LÊ MINH QUỐC:Nhật ký 19.2.2019

tyho-nguyn-tieu-2019

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 5.1.2019

anh-gia-dinh-ngay-xuaTết xưa, chụp tại nhà ông bà ngoại năm 1968

Thoáng đó, tưởng chừng chỉ cần đưa tay ra níu lấy gió trời là đã chạm đến Xuân, sờ thấy Tết. Cảm giác này, thường đến vào những ngày đầu năm mới. Năm qua, y có gì mới không? Ắt có. Ấy là vừa được lên chức không chỉ cực kỳ “oách xà lách” mà còn “ngon lành cành đào”. Thế thì, hãy mượn lấy câu hát xưa “súc sắc súc sẻ” để tự chúc lấy một niềm vui rực rỡ.

 

Cứ theo như nhà giáo Dương Quảng Hàm cho biết: “Vào khoảng nửa đêm Ba mươi Tết, trẻ con nhà nghèo đi thành từng bọn đến cửa các nhà xin tiền. Đứa đi đầu cầm một cái ống đựng tiền đã xin được lắc lên thành tiếng “súc sắc”, rồi vừa lắc vừa hát bài này”: “Súc sắc súc sẻ/ Nhà nào nhà này, còn đèn còn lửa/ Mở cửa cho anh em chúng tôi vào/ Bước lên giường cao, thấy đôi rồng ấp/ Bước xuống giường thấp, thấy đôi rồng chầu…”. Nhịp đi của bài đồng dao reo vui, vần nối theo vần, chúc cho gia chủ sự giàu sang, phú quý như nhà ngói lợp, có voi, có ngựa, sống lâu hơn trăm tuổi, sinh con đẻ cái…

 

Và nay, cũng bài đồng dao này, từ những câu trên, y đã nối theo: “Chích chòe theo sau/ Chào mào đi trước/ Hồng hạc chúc Tết/ Chú ếch thổi kèn/ Gõ kiến chập cheng/ Sâm cầm thổi sáo/ Chúc lành ông Táo/ Lên chức… vú em/ Trổ tài nấu ăn/ Phụ vợ chăm bé…”. Mà nghĩ cho cùng, đời người được thế đã là may mắn lắm rồi. Từ một người cơm hàng cháo chợ, nay đã biết đi chợ, nấu ăn, phụ vợ thay bỉm, ẳm bồng và hát ru con, há chẳng phải niềm vui rực rỡ là gì?

Sáng nay, vừa ẳm con vừa nghĩ vẩn vơ, có phải “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính”? Người đời bảo thế, chắc gì đã đúng? Cái tính, cái nết ấy cũng từ giáo dục của các bậc phụ huynh mà ra. Thời nhỏ, sau khi thi rớt trung học đệ Nhất cấp, tức từ lớp Năm lên lớp Sáu, y không thể vào học trường công Phan Châu Trinh (Đà Nẵng). Thiệt tình, chán nản quá sức, nói như lời hăm he của mẹ y: “Nếu thi rớt, ba mẹ cho về quê đi chăn bò”. Được thế, sướng quá đi chứ, còn hơn phải mắc cỡ, tự ti mặc cảm với bạn bè. Giữa lúc y dứt khoát không chịu đi học, ngày nọ ba y mua về quyển sách Kim chỉ nam dành cho học sinh của Nguyễn Hiến Lê.

Mỗi tối, sau giờ cơm nước, ngươi cha nhẫn nại lật từng trang đọc cho con nghe và giải thích thêm. Từ những lời khuyên trong quyển sách này, y dần dần hiểu ra học trường nào cũng được miễn có sức khỏe, được học với thầy cô giáo yêu thương học trò như con và nhất là mình có phương pháp học. Y đồ rằng, khi đọc và giảng ý nghĩa trong sách cho con, chính lúc ấy, các bậc phụ huynh cũng đang học. Không phải ngẫu nhiên, khi y lớn lên đã thấy trong nhà có rất nhiều sách. Ba y mua đó. Có lẽ, ngoài sở thích, còn một phần do ông tán thành ý kiến tâm đắc của nhà văn Nguyễn Hiến Lê, đại khái, sự giáo dục sẽ thất bại nếu không dạy cho trẻ thói quen đọc sách. Vì ham đọc sách, trẻ không tự giam mình trong cảnh vật cỏn con trước mắt mà bước vào thế giới mênh mông của tư tưởng, tưởng tượng và tình cảm...

