn ra làm sao mà dư luận đương thời lên án dữ dội?

Muốn có một ý kiến gì về quyển sách nào, hãy đọc, chứ không thể ăn theo nói leo, nghe hơi nồi chõ. Thí dụ lúc đêm thanh vắng, vợ chồng gặp lại nhau sau những ngày xa cách: “Hà Hương thêm núng má hồng, Nghĩa Hữu càng trông càng khoái. Thương quá nên hóa dại, Hữu không nói được một lời, ôm vợ mà hun như bướm lại với hoa, nhan sắc thiệt mặn mà! Hữu uống nước lao canh mà càng khát”. Chỉ có thế. Liệu có là “dâm thư”?

Lúc thầy Đề lẻn vào phòng Nguyệt Ba: “Dong mây mưa cho phỉ khát khao, xắn tay vô mở cửa động đào, cho bướm bạc liệng vào nút nhụy. Tội nghiệp cho Nguyệt Ba! Mấy đêm chẵn mắt không ngưng lụy, thêm đàng dài nghỉ mệt mê man, bởi vậy cho nên, bướm ong bay đáo lại nghinh ngang, nào khác vườn hoang hoa bạ. Quả là nồi nhỏ khôn vừa vung cả, tiểu thuyền mà thả ra khơi, gió dập sóng dồi ắt rã. Vừa tỉnh giấc thấy đâu người lạ, kề bên mình thân đã lõa lồ, Nguyệt Ba hổ mặt muốn hô, chợt nhìn lại mình cô cũng vậy”. Cô sẽ khóc? Tất nhiên. “Thầy Đề liền bước lại gần kề, vói níu nhành huê mà bẻ. Miệng nói tợ kiết ma đọc kệ, tay lần như thầy bói lần song, nguyệt hoa hoa nguyệt não nồng, đêm xuân khó cầm lòng cha chả”. Chỉ có thế. Liệu có là “dâm thư”?

Và đây nữa, lúc chú Bảy người Chà Và chung chạ với Hà Hương: “Chú Bảy làm tợ như cửu hạn phùng cam vũ, khác nào bằng điểu ngộ lam phong, Hương thì khổ như thuyền bị sóng giữa dòng, chặc lưỡi rên là dường như sấm”. Chỉ có thế. Liệu có là “dâm thư”?

Nhìn chung, những cảnh giường chiếu chỉ táo bạo đến cỡ đó là cùng, thế nhưng thời ấy, thiên hạ đã phản ứng ầm ầm, liệu có đúng như các bài báo bút chiến thời ấy đã phê phán?

Lý do thu hồi, nhà nghiên cứu Võ Văn Nhơn phân tích chuẩn xác hơn: “Việc đưa một nhân vật phản diện làm nhân vật chính, tô đậm những sắc thái của một thứ tình yêu quay lưng với đạo lý, chạy theo những hấp dẫn của xác thịt thuần túy, là nguyên nhân chính khiến cho Hà Hương phong nguyệt bị dư luận lên án mạnh mẽ. Nàng Hà Hương xinh đẹp, còn biết làm thơ nhưng không phải là nhân vật lý tưởng như trong truyền thống mà lại mang rất nhiều tính xấu: đua đòi, cờ bạc, lợi dụng nhan sắc của mình để quyến rũ đàn ông. Kiểu nhân vật biểu tượng cho sự cám dỗ của sắc dục này chưa hề có trong văn học truyền thống. Tác phẩm của ông bị lên án vì đã chuyển tải một quan niệm không truyền thống về tình yêu, luân lý trong thời điểm nhân dân Nam bộ cần cổ súy cho đạo đức truyền thống, cho tình yêu nước để có sức mạnh chiến đấu với giặc ngoại xâm hơn là những tình cảm cá nhân ngang trái, buông thả”.

Qua các pha hấp dẫn vừa nêu trên, cũng là phong cách nhất quán của của Lê Hoằng Mưu. Theo y, phong cách ấy, gọi chính xác nhất vẫn là truyện thơ, một sự nối dài của truyện thơ nôm khuyết danh Lâm tuyền kỳ ngộ, Phạm Công - Cúc Hoa, Chàng Chuối tân truyện, Thạch Sanh, Lưu nữ tướng… Có khác chăng, là hình thức biểu hiện của từng câu thơ không xuống dòng đấy thôi. Do lẽ đó, y không đồng ý khi cho rằng đây là tiểu thuyết đầu tiên của Việt Nam, có thể “soán ngôi” Tố Tâm như các ông Bằng Giang, Bình Nguyên Lộc, Võ Văn Nhơn… đã khẳng định.

Mà thôi, ấy là chuyện của các nhà nghiên cứu học, còn y, bất quá chỉ là người làm người ham đọc sách mà lộng ngôn đấy thôi. Chấp làm gì. Hãy cứ để y bàn tiếp tục bàn chuyện gối chăn như Hà Hương phong nguyệt, có phải tốt hơn không? Thì cứ tiếp tục đi. Nào ai có nói gì đâu. Được lời như cởi tấm lòng, y hứng chí và nhớ lại đã đọc mẩu chuyện này: Trong kháng chiến chống Pháp, có một lần đi thực tế lấy cảm hứng sáng tác, nhà thơ Xuân Diệu đã chứng kiến một pha đối đáp cực kỳ có văn hóa. Khoái quá! Về sau, nhà thơ có ghi lại trong một tập tiểu luận văn học của ông.

Lúc ấy, trời ngã về chiều, mọi người đang đứng bên bến đò để chờ đưa qua sông. Giây lát sau, cô lái đò cập thuyền vào bến. Vì cô có nhan sắc, dễ nhìn nên một câu học trò láu lĩnh đã buông lời trêu chọc: “Hoa kia tươi tốt rườm rà/ Tuy rằng tươi tốt nhưng mà ong châm”. Mọi người cười ồ lên. Nhà thơ Xuân Diệu cũng cười, nhưng ông lại hồi hộp vì không biết cô lái đò sẽ phản ứng ra sao? Vì “hoa tươi” mà bị “ong châm” ắt hoa héo, hương tàn, nhụy rữa! Đùa cợt với người phụ nữ như thế kể ra cũng hơi bị ác. Nhưng cứ thong thả như không, chờ cho mọi người lên thuyền, xong, cô lái đò đẩy sào ra khỏi bến và bắt đầu cất giọng... ngọt như mía lùi: “Hoa tàn nhưng nhụy không tàn/ Muốn xem chị vén bức màn cho xem”. Ba chữ “vén bức màn” quả đắc địa! Cậu học trò lúc ấy có lẽ phải... nhảy xuống sông cho đỡ thẹn chăng? Chi tiết này không nghe nhà thơ Xuân Diệu kể!

Cụ Vương Hồng Sển là người sưu tập đồ cổ rất nổi tiếng, không những thế, cụ còn viết khá nhiều sách khảo cứu rất có giá trị. Đọc sách của cụ, điều khiến ta thích thú là thỉnh thoảng bên cạnh những vấn đề cực kỳ nghiêm túc, cụ lại chêm vào những câu ba lơn rất dí dỏm, thú vị, giống như ăn bún bò Huế mà ớt cay xé lưỡi vậy!

Chẳng hạn, trong tập Tự vị tiếng Việt miền Nam (NXB Văn hóa Thông tin -1993), có một đoạn viết về “Câu hát xưa của vùng Ba Cụm, Chợ Đệm”: “Đệm sút vun, bàng vẫn là bàng/ Anh đi ghe ở bạn, chị ở nhà bịt cái răng vàng, đợi ai?”. Đó là câu hát của trai kia chọc gái, gái có chồng chèo ghe chài; gái ở nhà không thủ trinh. (“Vun” là cơi đắp lên, làm cho cái viền bao đệm thêm dày thêm; “bàng” là cọ bàng, dùng đan “đệm”, đan “bao” gọi  đệm bàng, bao bàng).

Câu này có nghĩa hay ho của nó, thế mà một hôm có một học giả quê ở Chợ Đệm, đi kháng chiến về là Bảy Trấn, đến đọc cho tôi nghe một câu như vầy, và bảo tôi nếu nhớ thì xin bổ túc: “Đệm ba đu, em còn chê chưa khéo”. Lúc đó tôi đành chịu bí, và nhớ đâu như vầy: “Đệm ba đu, em còn chê chưa khéo/ Chờ cho trăng lặn rồi, em đòi đắp xéo mới nghe”. Cố nhiên anh Trấn chưa chịu. Nay vỡ lẽ ra tôi mới rõ, có lẽ anh nghe thấp thố: “Đệm sút vun...” rồi người nào đó nói lái lại là “Đ... suốt đêm” nhớ ba chớp ba nháng thành ra “Đệm ba đu...” v.v... Ấy tiếng Việt ta ác ôn như thế, chứ danh từ “đu” là vô nghĩa và vẫn không có trong nghề đương dát. Câu này tôi chịu rằng tục, để hay không là quyền người in từ điển, còn tôi có nhiệm vụ lượm một tiếng xưa, thì phải ghi chép lại đây, vì có như vậy mới gọi là làm giàu cho tiếng nói” (tr.396).

Người Việt vốn thích đùa. Dầu là người của cửa Khổng sân Trình, đạo mạo là thế, nghiêm nghị là thế, nhưng các cụ nhà Nho cũng nghịch ra phết. Cụ Nguyễn Khuê (1825 - 1896) ở thôn Vân Sơn (Bình Định) vốn giỏi chữ nhất trong vùng, dạy dỗ bao nhiêu nhân tài cho xã hội. Cụ có làm bài thơ như sau: “Bốn phía trông chừng thấy chúng xa/ Hai tay khe khẽ trụt quần là// Gành ngao lún phún rêu mờ đá/ Bãi hạc lao xao sóng trổ hoa/ Kiến ngỡ mưa giông tha trứng chạy/ Cóc ngờ lụt ói cõng con ra/ Cũng vì méo mó nên che đậy/ Giữ nắng gìn mưa của mẹ cha”. Bài thơ tả... danh lam thắng cảnh nào đó hay tả mưa giông, lụt ói? Nhầm tất! Ấy là một sáng đẹp trời các văn nhân thi sĩ ngồi uống trà đàm đạo văn chương. Bỗng họ thấy từ hàng rào nhà hàng xóm có một yểu điệu thục nữ bước ra vườn, ngó quanh quất rồi ngồi xuống... tồ tồ! Chứng kiến cảnh ấy nên bậc túc nho Nguyễn Khuê ở thế kỷ XIX đã có bài thơ như trên!

Đã có “cái ấy” thì phải kể thêm “cái này” cho “hòa hợp âm dương vậy”. Đầu thế kỷ XX, thời Pháp thuộc, có viên Thừa phái và quan Thiếu bảo trong huyện Kiến Xương (Thái Bình) thích hát cô đầu, nhưng keo kiệt nên thường quên tiền “bo”. Để “sửa lưng” khách, một hôm cô đầu trẻ xin hát tặng một bài ‘hát nói”. Khi khách vừa nổi tiếng trống chầu rôm rã, cô đầu cất giọng”mưỡu” ngọt ngào: “Người ta đều gọi ông Thừa/ Mà em nhìn mãi chẳng thừa cái chi/ Cái thừa là cái chi chi/ Vứt đi là hết còn chi là thừa”.

“Tom chát tom...” vút lên như khen, như khích lệ giọng ca. Cô đầu chuyển qua “hát nói”: “Ông thừa gì thế?/ Bấy lâu nay ôm bế tiếng ông Thừa/ Em nhìn xem mặt mũi đều vừa/ Mà nhìn kỹ cái thừa đâu chẳng thấy/ Có phải cái thừa là “cái ấy”/ Thì đây này “cái thiếu” của em đây!/ Đem thừa kia bù với thiếu này/ Cho khít khịt từ nay vừa vặn cả”. Chỉ mới nghe đến đây, khách hứng chí “tom chát tom” và cười sảng khoái. Cô đầu bình tĩnh hát tiếp: “Ông Thừa vì vét tiền thiên hạ/ Cụ Thiếu càng ham của thế gian/ Thiếu Thừa âu cũng là quan”. Câu hát vừa dứt. Mặt khách đỏ bừng bừng nhưng cũng cố... nhoẻn một nụ cười!

Còn nhớ, năm xưa, y có mua được quyển Văn hóa làng Quỳ Chử (NXB Văn Học) của nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Trọng Miễn, chỉ in 500 bản. Làng này nằm cạnh quốc lộ 1 A và đường xe lửa Bắc Nam - cách thị xã Thanh Hóa 10 km về phía Bắc, có một bề dày văn hóa rất đáng nể. Xin chọn nhón một mẩu chuyện này đã in trong sách: Trong làng có tay lý trưởng hách dịch chẳng may bị đau răng, thường chửi quàng, chưởi bậy làm điếc tai làng xóm. Bữa ấy, cụ Cử Quỳ, đang tiếp khách văn nhân tao nhã mà cứ nghe những “lời có cánh” ấy, cụ bực mình lắm. Để dạy cho lý trưởng một bài học, cụ bèn viết câu đối, sai học trò sang dán trước nhà lý trưởng: “Thèm ăn, răng đã lung lay rụng/ Chán đ..., cu còn lủng lẳng đeo”. Chỉ có mấy chữ mà từ đó về sau, dù đau răng, nhức buốt nhưng tay lý trưởng đó cũng phải ngậm tăm, không dám há mồm chửi tục nữa!

Đấy! Ông cha ta cười cũng “độc”, phải không?


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 2.5.2018

 

anh-nghia-pham-le-minh-quoc

Lê Minh Quốc - Nghĩa Phạm chụp khoảng năm 2000 tại nhà riêng


Lại vừa đi Đà Nẵng về. Lần đầu tiên lên chơi chùa Linh Ứng tại Sơn Chà. Ngày lễ, người đi như trẫy hội. Trưa nắng. Đứng trên núi nhìn về khơi xa. Tưởng chừng như còn nghe tiếng sóng vỗ. Sóng vỗ trong lòng. Kỷ niệm cũ ùa về. Tất cả đã cũ. Lãng quên. Chỉ còn lại “Bạch vân thiên tải không du du”? Ngàn năm mây trắng trên đầu còn bay. Không đâu. Những hình bóng đã qua dù gì đi nữa cũng đã là là một phần đời sống của dĩ vãng. Làm sao có thể phủ nhận? Làm sao có thể lãng quên đi một mùa son phấn trong một ngày lãng du? Ừ, cứ cho là thế. Nhưng rồi mỗi người lại có một mối quan tâm khác. Một đường đi. Một nẽo về. Phải vậy thôi.

Lại nhớ đến câu thơ ngẫu hứng của bạn thơ Trương Nam Hương đã đọc trong ngày họp mặt gia đình. Một tiếng thơ hòa tan trong sóng gió bên một bến sông, nơi ấy, y đã từng bơi lội thời còn đi học. “Tình yêu lộng lẫy sông Hàn/ Đêm nay trăng mật trên làn da nhau/ Trái tim hòa nhịp hồng cầu/ Một nhà thơ nữa bắt đầu hoài thai”. Thơ tặng cho nhau. Tình bạn. Làm sao quên? Câu thư tư đã ngụ ý gì? Lúc nghe thơ tặng, y đã nhớ lại câu thơ đã viết tặng bạn từ năm 1990, lúc nhìn bạn ru con: "...Như là vượt núi trèo non/ Ru con - tôi đã già hơn mấy lần/ Cảm thông là tiếng chim ngân/ Cùng ru con có một vầng trăng kia/ Ngủ đi con. Đêm đã khuya".

Những lúc về quê, một trong những điều thích thú nhất vẫn là món ăn. Món ăn quan trọng lắm. Tất nhiên rồi. Không cần phải dài dòng cà kê dê ngỗng làm gì. Chỉ xin nói thêm rằng, món ăn còn đóng vai trò nhịp cầu gắn kết của tình hữu nghị. Những ngày này, sự kiện về cuộc họp thương đỉnh liên Triều tại Bàn Môn Điếm đang được cả thế giới quan tâm. Tò mò hỏi rằng, dịp đó, họ sẽ ăn những món gì? Căn cứ vào nguồn tin của hãng thông tấn Reuters, báo Thanh Niên ngày 24.4.2018 cho biết: “Cụ thể, món rosti Thụy Sĩ (khoai tây bào chiên) sẽ xuất hiện trên bàn tiệc để phục vụ ông Kim. Theo Nhà Xanh, món ăn được chọn như một sự gợi nhớ về thời thơ ấu ông Kim từng sống tại Thụy Sĩ. Trên thực tế, Triều Tiên chưa bao giờ xác nhận thông tin lãnh đạo Kim từng học tập ở Thụy Sĩ, nhưng nhiều bạn học cũ và giáo viên khẳng định điều này. Cũng trong thực đơn, món John Dory nướng, làm từ cá Dory sẽ dành cho Tổng thống Moon nhớ về tuổi thơ ở thành phố cảng Busan.

Ngoài ra, món mì lạnh kiểu Bình Nhưỡng, hay còn gọi là naengmyeon, cũng được phục vụ trên bàn tiệc thượng đỉnh. Nhà Xanh cho biết đây Tổng thống Moon đã đề nghị món mì này từ tiệm Okryu Gwan, nhà hàng nổi tiếng của Triều Tiên, và phía Bình Nhưỡng đã đồng ý. Món ăn đặc biệt sẽ được đích thân bếp trưởng của Okryu Gwan tới Bàn Môn Điếm làm.

Hai nhà lãnh đạo cũng sẽ được thưởng thức rượu làm từ đỗ quyên. Bên cạnh đó, trên bàn tiệc cũng phục vụ rượu munbaeju truyền thống, vốn bắt nguồn từ miền Bắc nhưng giờ rất nổi tiếng ở Seoul”.

Nhân đây lại nhớ, vào khoảng tháng 11 năm 2017, khi Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in chủ trì đãi người đồng cấp Mỹ Donald Trump trong cuộc gặp chính thức tại Seoul, AFP cho biết, trong thực đơn có món sườn bò. Vấn đề thiên hạ quan tâm vẫn là ở chỗ miếng sườn bò ấy, có rưới nước sốt gì? Thưa, nước sốt làm từ món tương 360 năm tuổi. “Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét”. Không rõ, kỹ thuật làm tương Bần của nước Nam ta và Hàn Quốc trong tương đồng có gì dị biệt?  

Thử hỏi, vì sao lại Hàn Quốc đãi cả “món tương 360 năm tuổi”? Đơn giản chỉ vì rằng món tương này làm từ năm 1657, là năm sinh của một trong những vị cha già của nước Mỹ là Benjamin Franklin. Thế thì mọi việc không hề ngẫu nhiên mà đã khái quát được sự tinh tế trong nghệ thuật ngoại giao, từ thức ăn đấy chứ?

Với y, một trong những khoái trá của lúc về quê vẫn lên đèo Le, nơi ấy nổi tiếng với món gà luộc. “Quảng Nam ta có đèo Le/ Bà con ta nói cứ đè mà leo”. Lại nhớ, thời còn trai trẻ, chưa hết xí quách, còn sung, nhà thơ trào phúng Cung Văn lên chơi nơi này đã ngẫu hứng nghĩ ra vế đối cực kỳ ba trợn: “Lên đèo Le, đá đứng leo/ Xuống dốc Dựng, chưn đừng nới”. Chưn là chân, phát âm theo kiểu Quảng Nam hay cãi. Không chỉ hay cãi mà còn biết nói lái một cách tài tình nữa. Mà hầu như người dân vùng miền nào cũng biết nói lái.

Rằng, ở xứ Nghệ có anh chàng nọ làm nghề phá núi, lấy đá. Ngày nọ, cũng theo bạn bè đi hát ví, anh chàng mới thò mặt đến, có cô nàng trêu:

Đố ai đội đá vá trời

Ai chôn con nuôi mẹ, ai khóc trời cho măng lên?

Chữ nghĩa không bao nhiêu, lại không đọc Nhị thập tứ hiếu nên anh chàng ngắc ngứ. Không trả lời được. Cáu ba xương sườn, nhưng đành chịu. Trong lúc bí rị, sượng trân, anh chàng bực mình buột miệng:

Sự đâu có sự lạ đời

Đá em leo thì có, đá vá trời có đâu?

Ai nấy cười rần rần. Khen ngợi câu đối lại quá tài tình. Còn cô nàng đỏ bừng mặt vì ba chữ tuyệt hay “đá em leo” mới... ý vị làm sao! Đấy! Cười với chữ với nghĩa như thế mới thâm trầm!

Đá là đá. Nhưng đá đi chung với vàng trở thành “đá vàng” lại hàm nghĩa khác. Truyện thơ Nôm Ngọc Kiều Lê do Lý Văn Phức chuyển thể từ tiểu thuyết chương hồi cùng tên của Trung Quốc có câu: “Đá vàng đá tạc một lời/ Cầm bằng đá nát vàng phai cũng liều”.  Sực nhớ đến câu hát ví cũng ở xứ Nghệ, rằng, có một vị quan lớn về hưu, dù tuổi cao sức yếu nhưng còn ham vui, thường chỉ đứng sau “gà” cho các o phường vải. Ngày nọ, biết có đám bạn phường rèn kéo đến, ông ta “gà”:

Một lời vàng đá chi chi

Mặc ai thì thụt, thụt thì mặc ai

Câu này nói lên được động tác của nghề rèn. Biết vị quan lớn “gà” cho câu oái oăm quá, đám thợ rèn bèn “láu cá”:

Một quan thì vẫn chưa dài

Còn đây thì thụt kiếm vài ba quan!

Câu hát đối lại ác quá. Ác ở chỗ tráo nghĩa của chữ “quan” và “thì thụt”.

Hãy trở lại với món gà đèo Le khét tiếng là ngon. Dù món ăn quen thuộc nhưng cái ngon của nó chính là ở sự chế biến. Nghĩ thế, bởi từng tự tay làm bếp nhưng rồi chính y cũng phát ngấy lên. Không hề gợi lên một sự thèm thuồng nào. Tại sao? Y hoàn toàn không biết cách nấu nướng. Làm thơ cũng vậy thôi. Phải biết sử dụng các con chữ điêu luyện như tay đầu bếp lúc xử lý các nguyên liệu. Họ thừa sức biết, món gì sẽ cần các loại gia vị gì để cuối cùng đạt đến sự khoái khẩu. Nhà thơ cũng chẳng khác gì khi quan sát, tìm tòi từ các con chữ.

Mà các con chữ đôi lúc cũng oái ăm quá đi mất. Chẳng hạn, tục ngữ có câu: “Vắng chủ nhà, gà mọc đuôi tôm”; vế sau còn có dị bản “gà vọc niêu tôm/ gà vọc niêu cơm”. Lâu nay đã có nhiều tranh luận chán chê, mới đây nhất, khi bàn về tục ngữ này, nhà nghiên cứu An Chi cho rằng: “chuyện tranh cãi có vẻ như vẫn… chưa đến hồi kết” (Báo Thanh Niên ngày 22.4.2018). Xem ra, để hiểu lời ăn tiếng nói từ ngàn xưa để lại, quả không  dễ chút nào.

Trước hết, cần bàn về từ “vọc”, có phải đó là tính cách của “Con gà tục tác lá chanh?”. Theo Việt Nam từ điển (1931): “Vọc: Vầy, mó”. Hiểu theo nghĩa này, ta có các câu cửa miệng “Hoài hồng ngâm cho chuột vọc, hoài hạt ngọc cho ngâu vầy”. Động tác vọc, Tự điển Việt Nam (1971) bổ sung: “Đá động, thò tay vào, vầy mó, nặn bóp cho sướng tay”. ”. Phương ngữ Nam bộ (2014) của Nam Chi Bùi Thanh Kiên cũng giải thích: “Thò tay vào trong mà mằn mò rờ bóp cho sướng tay”. Lại nhớ đến câu ca dao: “Ngồi buồn vọc nước giỡn trăng/ Nước xao, trăng lặn buồn chăng hỡi buồn?”.

Động tác vọc là vậy. Đã bao giờ, có ai nghe đến gà vọc? Cũng nói về lúc chủ vắng nhà, ai lại không nhớ đến câu: “Vắng chủ nhà gà bươi bếp”?  Bươi là bới, là vạch ra, moi ra, lật, xáo từ dưới lên để tìm kiếm vật nào đó bị khuất ở dưới. Thời trẻ đi học, cô cậu nào chữ viết xấu quá, thầy cô thường chê: “Chữ viết như gà bươi”. Lại còn có câu vè nói ngược: “Gà cồ hay ủi/ Heo nái hay bươi/ Nước kém ba mươi/ Mồng mười nước dẫy”. Thế thì gà vọc là vọc ra làm sao?

Hơn nữa đâu phải lúc nào cái “niêu cơm/ niêu tôm” ấy, chủ nhà cũng để hớ hênh, quên đậy nắp khiến con gà có thể dễ dàng vọc? Ừ, cứ cho là gà có động tác vọc đi nữa nhưng cớ sao, con gà chỉ vọc “niêu cơm/ niêu tôm” chứ không vọc gì khác? Một câu thành ngữ/ tục ngữ ra đời thì nó phải có sức khái quát, phổ biến và hợp lý trong mọi tình huống.

Từ những dị bản nêu trên, y cho rằng cách ghi nhận của Việt Nam từ điển (1931) hợp lý hơn cả: “Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm”. Tại sao đuôi tôm? Bởi vì rằng, con tôm hay quẫy, búng, nhảy liên tục. Một khi nói “Hàng tôm hàng cá” ngoài nghĩa bóng “Nói năng hỗn xược, kích bác, kèn cựa nhau” (Thành ngữ tiếng Việt - NXB Khoa học Xã hội - 1978, tr.159), ta còn thấy rõ tính chất của sự quẫy động liên tục của tôm cá. Vì lẽ đó mới có câu so sánh “Mồm mép tép nhảy” là vậy. Mạnh ai nói, giành phần hơn về mình, nói không ráo mép, cái lưỡi liên tục cựa quậy đến… mỏi miệng. Thế thì, câu thành ngữ “Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm”, có thể hiểu có lúc vắng chủ nhà/ người đứng đầu thì kẻ dưới tự tung tự tác, ngang ngược, quậy đầu này, phá đầu kia, tự ý làm những việc không phải phép.

Có ý kiến cho rằng: “Tình trạng vắng chủ nhà (thì cũng giống như) gà (giai đoạn) mọc đuôi tôm; và hiểu: Trẻ con phá phách nghịch ngợm nhất là lúc bố mẹ vắng nhà; gà con hiếu động, quấy phá nhất là lúc mọc đuôi tôm, tách mẹ (Báo Người lao động ngày 14.11.2015). Đâu phải đợi đến lúc “gà (giai đoạn) mọc đuôi tôm” mà ngay cả lúc còn “chíp hoi chanh cốm” nó đã có tính cách “Vắng chủ nhà gà bươi bếp” rồi kia mà!

Trở lại với từ “vọc”, nhân đây xin nói luôn, với người miền Trung, vọc còn có thể hiểu là phá, quấy. Khi giải thích như vậy, trong Sổ tay lời ăn tiếng nói Quảng Bình, nhà nghiên cứu Nguyễn Tú nêu thí dụ: “Cụ thật tội nghiệp, được một thằng con trai, nó đi theo bọn cờ bạc, rượu chè, cứ vài tháng lại về vọc cụ, chán lại bỏ đi” (tr.350); Tự điển Việt Nam (1971) còn ghi nhận hàm nghĩa “Lựa chọn nhiều lần: Vọc hết thúng trái cây”.

Nào có ai thấy ma hình thù nó ra làm sao nhưng rồi có những trường hợp, người ta vẫn tin do ma vọc. Chẳng hạn, thức ăn đã nấu chín, chưa hề có ai đụng đũa vào nhưng chỉ sau khoảng thời gian ngắn lại bị thiu, người ta cho rằng “ma vọc”. Không những thế, với những trái mít có nhiều dấu đen, không ăn được lại bị gọi “mít ma vọc”. Với người miền Nam thưở trước còn sử dụng cách nói làm vọc nhớt/ đánh vọc nhớt là làm không nên việc, đánh không đau như Đại Nam quấc âm tự vị (1895) đã cho biết.

Ngày tháng trôi qua nhanh. Có những câu nói cửa miệng ấy, theo thời gian đã chìm dần vào lãng quên. Từ mới lại xuất hiện. Đời người cũng chẳng khác gì. Thế hệ này đã tre già thì lại có sự nối tiếp của măng mọc. “Trái tim hòa nhịp hồng cầu/ Một nhà thơ nữa bắt đầu hoài thai”. Đó chính là ngày tháng của y đã từng bước bắt đầu. Và ngoài cửa sổ phòng văn mỗi ngày, nắng đã lên, mưa đã về và bắt đầu xum xuê hoa trái. Tạ ơn đời. Tạ ơn người. Ngày vui đang đến…

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 14.4.2018

 

ME-DA-DI-CHO-VE-3-Ranh-nay

Thời buổi này, trong một ngày, thử hỏi, có ai không leo lên mạng xã hội? Thế giới đó, hầu như đang thu hút sự quan tâm của rất nhiều người, khi cần tìm kiếm/ chia sẻ thông tin, thư giản, buôn dưa lê, chém gió… Chẳng việc gì phải bàn về chuyện này. Ai thích, leo lên. Bằng không, tụt xuống. Thoát ra ngoài.

Với y, những ngày này có 2 chuyện gây ầm ĩ nhất thuộc lãnh vực y đang quan tâm, vẫn là thơ và nghiên cứu về học thuật. Sư nói sư phải, vãi nói vãi hay. Ai cũng cho mình là đúng. Kệ họ. Can cớ gì mình phải có ý kiến ý cò. Chỉ quan sát. Và giật mình nhận ra bây giờ, hầu như không còn là chuyện tranh luận. Chỉ là những tiếng nói mạt sát, mắng nhiếc sa sả, cứ như thể hàng tôm hàng cá ngoài chợ. Mà vẫn chưa khiếp bằng các comment hùa theo, luận tội tơi bời. Nện cho chết. Không thể ngóc đầu lên. Nhiểu nhại. Chế giễu. Phỉ báng. Đọc tranh luận còn là lúc qua các ý kiến khác nhau, người đọc thấu hiểu, sáng tỏ thêm một vấn đề nào đó. Nay, quyết là không. Chỉ là những lời rủa, mắng không khác gì đào đất mà chôn. Ai cũng cho mình có cái quyền luận tội/ kết tội người khác. Ngẫm ra, dành cho nhau một lời nói tốt đẹp sao mà khó quá. Khó tìm thấy qua các cuộc tranh luận trên mạng xã hội.

Mà thật ra, chuyện này chẳng có gì ghê gớm, chẳng đáng bận tâm. Còn có nhiều chuyện khác đáng quan tâm hơn. Chẳng hạn, mới vừa rồi dư luận báo chí “dậy sóng” với Ký ức Hội An - một chương trình nghệ thuật thực cảnh do ông Mai Soái Nguyên người Trung Quốc làm tổng đạo diễn. Thậm chí báo Văn Hóa - cơ quan chủ quản của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch còn đặt vấn đề: “Ký ức Hội An” hay “Uất ức Hội An”?

Trong bài báo này, có ghi lại phát biểu của nhà văn Trần Kỳ Trung: “Lần đầu tiên tôi thấy trên sân khấu người con gái Việt Nam mất hẳn mái tóc nuột nà, đen mượt mà thay vào đó là sợi dây lạ lùng, trông giống như đuôi sam của mấy ông quan triều Thanh mà tôi thấy trong phim Trung Quốc hay chiếu. Sao lại có sự “cách điệu” xuyên tạc những người phụ nữ Việt Nam đến như vậy. Đó là chưa kể những người được đóng vai cư dân Hội An toàn cởi trần, mặc quần thụng, đầu quấn khăn… giống y như người dân ở vùng Nội Mông (Trung Quốc). Còn nhiều chi tiết “lạ” trong “Ký ức Hội An” tôi không thể miêu tả hết, nhưng tôi có thể khẳng định rằng, “Ký ức Hội An” truyền đi một thông điệp về hình ảnh Trung Quốc, tinh thần Trung Quốc, biểu đạt tư tưởng Trung Quốc rất rõ ràng… Chỉ khi hình ảnh cuối cùng của “Ký ức Hội An”, họ kéo một mô hình chùa Cầu to gần bằng thật ra góc sân khấu cho mọi người chiêm ngưỡng. Lúc đó tôi mới nghĩ rằng, trên sân khấu họ đang nói về Hội An”.

Mà thật ra, chuyện này chẳng có gì ghê gớm, đáng bận tâm. Còn có nhiều chuyện khác đáng quan tâm hơn. Chẳng hạn, à, chẳng phải nên liệt kê ra làm gì. Vì sực nhớ đến mẩu câu nói của cụ Phan Châu Trinh. Lúc cụ kêu gọi các ông nhà nho hãy cắt tóc ngắn, ai nấy đều chần chừ, cụ bèn nói khích: “Nào! Thử ‘cúp’ đi có được không? Đừng nói là việc nhỏ; việc này mà các anh không làm được, tôi đố các anh còn làm được việc gì!”. Đúng thế, hễ cứ gặp việc/ chuyện gì cũng cho “nhỏ như con thỏ”, làm sao kham nổi việc lớn? 

Thời buổi này ngày nào cũng có chuyện cà chớn, nhố nhăng cả. Mà thôi. Chẳng việc gì phải suy nghĩ lăn tăn, vơ lấy vào người những gam màu nhăng nhố ấy. Mỗi ngày, tìm lấy một niềm vui. Có thể ảo tưởng. Có thể niềm vui sống. Tùy lựa chọn của mỗi người. Có người nhìn thấy hiện nay, “Việt Nam là cường quốc của thơ”; ngược lại có ý kiến “Việt Nam: "cường quốc" rượu bia, gánh nặng bệnh tật”. Nghe choáng chưa? Ai lại dám thốt ra câu nói liên quan đến bia bọt thế kia? Liệu có đáng tin cậy không? Sáng nay, tình cờ đọc báo Sức khỏe & đời sống - cơ quan ngôn luận của Bộ y tế, số ra ngày 14.4.2018 thấy thông tin rành rành như sau:

“Hiện chỉ số phát triển con người Việt Nam (HDI) đứng thứ 116/182 trên thế giới, nhưng chỉ số sử dụng rượu bia của Việt Nam đang đứng ở vị trí 29 trên thế giới. Tỉ lệ đó minh chứng Việt Nam đang là một cường quốc về sử dụng rượu, bia. Thông tin trên được đưa ra tại Hội thảo lấy ý kiến về Dự thảo Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia do Bộ Y tế và Tổ chức Y tế thế giới tổ chức ngày 13/4. Cũng tại hội thảo này, những con số về tỷ lệ sử dụng rượu, bia tại Việt Nam khiến nhiều người phải giật mình.

Phân tích bức tranh toàn cảnh về việc sử dụng rượu bia tại Việt Nam, bà Vũ Thị Minh Hạnh, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách y tế, Bộ Y tế cho biết, hiện tỷ lệ sử dụng rượu, bia ngày càng tăng báo động. Năm 2017, sản lượng bia chạm mốc 4 tỷ lít, tăng 10,4% so với năm 2016 và bình quân mỗi người dân tiêu thụ 42 lít bia/năm. Sản lượng rượu thủ công năm 2016 đạt 188 triệu lít trong đó sản lượng rượu thủ công sản xuất nhằm mục đích kinh doanh được cấp phép năm 2016 là 32 triệu lít”.

Tại sao người Việt hiện nay đã, đang và sẽ tiếp tục phấn đấu trở thành đệ tử Lưu Linh?

Câu hỏi này, đặt ra bằng thừa. Các bộ óc uyên bác đã phân tích nát nước rồi. Nhắc lại làm chi, chỉ rườm lời. Có điều, y chưa nhận ra ý kiến nào cho rằng, biết đâu cái sự mê đắm bia rượu ấy còn do tác động từ… thơ! Nghe lạ tai quá phải không? Một khi thú vui nào đã được nâng lên tầm mỹ cảm bằng nghệ thuật ắt sẽ có tác động đến công chúng. Công chúng đón nhận lấy nó như một sự tao nhã, khác hẳn những thú vui khác. Và quên đi tác hại của nó. Rượu là một thí dụ. Thơ ca kim cổ xưa nay, một khi đã nói về rượu thì các thi nhân đã dành cho nó biết bao lời lẽ hoa mỹ, ca ngợi tót vời há chẳng phải đó sao? Với từ khóa “Thơ về rượu”, chỉ bằng một cú nhấp chuột, Google cho biết: “Khoảng 7.960.000 kết quả (0,35 giây)”. Khiếp chưa?

Dám đồ rằng, đã là người cầm bút, có lẽ không nhà thơ nào không một lần/ nhiều lần viết về rượu? Đúng không nào?

Dám đồ rằng, đã là người cắp sách đến trường, ai lại không từng nghe thầy cô giáo khuyên răn chớ nên uống rượu. Lời khuyên ấy ra làm sao? Đại khái cũng tựa như bài học trong Quốc văn giáo khoa thư: “Các anh hãy trông người kia đi ngoài đường. Mặt đỏ gay, mắt lờ đờ, quần áo xốc xếch, chân đi xiêu bên nọ, vẹo bên kia, múa chân múa tay, mồm nói lảm nhảm, chốc lại ngã chúi một cái. Lũ trẻ đi theo sau, reo cười chế nhạo. Thỉnh thoảng anh lại đứng lại, nói những chuyện gì ở đâu đâu. Người qua lại, trông thấy cũng phải tránh xa. Người ấy vừa ở hàng rượu ra. Chỉ tham mấy chén rượu mà thành ra say sưa, mất cả tư cách con người, có khi như là con vật vậy, thật là đáng khinh bỉ. Hỡi các anh, các anh đã trông thấy người say rượu như thế, thì nên lấy đó làm gương mà giữ mình”.

Thế rồi, khi đã lớn, đã trưởng thành, hỡi ôi, cậu học trò ngày xưa đã quên. Quên tuốt luốt. Cứ nốc tì tì. Thì y đó chứ ai.

Nhân nhớ về bài học Người say rượu vừa nêu trên, lại nhớ đến một bài học thuộc lòng khác. Anh bạn thơ Đỗ Trung Lai cho biết thời học cấp III (1965-1968) ở miền Bắc, đã học trong sách giáo khoa môn Văn: “Ban ngày quan lớn như thần/ Ban đêm quan lớn tần mần như ma/ Hai tay quan lớn gian tà/ Toa xoa cát phẩm, tay sà hạ chiêu”. Sách giảng rằng, đó là: “Ca dao chống phong kiến” (Báo Lao động cuối tuần số 15 từ ngày 13.4 đến 15.4.2018). Không rõ, nếu học trò cắc cớ hỏi cát phẩm, hạ chiêu là gì thì thầy/cô giáo sẽ trả lời ra làm sao?

Sắp đến, lại về Đà Nẵng. Ngày ấy, có bia rượu không? Ắt có. Mà có theo cách khác, chứ không phải tâm trạng của thời trẻ: “Tôi mường tượng dáng em về yểu điệu/ Lúc con sông bẽn lẽn áo vu quy/ Chim chóc ơi bay về đây uống rượu/ Chia sớt cùng tôi men đắng buổi chia ly/ Dốc nghiêng chai một lần như từ biệt/ Trăng mỡ màng loáng thoáng nước sông lên/ Tôi ảo giác tìm em trong ảo ảnh/ Ảo tưởng trăng gầy gương mặt giống như em”.

Dòng đời trôi đi mải miết. Chẳng mấy chốc mà già. Chẳng mấy chốc, mỏi gối chồn chân. Chẳng mấy chốc, con người ta chẳng còn ham hố gì nữa. Ngày tháng trôi qua, không bận tâm, không thèm đếm xỉa gì đến thời gian nữa. Ấy là chuyện của thiên hạ. Còn y, thời gian này chỉ mới bắt đầu. Nói như bồ tèo Đoàn Tuấn là y đang bắt đầu của một đời sống khác: “Mặc bao biến động cuộc đời/ Ngôi nhà yêu dấu tình người tỏa hương”.

Ghi nhớ nhé. Vâng, ạ.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 10.4.2018

 


biatrebn-duobg-dai-hanh-phuc-1

 

Những ngày bận rộn, chộn rộn rồi cũng đi qua. Đã hoàn thành cái ngày mà trước kia, y đã từng hứa hẹn: “Tôi muốn lấy em làm vợ/ để dạy dỗ tôi nên người”. Một sám hối. Một thức tỉnh. Một cuộc lột xác. Một thay đổi lớn lao. Vâng, rất ghê gớm, cỡ như: “tôi chọn cho tôi duy nhất một cửa nhà/ để mỗi đêm bước vào tìm chỗ ngủ/ để từng đêm được nghe vợ dạy dỗ/ chuyện nợ nần và chuyện áo cơm/ chuyện phải về nhà trước lúc hoàng hôn/ chuyện đi ra đường không nhìn ngang liếc dọc/ chuyện ru con lúc nửa khuya chợt khóc/ chuyện ngày xưa... đay nghiến chuyện ngày nay/ từ gã đàn ông tôi hóa thành đứa con trai/ ngoan ngoãn lắng nghe lời em răn dạy”. Tưởng là thế. Nhưng rồi bong bóng bay lên trời. Bong bóng vỡ. Gẫy đổ. Những ngày vừa qua, y được trở lại với niềm mơ ước của thời thanh tân trẻ người non dạ.

Ngày hôm ấy, ngày 3.4.2018, ngồi tại nhà hàng Ái Huê tranh thủ lúc chờ quan khách đến chung vui, y đã trao đổi nội dung cùng Đoàn Tuấn để viết bài thơ. Một bài thơ có tựa giản dị Bắt đầu. Tất cả chỉ mới vừa bắt đầu. Trong hôn nhân không bao giờ tồn tại khái niệm sớm/muộn. Nó đến như một lẽ tất nhiên của số phận. Mọi sắp xếp, cố tình, chủ ý trước đây không là gì so với ngẫu nhiên của hiện tại. Ấy mới là sự ghê gớm kỳ diệu đã xẩy ra dưới gầm trời này. Chẳng một ai có thể biết trước. Thế rồi mọi việc diễn ra chỉn chu đến từng chi tiết, dẫu nhỏ nhất. Thế thì, đời sống của mỗi người đã có sự “lập trình” trước đó đấy chứ? Một khi đã đến, ắt không gì có thể thay đổi. Có thế, mọi việc mới hanh thông, tốt đẹp mà trước đó, dù có lên “kịch bản” chi tiết cũng không thể sánh bằng.

“Mừng em - mừng đến vu quy/ Từ đây ngày tháng tập đi bắt đầu/ Chung vui nối những nhịp cầu/ Đôi ta gắn kết bắt đầu cùng đi/ Mừng em - ngọn nắng xuân thì/ Vỗ về chăn gối nhu mì Liên Anh/ Mùa tình tuổi trẻ đang xanh/ Từng đêm giấc ngủ an lành có nhau/ Mừng em - mừng đến xưa sau/ Tượng hình sự sống dạt dào tinh khôi/ Niềm vui từ một vành nôi/ Từ đây đi, đứng, nằm ngồi… an nhiên/ Tạ ơn trời đất linh thiêng/ Ngày hôm nay đã chung riêng sum vầy/ Hạt mầm gìn giữ trong tay/ Từ nay hoa trái - từ nay nặng tình”.

Mừng em cũng là mừng cho chính y đấy thôi. Bởi vì rằng, đã hôn nhân chính là lúc hai người một bóng. Khi đưa thông tin này lên báo Thanh Niên, đồng nghiệp Lê Công Sơn đã nói hộ một điều rất quan trọng: “Nhà thơ Lê Minh Quốc cho biết: “Do mẹ tôi vừa mới mất ở Đà Nẵng nên đám cưới chỉ tổ chức một bữa tiệc đơn giản, độ khoảng 6 bàn trong gia đình và anh em trong nhà. Khi nào điều kiện cho phép, tôi sẽ có cuộc gặp gỡ khác hoành tráng dành riêng cho những bạn hữu. Vì vậy, nếu có thất lễ chưa mời được đông đủ thì mong những tình thân xa gần hãy lượng thứ cho vợ chồng tôi…”. Mọi người từ bi hỷ xả, không ai phàn nàn, cảm thông và chia sẻ, y lấy làm mừng. Lại nhớ  đến lúc bạn thơ Trương Nam Hương đã đọc ngẫu hứng trong ngày ấy: “Đêm nay, bạn hữu động phòng/ Có trăm em khóc động lòng đó nghe/ Cái phòng động, cái giường phê/ Gối chăn còn biết đê mê, huống người/ Đêm thơ hoa chúc - hai người/  Dìm nhau đến tận đỉnh trời khát khao”.

Trưa qua, một cuộc họp mặt nho nhỏ tại tòa soạn báo Phụ Nữ TP.HCM - một địa chỉ đã gắn bó từ lúc mới chân ướt chân ráo, còn nghênh ngang ngựa sắt đi săn tin, tập tễnh bước vào làng báo Sài Gòn. Thoáng đó, đã tròm trèm 30 năm rồi đó. Thời gian lướt qua nhanh, nhất là lúc ngoái lại về phía sau. Chẳng mấy chốc sắp đến tuổi cầm lấy quyển sổ hưu. Mà cũng là ngày tháng của Bắt đầu.

“Chung vui nối những nhịp cầu/ Đôi ta gắn kết bắt đầu cùng đi”. Một chân trời mới. Một niềm hân hoan mà trước đây chưa từng trải qua. Nay bắt đầu trải nghiệm. Và cứ như thế, mọi việc lại đi về phía trước. Đi về hoa trái. Đi về nặng tình. Đời người ư? Cuối cùng cũng là một bến đỗ. Một ý thức không gì thay đổi nữa: “duy nhất một cửa nhà/ để mỗi đêm bước vào tìm chỗ ngủ”.

Những ngày bận rộn, chộn rộn đã qua. Bây giờ mới có thể thu xếp lại cảm hứng một cách ngăn nắp, trật tự để trở lại với thú vui hằng ngày: viết. Đúng thế, chỉ có thể là viết. Viết như đã từng. Mà viết cũng là một cách để kiếm sống. Y có gì ngoài khả năng này? Chẳng có gì. Ngoài những con chữ. Và lấy làm niềm vui sống. Hôm nọ, trả lời phỏng vấn HTV, nói rằng, điều lớn lao nhất của một con người sống với niềm đam mê chữ nghĩa không phải là những tiếng vỗ tay, những bó hoa tươi thắm, những lời ngợi ca - những động viên đấy, rồi cũng đi qua, điều cần thiết nhất vẫn là tìm thấy niềm vui từ công việc lẻ loi, đơn độc mỗi ngày vẫn miệt mài. Trước đây, trên tập san Áo Trắng, đã trả lời bạn đọc rằng: “Viết cũng như chọn lấy một trò chơi thanh nhã. Có người thích chơi sách, chơi cây kiểng, chơi hòn non bộ, chơi đồ cổ v.v… thì sáng tác với tôi cũng là một cái thú như vậy. Miễn sao đừng làm phiền lòng vợ con, bà con láng giềng, chòm xóm, vì thú chơi của mình”.

Thật ra, văn chương chữ nghĩa không phải nhằm thỏa mãn một thú chơi nào đó. Đây là một cuộc lao động bền bĩ và nghiêm túc. Leo lên núi mỗi ngày. Tưởng lên đến đỉnh ư? Lại ngã lăn chiêng đèn cù. Rơi tuột xuống đất. Lại mò mẫm leo lên. Cứ thế, chẳng mấy chốc đời người trôi cái vèo. Tóc trắng như mây. Về bên này dốc của đời người. Biết là thế, may mắn thay, hạnh phúc thay, niềm vui của công việc nhọc nhằn này, với y, vẫn còn đây. Không thay đổi.

Sáng nay, thức dậy sớm. Sớm như mọi ngày đã có thể nhẫn nha ngồi đọc báo, bên ly cà phê - một thói quen đã mọc rễ, đã thâm căn cố đế từ thời tóc xanh. Dừng lại với một chi tiết vì cảm thấy lạ quá. Cơn cớ tại làm sao, một trò lừa đảo đã từng xuất hiện tại Việt Nam cừng hơn mươi năm trước nhưng nay vẫn còn có “đất sống”, vẫn còn có nhiều người nhẹ dạ sập bẫy. Cứ theo như báo Thanh Niên vừa đưa tin: 3 “phù thủy” lừa đảo tẩy đô la sa lưới thì bà A: “được Martial dẫn vào phòng và mở vali cho xem bên trong có nhiều cọc giấy giống cọc tiền. Martial rút ra 3 tờ rồi lấy một loại hóa chất nước đổ vào, 3 tờ giấy trắng biến thành 3 tờ 100 USD. Xong, Martial đưa bà A. cất giữ và nói cần thêm 100.000 USD để mua hóa chất tẩy hết số tiền trong vali trên”.

Lật lại báo chí, mới hay, trò lừa đã này, lần đầu tiên “du nhập” vào Việt Nam là từ tháng 3.1998. “Con mồi” bị chủ mưu dụ khị bằng cách rót mật vào tai, đại khái, chúng tiết lộ có một số lượng ngoại tệ rất lớn đã đưa vào Việt Nam. Do số tiền lên đến hàng triệu USD nên không thể đưa vào một cách hợp pháp, vì vậy, chúng phải ngụy trang bằng cách nhuộm trắng toàn bộ số đô la trên giống như những tờ giấy trắng và đóng thành một “kiện hàng”. Tuy nhiên, hiện chúng không đủ tiền mua một hóa chất đặc biệt để “tẩy rửa” toàn bộ “kiện hàng” này thành đô la. Nếu đồng ý cho chúng mượn tiền, “con mồi” sẽ được “trả công” 50% trong tổng ngoại tệ mà chúng đang có! Để đưa tiếp tục dẫn dụ vào tròng, chúng đã dẫn còn cho “con mồi” tận mắt chứng kiến... “công nghệ chế biến đô la”!

Loại hóa chất mà chúng sử dụng thật ra rất đơn giản - sau này theo giám định của Bộ Công an - chúng hòa tan iốt, tức loại thuốc sát trùng rất rẻ tiền, có bán tại các nhà thuốc Tây trong cồn ở nồng độ cao để trở thành dung dịch có màu nâu đen. Khi thả tờ những giấy trắng được cắt bằng kích cỡ của tờ đô la, chúng cũng “nhanh tay lẹ mắt” thả luôn vào tờ đô la thật. Xong, chúng vớt những tờ đô la thật bỏ vào trong xô nước có pha sẵn xà phòng, những tờ giấy bạc này trở lại sắc màu như cũ. Quá trình thao tác này nhanh đến mức dù tận mắt chứng kiến, nhưng khó ai có thể phát hiện ra trò đánh tráo này.

Mà này, tại sao sáng nay lại chăm chú đọc thông tin này? À, vì nhớ đến một truyện ngắn Bạc đẻ của nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903-1977). Hóa ra, từ thập niên 1930 của thế kỷ XX, ông Hoan đã “dự báo” một cách tài tình những thủ đoạn lừa đảo của bọn tội phạm quốc tế trong thời đại mà chúng ta đang sống?

Chuyện rằng: Ông Cửu Ấu ở trọ nhà ông Trưởng Sắc có hành tung rất  khả nghi, xài tiền như nước, thường hay vắng nhà. “Song hễ ở nhà thì ông ta thì ông ta hay mượn chiếc chậu thau đồng lên buồng làm gì, để hằng hai ba tiếng đồng hồ, rồi khi dùng xong thì tự tay đem ra ao, lấy trấu và cát đánh cho thực sáng rồi mới đem trả. Ông ta có một tính khác người thường, là hễ ở nhà, thì không thích cho ai lên buồng riêng của mình. Có một lần ông đã mắng đứa đày tớ vô ý trước khi mở cửa vào, không đánh tiếng hoặc gõ cửa. Nhưng khi ông đi vắng thì tha hồ, ai vào cũng được, tuy đồ đạt, quần áo ông để bừa bãi, mà có một lần ông Trưởng sợ quá, cái va li của ông Cửu, trong để rặt những đồng bạc, mà ông quên không khóa”.

Rồi trong một lần chè chén say sưa, ông Cửu “vô tình” cho ông Trưởng biết là mình đang nắm giữ “công nghệ” làm cho bạc đẻ thêm nhiều, cứ một đồng thì đẻ ra một đồng! Mà bạc nó cũng ở cữ nên ông phải đi xa khi nó thụ thai, nếu ở gần thì bạc tịt lại, không đẻ được gì cả. Nghe “nhỏ to tâm sự” như thế, ông Trưởng nổi máu tham, đưa tiền cho ông Cửu làm cho bạc đẻ và đúng như vậy. “Tiếng lành đồn xa”. Sau đó, cả làng đều biết chuyện và ùn ùn đưa tiền cho ông Cửu.

“Cả làng, từ ông già cho chí trẻ con, ai cũng tấp nập rủ nhau đến nhà ông Trưởng để đưa bạc đi đẻ. Thôi thì có bao nhiêu bạc giấy, hào, xu, họ đổi thành bạc đồng, và đánh cho thật bóng nhoáng. Ông Cửu mỏi tay biên sổ trong hai ngày, vì từ thằng khố dây trong làng, củng cố cầm cố bán chác đồ đạc trong nhà để kiếm vài đồng bạc trắng. Ông chánh Bá, giầu nhất tổng, đưa đẻ hẳn năm trăm, mà còn tiếc vì vội quá, không kịp bán nốt mấy chục mẫu ruộng, ông lý Thới, ông lý Sang, ông phó Ung, ông cả Sích, vân vân, và những nhà có máu mặt, đều cùng nhau đưa làng trăm; còn hạng đụa hàng chục, hàng đồng, thì tên biên vừa đen kịt hai mươi trang giấy. Khi cộng sổ, ông Cửu phải lắc đầu lè lưỡi nói với ông Trưởng:

- Sáu nghìn bảy trăm sáu mươi tư đồng, chà! Có lẽ tôi phải lánh đến bảy tám hôm chắc! 

Ông Trưởng cười gượng:

- Chúng tôi chỉ dám phiền ông có lượt này nữa thôi đấy ông chịu khó vậy.

- Vâng, tôi có dám phàn nàn đâu!

Vừa xẩm tối, mọi người đã chen chân nhau vào nhà ông Trưởng để được xem phép lạ. Nhưng họ có được trông thấy gì đâu, vì phải đứng cả ở ngoài sân, mà ông Cửu thì ở tận trong buồng để làm việc. Hàng năm sáu giờ đồng hồ sau, bỗng ông Trưởng, vẻ mặt quan trọng như ông tướng chạy ra hè hô lớn: “Bây giờ ai phải về nhà nấy để bạc dưỡng thai. Cấm không ai được dòm, vì nếu có hơi người lạ thì bạc tiểu sản, biến ra bùn mất cả. Ai không tuân lệnh mà làm hỏng mẻ này thì phải đền sáu nghìn bảy trăm sáu mươi tư đồng, một thành hai!”.

Mọi người thấy câu nói đều sợ thiệt đến của riêng, bèn kéo ồ cả ra về. Độ năm phút sau, sân nhà vắng vẻ, ông Cửu đi dò la chung quanh hàng rào, rồi một mình khênh bạc ra vườn, lúi húi làm nốt công việc. Lúc chôn xong thì vừa hai giờ sáng, ông Cửu mệt nhoài, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, nhưng theo phép, ông phải lánh xa chỗ bạc dưỡng thai, nên ông vội vã khăn áo ra đi, và dặn lại ông Trưởng: “Bốn giờ kém năm sáng thứ bảy sau, tôi sẽ trở lại. Trong chín hôm tôi không có đây, ông phải cấm không cho ai lai vãng ra vườn nhé!”

Thế là sau khi cầm gọn một số tiền lớn, ông Cửu... biến luôn!

Một ngày, sáng bảnh mắt, ngồi đọc nhẩn nha vài thông tin. Qua đó, nhớ lại một truyện ngắn hay. Cũng đủ năng lượng vui sống cho một ngày. Phải không? Tất nhiên.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 25.3.2018

10-hoithao-nguyen-binh_2667102RR

 

 

Sáng qua đến Hội Nhà văn TP.HCM tham dự Lễ kỷ niệm 100 năm sinh Nguyễn Bính. Dịp này, y suy ngẫm về “Cánh bướm - một ám ảnh hồn thơ Nguyễn Bính”. Dù chỉ bước đầu khảo sát, hy vọng cũng là một sự gợi ý mới mẻ khi cùng tìm về thơ Nguyễn Bính.  

Hầu như với thi sĩ, trong tiềm thức của họ từ muôn năm ngàn kiếp đã có một sự ám ảnh không nguôi về một biểu tượng/ hình ảnh nào đó. Có lẽ ngay cả họ cũng không thể giải thích. Mà họ cũng chẳng bao giờ tự hỏi vì sao lại có sự ám ảnh đó. Tự nó đã hình thành trong máu thịt; khi cảm hứng đến, thâm tâm lại nhớ đến. Với Nguyễn Bính, y quả quyết chính là cánh bướm. Người đọc ngạc nhiên một cách thú vị bởi ông đã có tìm lấy nhiều cách diễn đạt như đang đi giữa đôi bờ hư thực.

Về “sự tích” ra đời của cánh bướm/ con bướm, theo ông: “Em ạ, ngày xưa vua nước Bướm/ Kén văn tài mở Điệp lang khoa”. Cuộc thi này, “Con bướm vàng tuyền đậu Thám hoa”. Cũng như trong mọi chuyện cổ tích “có hậu” của nền văn học cổ điển Việt Nam, tân khoa thường được nhà vua gả công chúa, Nguyễn Bính cũng tuân thủ theo “mô-típ” này. Khi Lục Vân Tiên nhớ mẹ, khóc đến mù mắt, ai cứu cho chàng? “Nửa đêm nằm thấy ông Tiên/ Đem cho chén thuốc mắt liền sáng ra”. Còn đôi vợ chồng bướm lúc đi lạc “Sụt sùi ngồi khóc dưới hoa lê” thì sao? “Bỗng thấy bà Tiên hiển hiện ra” và bảo, đường về nước Bướm còn xa lắm, thôi thì: “Về tạm nhà ta, ngủ với ta”. Thế rồi, “Đêm ấy, chăn êm với gối êm/ Vợ chồng ăn bánh với bà Tiên/ Ăn xong thoát chốc liền thay lốt/ Chồng hóa làm anh, vợ hóa em”.

Nguyễn Bính tự nhận mình chính là con bướm.

Lúc đưa cánh bướm cụ thể vào thơ, Nguyễn Bính đã có cái nhìn rất mới, ngộ nghĩnh. Chẳng hạn, vào dịp cuối tháng ba: “Mặt hồ vừa đúc khối tiền sen/ Bươm bướm đông như đám rước đèn”. Một cách so sánh rõ ràng không “đụng hàng”, khiến người đọc đã cảm nhận được sự rộn ràng, tươi trẻ, nhộn nhịp. Tạm dừng lại một chút, tự hỏi: “Mặt hồ vừa đúc khối tiền sen”. Vậy “tiền sen” là gì? Có thể nhiều người sẽ ngắc ngứ đây, trong đó có y. Vì thế, lục lại từ sách vở tìm hiểu xem sao. Âu cũng là một cái thú đọc thơ. Lâu nay, vẫn nghĩ, thơ không cần giải thích. Chỉ cần cảm là đủ. Thí dụ như “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà” (Nguyễn Xuân Sanh). Khó có thể giải thích. Chỉ có thể cảm về hình ảnh và nhạc điệu. Tuy nhiên, lại có những câu thơ rất thật. Thật vì chính nó đã từ một vật chất đi thẳng vào thơ. Cần tìm hiểu là vì lẽ đó.

Tiền đúc sen đã mấy phen

Lửa hương nghĩ đã vẹn tuyền lâu nay

Đây là hai trong 2.926 câu thơ trong truyện Nôm lục bát Ngọc Kiều Lê (NXB KHXH -1976) do Lý Văn Phức chuyển thể từ tiểu thuyết chương hồi cùng tên của Trung Quốc. Cụ Trần Văn Giáp giải thích: “Tiền đúc sen: Cây sen về mùa đông tàn lụi hết, tới đầu mùa hè, những lá non bắt đầu mọc, nổi trên mặt nước thành những hình tròn nho nhỏ, trông như đồng tiền, do đó, gọi tiền sen. Câu này ý nói đã qua mấy mùa sen nảy lá tức đã qua mấy mùa hè, đã mấy năm qua”.

Vậy, đã rõ nghĩa câu thơ Mặt hồ vừa đúc khối tiền sen. Hãy trở lại với tâm cảnh của Nguyễn Bính. Rồi lúc tình còn xanh, niềm thơ còn nõn: “Bên hoa thấy bướm không buồn đuổi/ Chỉ mải mê nhìn bướm ủ hoa”. Giữa bướm và người thân mật, gần gũi đến độ: “Chim ca buổi sớm, khuyên nàng học/ Bướm dạy nàng thêu, gió dạy đàn”. Ngay cả lúc “đôi trẻ” còn học Trường Huyện, “Đội đầu chung một lá sen tơ”, cánh bướm ấy đã là “nhân chứng”: “Lá sen vương vấn hương sen ngát/ Ấp ủ hai ta chút nhuỵ hờ/ Lũ bướm tưởng hoa cài mái tóc/ Theo về tận cửa mới tan mơ”.

Nếu năm tháng mãi êm đềm đến vậy, chẳng mấy chốc họ nên duyên vợ chồng chăng? Nào ngờ, “Nàng về mãi xứ bên kia/ Cam thôi màu đỏ, bướm chê hoa vàng”. Một khi tình đã mất, thâm tâm dội lại nỗi nhớ về cái thuở trong trẻo: “Qua giậu tầm xuân thấy bướm nhiều/ Bướm vàng, vàng quá, bướm yêu yêu/ Em sang bắt bướm vườn anh mãi/ Quên cả làng Ngang động trống chèo”. Ngược lại, lúc giang hồ vặt đến chơi “Xóm Ngự Viên ở cạnh đường Gia Hội, Huế, tức vườn Thượng uyển ngày xưa”, hình ảnh trước nhất Nguyễn Bính ghi nhận lại là: “Giậu đổ, dây leo, suồng sã quá/ Hoa tàn, con bướm cánh nghiêng nghiêng” - khiến ông nhớ về cái thuở đã từng có lúc: “Gót sen bước nhẹ lầu Tôn Nữ/ Ngựa bạch buông chùng áo Trạng nguyên”. Câu thơ mở ra một vàng son đã mất. “Hoa tàn, con bướm cánh nghiêng nghiêng” gợi lên một âm hưởng đến nao lòng.

Về cuộc đời Nguyễn Bính, có một điều không thể chối cãi là ông yêu nhiều, rất nhiều người. Và chính các nhan sắc ấy là nguồn cảm hứng để lại những bài thơ tình ghi dấu trong tâm thức sau nhiều thế hệ. Trong nguồn cảm hứng ấy, “Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng/ Có con bướm trắng thường sang bên này/ Bướm ơi, bướm hãy vào đây/ Cho tôi hỏi nhỏ câu này chút thôi/ Chả bao giờ thấy nàng cười/ Nàng hong tơ ướt ra ngoài mái hiên”. Chàng thi sĩ hỏi lấy con bướm trăng đang vẩn vơ, nhởn nhơ bay trước mắt chăng? Không, Nguyễn Bính hỏi lấy chính ông.

Con bướm ấy chỉ là cái cớ nhằm che giấu lấy lòng ông đang thổn thức. Trong thơ, có những câu hỏi buông ra với đối tượng khác, thật ra cũng là lúc chàng thi sĩ đang tự vấn, tự hỏi lòng mình. “Bướm ơi, bướm hãy vào đây/ Cho tôi hỏi nhỏ câu này chút thôi”. Lòng yếu đuối, hồn rụt rè, Nguyễn Bính phải vời đến cánh bướm, dù là lúc “chiêm bao rất nhẹ nhàng”. Để rồi khi bước ra với đời thực “Tầm tầm giời cứ đổ mưa” cho đến lúc “Hôm nay giời tạnh mưa rồi”, tâm thế ấy có gì khác? Nguyễn Bính chỉ thấy “Tơ không hong nữa, bướm lười không sang”. Con bướm ấy không sang nữa, biết hỏi ai?

Hỡi ôi, “Đêm qua nàng đã chết rồi/ Nghẹn ngào tôi khóc, quả tôi yêu nàng”. Đến đây tác giả đã chuyển mạch đột ngột: “Hồn trinh còn ở trần gian/ Nhập vào bướm trắng mà sang bên này”. Với câu kết này, bài thơ bật lên một nỗi niềm, một bất ngờ mà trước đó người đọc cứ ngỡ là cánh bướm thật, cụ thể. Hóa ra không phải. Người hàng xóm: “Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn”, “hồn trinh nữ” là hiện thân của cánh bướm trắng.

Sực nhớ, thuở nhỏ còn ngốc dại, có thể ai đó đã từng bắt bướm ép vào trang vở chăng? Với y, sau khi đọc truyện ngắn Bóng người trên sương mù của Nhất Linh, không bao giờ dám. Rằng, một người đàn ông nọ, làm nghề lái tàu lửa, dù vợ đang bệnh nặng nhưng vẫn phải nhận lệnh đưa quan Toàn quyền đi công cán. Không thể chần chừ. Không thể thoái thác. “Nhà tôi thấy tôi có vẻ lo nghĩ, hỏi nguyên cớ vì sao, tôi liền đem việc ấy kể lại cho nhà tôi nghe. Nhà tôi nghe xong, vẻ mặt tươi hẳn lên bảo tôi rằng: “Thế cậu đi chứ! Việc gì phải ngần ngừ! Tôi không việc gì đâu, đã thấy đỡ nhiều. Chiều mai về mua cái gì làm quà cho tôi đấy”. Tôi thấy nhà tôi cười nói vui vẻ, tôi vững tâm, thay quần áo ra ga. Đến ga đúng mười giờ”.

Chuyến tàu lăn bánh.

“Xe đi vào khe núi, hết cao lại xuống thấp như có vẻ nhọc nhằn. Tôi thò đầu ra cửa nhìn thẳng trước mặt, nhưng đêm ấy sương mù đầy trời, không nhìn rõ gì cả, chỉ một màu trắng xóa dưới ánh hai cái đèn ở đầu toa. Bỗng tôi thấy... rõ ràng, tôi thấy in trên sương mù một cái hình người đàn bà mặc áo rộng đứng dang tay. Tôi dụi mắt tưởng mình trông hoảng, nhưng không, hình người đàn bà vẫn đấy. Tôi gọi người “ét” lại cửa toa, bảo ông ta nhìn rồi hỏi:

- Bác có thấy gì không?

Vừa nói xong hình người vụt biến mất. Bác “ét” thò đầu ra và bảo tôi:

- Chỉ thấy sương mù! ông lại mê ngủ rồi.

Không rõ ràng tôi thấy có hình người đàn bà in trên sa mù nhưng vừa biến mất.

 Người “ét” cười ra vẻ không tin, lấy xẻng xúc than cho vào lò, còn tôi vẫn đứng nguyên chỗ cũ đăm đăm nhìn thẳng trước mặt. Được một lát, hình người đàn bà lại hiện ra, lần này rõ ràng hơn, hai tay ngăn thẳng như muốn ngăn đường không cho xe chạy lên nữa”; “Xe tiến đến đâu, cái hình người lại đến đấy, có lúc mờ, lúc rõ, lơ lửng giữa lưng trời. Rồi cái hình người ấy vẫy hai tay một cách thong thả, như có ý bảo chúng tôi đừng tiến lên nữa, có sự gì nguy hiểm”.

Cuối cùng, người đàn ông lái tàu quyết định cho dừng tàu một cách đột ngột. Mọi người xuống tàu quan sát. “Vừa đi được một quãng thì nghe trước mặt có tiếng nước chảy ầm ầm. Tôi định tâm mới nhớ ra rằng đó là cầu N.G.. Mấy đêm ấy mưa lũ, nước chắc chảy xiết, nên mới réo to như vậy. Đến bờ sông, giơ đèn lên soi, mấy người đều kinh hoảng: cái cầu N.G. bị nước nguồn chảy về xoáy gẫy làm đôi. Một tí nữa, nếu không hãm kịp thì cả một chuyến xe riêng chở quan Toàn Quyền đâm nhào xuống sông sâu, chắc không sống sót một ai; tưởng không có cái tai nạn nào ghê gớm hơn, thế mà chính vì tôi nên mới không có cái tai nạn ấy. Tôi đứng ngẩn người không hiểu sao cả”.

Vậy, lý giải thể nào về “cái hình người đàn bà mặc áo rộng đứng dang tay” mà bác tài đã thấy?

"Tôi đi trở lại và thoáng thấy cái gì bám ở cái đèn để đầu toa, nhìn kỹ thì ra một con bướm thật to, vướng vào đen, đương đập cánh để tìm đường thoát. Chính là con bướm trong cái hộp này đây. Trông thấy con bướm tôi thốt nghĩ ra ngay. Chính phải rồi, chính cái hình người đàn bà lúc nãy là cái bóng con bướm này in lên trên sương mù, đầu con bướm là đầu hình người mà hai cánh con bướm đập là hai cái tay người vẫy.

Tôi bắt con bướm rồi định thả cho nó bay đi, sau nghĩ con bướm đã giúp mình được việc, nên giữ lại làm kỷ niệm. Tôi nhìn vào đồng hồ trong toa, thấy kim chỉ đúng hai giờ đêm... Hôm sau tôi vừa về tới cổng nhà thì thằng nhỏ chạy ra báo tin nhà tôi mất, mất vào khoảng một giờ đêm qua”.

Thật lạ lùng, mẹ Y mất ở Đà Nẵng lúc 5 giờ sáng ngày 12.10.2017 ở Đà Nẵng, lạ lùng thay, tại Sài Gòn, sáng ngày hôm ấy ngay trên cánh cửa mở vào nhà y đã có cánh bướm ngài đậu ở đó tự bao giờ rồi.

Trở lại với Nguyễn Bính. Khi chọn cánh bướm làm biểu tượng của thơ, ông đã hóa thân vào đó. Và từ sự hóa thân này, ngay cả nhan sắc đi qua đời mình, ông cũng nhìn thấy họ cũng chính là cánh bướm trắng. Màu trắng ấy còn là sự ám ảnh không cùng một khi đã mất đi một bóng dáng cụ thể: “Đem đi một chiếc quan tài trắng/ Và những vòng hoa trắng rợn người/ Có một chiếc xe màu trắng đục/ Hai con ngựa trắng bước hàng đôi”. Màu trắng này xuất hiện cũng chỉ là một cách nhắc lại: “Tôi chỉ thèm yêu được một lần/ Có người đi giữa xứ mùa xuân/ Thấy con bướm trắng bay thơ thẩn/ Ý hẳn đi tìm Hương, cố nhân”.

Nhà văn Võ Hồng có tác phẩm Hương cố nhân thì phải. Trong đời, ai cung có cố nhân cho riêng mình. Được thế, may quá. Không rõ, lúc gặp lại cố nhân, cả hai sẽ trò chuyện với nhau những gì? Bài thơ Tình già của Phan Khôi, lúc gặp nhau sau “Hai mươi bốn xưa”, “Tình cờ đất khách gặp nhau”, họ đã nói những gì? Im lặng vẫn tốt hơn cả. Nói gì bây giờ? Chỉ thêm bẽ bàng. Chỉ thêm luyến tiếc. Biết là thế nhưng lúc liếc mắt tiễn nhau mới ghê gớm làm sao, còn hơn cả hàng ngàn câu hàn huyên tâm sự: “Liếc đưa nhau đi rồi/ Con mắt còn có đuôi”...

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 17.3.2018

IMG0486_0b21d


Những ngày nắng nóng.

30 năm sự kiện Gạc Ma, Trường Sa (14.3.1988 - 14.3.2018) đã được tuyên truyền đậm trên các phương tiện truyền thông. Thông tin mới nhất, theo báo chí, Gạc Ma là sự kiện dự kiến đưa vào sách giáo khoa môn lịch sử và địa lý. Một sự kiện lịch sử, 30 năm sau mới dự kiến, vâng, chỉ mới dự kiến đưa vào sách giáo khoa. Những đứa trẻ của thế hệ sau sẽ hiểu rõ một thông tin không gì có thể vùi lấp, lãng quên. Rồi, những gì đã học/ đọc từ thời bé sẽ gắn bó mãi theo năm tháng.

Sực nghĩ, ngay xửa ngày xưa chưa có nhiều loại hình giải trí, thư giãn lẫn học tập thì đọc sách vẫn tối ưu nhất. Đọc lại các cổ ngôn, thấy rằng người xưa tuyên truyền về “văn hóa đọc” như “chiến lược” lâu dài nhằm xây dựng cốt cách, nhân cách của một con người. Chẳng hạn, Gia huấn ca khẳng định như đinh đóng cột: “Đọc sách là chí nam nhi”. Ơ hay, chí nam nhi chẳng lẽ có thế? Đã thế, lại còn có câu này nữa, thú thật, y chưa thể giải thích tường tận: “Chữ rằng: “Loạn độc thư cao/ Khi nên cũng thế, khác nào người xưa”. Đời loạn đọc sách là cao hơn cả. Chẳng rõ do ai nói hoặc dẫn theo điển tích, điển cố gì? Nhưng xét ra thấy có hợp lý hay không? Rất khác với: “Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt/ Xếp bút nghiên theo việc đao cung/  Thành liền mong tiến bệ rồng/ Thước gươm đã quyết chẳng dong giặc trời “ (Chinh phụ ngâm).

Thử hỏi, trong sách có gì?

Ta hãy đọc tiếp: “Chẳng sợ kẻ lắm thầy nhiều tớ/ Thấy ta nghèo ra sự rẻ khinh/ Thư trung lắm kẻ hiển vinh/ Dập dìu hầu hạ, linh đình ngựa xe/ Chẳng sợ kẻ lắm tiền, nhiều lúa/ Nghĩ mình rằng có của thì hơn/ Thư trung kim ngọc vô vàn/ Đầy khè chung đỉnh, chứa chan bạc vàng/ Chẳng sợ lắm kẻ thê nhiều thiếp/ Đã hẳn rằng tốt đẹp hơn ai/ Thư trung có gái tuyệt vời/ Những người mặt ngọc là người vẻ vang/ Chẳng sợ kẻ tòa ngang dãy dọc/ Khinh nhau rằng hàn ốc thê lương/ Thư trung tuấn vũ điêu tường/ Lầu hồng gác phượng cột giường liền mây”.

Với những câu du dương lục bát du dương, nói tắt một lời, sở dĩ phải đọc sách, cứ theo thứ tự từng câu thơ là bởi trong sách có nhiều người hầu hạ, linh đình ngựa xe; có vàng ngọc, châu báu; gái đẹp; có nhà cao cửa rộng v.v… Ngạc nhiên quá, chẳng lẽ vì những thứ ấy mà đọc sách? Nếu đúng thế, ý nghĩa việc đọc sách đã trở nên tầm thường chăng? Chẳng phải đâu, phải hiểu rằng, nếu chăm chỉ đọc sách (cũng là học) thì sau này mới có cơ hội thi đậu, ra làm quan. “Mai ngày treo biển tên đề/ Khôi khoa lại được gặp kỳ thánh minh”.

Ra làm quan thì những thứ nêu trên đều trong tầm tay, thế thì mặc kệ thiên hạ, phận mình là hãy cứ lo “độc thư”. Xét ra, ý nghĩa của việc đọc sách cũng tầm thường nốt chăng? Tầm thường, bởi dám nghĩ rằng, trước hết phải lấy sự mở mang tri thức làm trọng, chứ nào phải chỉ nhằm phục vụ cho việc đạt đến mục đích cuối cùng như nội dung các câu thơ trên. Suy nghĩ này, có ai nói khác gì không? Cái vui của đọc sách còn là chỗ đó. Việc gì phải nhất nhất tin vào sách, lấy đó làm khuôn vàng thước ngọc, kể cả Gia huấn ca mà cần có cái nhìn khác về một vấn đề đã cũ. Sự trao đổi ấy, há chẳng phải là niềm hứng chí của những kẻ đồng hội cùng thuyền đó sao?

Lại sắp đến ngày khai mạc Hội sách TP.HCM lần thứ X. Trước đây, do không gõ vi tính, chỉ viết bằng máy đánh chữ, viết xong nộp tòa soạn; bài in xong, chẳng lưu giữ, vì thế y chẳng thế nhớ nổi Hội sách lần I diễn ra thế nào nữa. Ngày hôm kia, một vài anh em cùng viết báo ở vực văn hóa văn nghệ lai rai, có đồng nghiệp hỏi, đại khái, người làm sách với người buôn sách có gì giống và khác nhau? Y phát biểu rằng: “Người làm sách là những người sẵn sàng bỏ ra nhiều tâm huyết, tiền bạc, thời gian để sản xuất ra những cuốn sách mà họ tâm đắc, mà họ yêu thích và cho rằng có giá trị, Bất chấp những đầu sách đó kén độc giả. Người buôn sách là những người cứ thấy loại sách nào có lời thì làm, bất kể sách có nội dung không hay, có tác động xấu, tiêu cực tới đạo đức, hành vi hoặc lối sống”.

Đồng nghiệp Lệ Chi - Giám đốc Chibooks bổ sung: “Người làm sách là những người luôn sống với một lý tưởng riêng, có tham vọng tạo ra những giá trị tinh thần cho mình và một số người khác thông qua một số dòng sách mà họ cho rằng có giá trị, có ích lợi cho cộng đồng. Họ sẵn sàng dùng trọn thanh xuân, tiền bạc để đeo đuổi, thực hiện tâm huyết đó. Họ luôn sống đắm đuối với lý tưởng của họ. Họ có khả năng đánh thức, lay động tâm hồn của hàng ngàn, hàng triệu con người thông qua các sản phẩm của họ.  Với độc giả, người làm sách còn là người thủ lĩnh tinh thần, vừa là người cứu rỗi linh hồn, là kẻ tưới tắm suối nguồn tươi trẻ lên những tâm hồn đang khô cạn, là người truyền bá tri thức, là người tạo thêm hy vọng và niềm tin vào cuộc sống, là bạn đồng hành âm thầm mà tin cậy, luôn chìa tay ra giúp đỡ và định hướng cho cuộc đời bạn theo hướng tốt đẹp hơn.

Người làm sách là những người tạo hy vọng và buôn tương lai, bất chấp mọi rủi ro và những cái giá phải trả đắt đỏ. Họ mê mải đắm đuối lao vào làm sách như một sự đeo đuổi tín ngưỡng, tôn giáo sùng tín nhất. Với dư luận xã hội, người làm sách là một lũ ảo tưởng, mơ mộng viển vông, sống trên mây và thừa tiền mới đầu tư vào làm những đầu sách kén người đọc.

Người buôn sách luôn là những kẻ kinh doanh thực tế, nhìn nhận đúng giá trị vật chất hiện tại của từng đầu sách nhưng không thể nhìn thấy và cũng không thể tận hưởng được giá trị tinh thần từ chúng. Sự cân bằng và tỉnh táo quá mức của kẻ buôn sách có thể đem lại nhiều thắng lợi về tiền bạc nhưng khó có thể tạo ra những giá trị văn hoá đúng mực cùng những đầu sách hay, mang đậm cá tính và dấu ấn văn hoá cùng trình độ của người làm sách”.

Xét ra, ý kiến của Lệ Chi chí lý lắm. Xét ra, trong các cuộc ăn nhậu bù khú, đừng say quá, vẫn có thể trao đổi được nhiều vấn đề, dù nhỏ nhưng hữu ích gấp triệu lần những lời buôn dưa lê “đâm bị thóc chọc bị gậy” lằng nhằng chẳng đâu vào đâu. Mà này, có phải xưa nay, ở Việt Nam đã xuất hiện tầng lớp những người làm sách đúng theo nghĩa cao quý của nó? Vâng. Có thể kể đến tên tuổi của nhiều nhà xuất bản, nhiều cá nhân. Mà thôi. Một người gieo hạt, trồng cây chẳng bao giờ kể đến công lao của mình; miễn cây cao ấy, tạo ra trái ngọt, bóng mát cho người đương thời, thời sau tận hưởng/ hưởng thụ thì họ đã hài lòng, mãn nguyện.

Này, ở Việt Nam ai là người yêu sách vào hạng thượng thừa? Với y, ở thế kỷ XX, chỉ có thể chọn lấy người đứng đầu bảng là Trần Văn Giáp (1902-1973).

Từ năm 1957, được sự khuyến khích của người bạn thân Nguyễn Văn Xước - Giám đốc Thư viện Quốc gia, Trần Văn Giáp đã giành phần nhiều thời gian biên soạn cuốn sách Tìm hiểu kho sách Hán Nôm - nguồn tư liệu văn học, sử học Việt Nam (2 tập). Ông cho biết đã lấy những thiên thư mục của Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú làm gốc, nhưng ông đã vượt lên trên các bậc tiền bối vì trong công trình Tìm hiểu kho sách Hán Nôm đã thu nhặt, giới thiệu cả thảy 429 tác phẩm. Số lượng này gấp đôi số sách mà Phan Huy Chú giới thiệu trong Văn tịch chí; gấp bốn lần số sách mà Lê Quý Đôn giới thiệu trong Nghệ văn chí. Về giá trị thông tin, ông cố gắng cung cấp bức tranh toàn cảnh về tình hình thư tịch của nước Nam từ đời Lý đến trước Cách mạng tháng Tám.

Trần Văn Giáp đã nói rõ về công việc của mình: “Nguồn văn học của Việt Nam, theo các sách còn sót lại, có đã từ lâu, ít ra tới hàng ngàn năm nay. Những tư liệu nói về sách vở cổ của một nước, một dân tộc thông thường gọi là thư tịch chí hay kinh tịch chí. Chính các kinh tịch chí là nguồn gốc tư liệu văn học hay còn gọi gọn là nguồn văn hiến của một dân tộc”. Chính vì quan niệm rạch ròi và có trách nhiệm đối với di sản văn hóa của dân tộc nên ông đã nỗ lực thực hiện với thành quả cao nhất. Bộ sách quý này tập 1 được phát hành năm 1970, và tập II được phát hành năm 1990 đã gây được tiếng vang lớn trong dư luận trong và ngoài nước.

Từ đây, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm có thể nói là bộ thư mục độc đáo được thực hiện theo “Mô hình Trần Văn Giáp”, đã tổng kết nửa thế kỷ lao động không mệt mỏi của một học giả uyên bác, là công trình khoa học lớn nhất đời ông, là một bước phát triển mới trong lịch sử thư mục học (bibliographie) của Việt Nam. Từ đây, khi nói đến lãnh vực thư mục học thì sau hai bậc tiền bối đi trước là Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú, chúng ta có thể xếp nhân vật tiếp theo là Trần Văn Giáp. Thế nhưng, do công việc của một cá nhân nên ông vẫn chưa phân loại, xử lý hết được toàn bộ kho sách khoảng 5.000 cuốn Hán - Nôm hiện còn lưu giữ. Công việc này vẫn còn chờ đợi công sức của những người tâm huyết khác. Ai sẽ là người tiếp tục nối theo chí hướng của Trần Văn Giáp để góp phần nghiên cứu, khai thác kho thư tịch tài liệu Hán Nôm đang đề ra một cách cấp thiết hiện nay?

Có những nhà khoa học với nhiều mà công trình để lại, càng lùi xa thời gian, không những không bị thời gian phủ mờ mà còn lấp lánh giá trị hiện hữu. Hội nghị quốc tế về Việt Nam học được tổ chức lần đầu tiên tại Hà Nội (7.1998), qua đó ta càng thấy việc làm đơn độc, bền bỉ, nhẫn nại của Trần Văn Giáp đối với kho sách Hán Nôm vẫn còn mang ý nghĩa thời sự.

Trần Văn Giáp mất ngày 25.11.1973 tại Hà Nội. Và trong căn phòng tá túc ở trường Bác Cổ Viễn Đông, người ta không tìm được tài sản gì của ông để lại, ngoại trừ những pho sách! Đó là thứ tài sản quý báu mà không phải ai cũng có được, dù giàu có nhất. 

Nhưng rồi, sách có là gì không? Đặt câu hỏi này, liệu có thừa? Vẫn biết mà vẫn hỏi ắt cớ cớ sự gì đây? Vâng, thông tin mới nhất khiến người yêu sách chấn động: “Giật mình tin tiêu hủy hơn 10 ngàn quyển sách ở Thư viện Uông Bí” (Báo Nông nghiệp Việt Nam ngày 15.3.2017). Theo bài báo này: “Tôi nghĩ rằng hàng vạn quyển sách như thế mà lại mang đi tiêu hủy thì vấn đề không đơn giản. Ở đây, ai cho phép tiêu hủy thì người đó phải chịu trách nhiệm đầu tiên”, ông Nguyễn Hữu Giới - Chủ tịch Hội Thư viện Việt Nam nói”.

Trở lại với sự kiện Gạc Ma, tự dưng nhớ đến Hoàng Sa. Đã có nhiều sách về Hoàng Sa-Truong Sa khẳng định hai quần đảo này thuộc chủ quyền Việt Nam. Với y, một trong những tài liệu về Hoàng Sa cần phải đọc vẫn là Kỷ yếu Hoàng Sa (NXB Thông tin và Truyền thông). Tập sách này do Ủy ban Nhân dân huyện Hoàng Sa thuộc UBND thành phố Đà Nẵng in năm 2012. Đặc biệt nhất còn là thủ bút của những người đã từng sống tại Hoàng Sa. Trước đây, khi đọc Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1782 - 1840), y thích thú với những dòng, những dòng chữ ghi nhận cách đây gần 200 năm như đang thả hồn xuôi về một vùng cổ tích với nhiều điều kỳ diệu, lạ lẫm:

“Ngoài biển phía đông bắc có đảo Hoàng Sa, nhiều núi lớn nhỏ, đến hơn 130 ngọn núi. Từ chỗ núi chính đi ra biển sang các đảo khác ước chừng hoặc một ngày; hoặc vài trống canh. Trên núi có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước chừng 30 dặm, bằng phẳng rộng rải. Trong bãi có dòng nước trong suốt đến đáy. Sườn đảo có vô số vỏ yến sào; các thứ chim có đến hàng nghìn vạn con, thấy người vẫn cứ đỗ quanh, không bay tránh. Bên bãi cát, vật lạ rất nhiều, có thứ ốc có vằn gọi là ốc tai voi to như cái chiếu, trong bụng có hột châu to bằng ngón tay cái, nhưng sắc nó đục, không bằng ngọc châu ở trong con trai; vỏ nó đẽo làm bia được, lại có thể nung làm vôi để xây tường…”.

Tạm dừng ở đoạn văn này, tự hỏi, “có thứ ốc có vằn gọi là ốc tai voi to như cái chiếu”, liệu có thật không? Ngạc nhiên quá. Có thật đấy. Không những thế, trong Kỷ yếu Hoàng Sa, ông Trần Văn Sơn sinh năm 1947 tại phường Mỹ Khê, quận Sơn Trả (Đà Nẵng) đã kể lại ngày tháng đã sống, chiến đấu tại Hoàng Sa vào năm 1973: “Ấn tượng khó quên khi tôi ở Hoàng Sa trong một đêm trăng sáng, tôi cùng một vài anh em đi rình bắt rùa biển. Tôi nhớ có một con rùa to, rất to, hai người đứng trên lưng nó, nó vẫn bò đi được. Khi nó bò đến mép nước thì hai người mới nhảy xuống. Phải nói là chưa bao giờ, tôi được thấy con rùa to như vậy” (S.Đ.D tr.145).

Tình yêu quê hương, non sông đất nước, còn là những câu chuyện kể từ các nhân chứng nữa. Nếu sách, báo không ghi lại, làm sao đời sau có thể biết?


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 1 trong tổng số 54

trinhduyson