Yêu thích một tác phẩm, với đứa trẻ chỉ là giải trí thôi ư? Không. Còn là sự hình thành nhân cách sau này nữa chứ? Nói cách khác, nhà văn đó chính là “người ơn”. Dù chỉ một câu thơ, một ca từ an ủi lúc ngã lòng tuyệt vọng; một bức tranh đem lại mỹ cảm vui sống; một quyển sách đã mở ra chân trời mới… Dù chưa một lần trò chuyện để được nghe một lời an ủi, chỉ bảo nào từ các tác giả đó nhưng rồi, nghĩ cho cùng, đó chính là “người ơn” đã giúp ta vượt qua bế tắc, khó khăn trong thời điểm đó. Dù rằng, những người đó không hề hay biết nhưng thâm tâm ta làm sao có thể quên?

Với y, trong số các  “người ơn” đó, còn có cả nhà văn hóa Nguyễn Hiến Lê đã góp phần giúp y thay đổi. Ngay cả Nguyễn Hiến Lê, ông cho biết bản thân ông cũng phải tự thay đổi, nếu muốn tiến bộ. Ngày nọ, trong lớp im phăng phắt, học trò cắm cúi làm bài tập, ông giáo đang chăm chú tranh thủ chấm bài, bỗng ông ngẩng đầu lên, nói lớn: “Lê marche à recoulons” (Trò Lê đi giật lùi). Cả lớp cười ầm lên. Từ đó, luôn bị bạn bè chế giễu, trò Lê xấu hổ quá quyết tâm phải sửa tính sửa nết, chuyên cần hơn.

Thuở nhỏ, Nguyễn Hiến Lê được cha dạy chữ Hán, chữ quốc ngữ và làm bốn phép toán, sau đó mới vào học dự bị ở Trường Tiểu học Yên Phụ (Hà Nội). Do người cha dữ đòn lại rèn cặp chu đáo nên ông học hành tiến bộ. Năm lên 10, chẳng may, mồ côi cha, gia đình lâm vào cảnh nghèo túng, “Không còn cha nhắc nhở nữa, kiềm chế nữa, tôi bỏ bê việc học trọn một niên khóa”, ông Lê nhớ lại. Rồi như ta đã biết, nhờ câu nói của thầy mà ông Lê đã thay đổi.

Bấy giờ, để có thể theo kịp bạn bè về môn tiếng Pháp, ông nhịn ăn sáng nửa tháng để đủ tiền để mua quyển Từ điển Larousse. Hễ khi gặp các chữ khó thì tra cứu tìm hiểu cho rõ nghĩa. Dù học hành chuyên cần, được lãnh thưởng học sinh giỏi tại Nhà hát Tây nhưng lúc thi vào Trường Bưởi (nay Trường Chu Văn An) lại rớt vì môn chính tả. Sau đó, ông phải vào học trường tư Trí Đức. Nhằm khắc phục điểm yếu của mình, ông chú tâm đọc danh tác của văn hào Pháp Victo Huygo bằng nguyên tác dù chỉ là loại sách tóm tắt, chừng vài chục trang in, nhờ đó, qua năm 1927, ông dễ dàng thi đậu vào Trường Bưởi. Sự đọc này, về sau đã có phần ảnh hưởng đến phong cách viết văn của ông: “Tôi nhận thấy Hugo hay dùng “phép đối ngữ” mạnh mà kêu, tôi cũng lây hơi bút pháp đó”.

Trong thời gian này, một quyết định quan trọng từ người mẹ: bà buộc con trai suốt thời gian nghỉ hè phải về Phương Khê (Sơn Tây) học chữ Hán với ông bác ruột. Lý do của bà đơn giản chỉ là muốn con mình có thể đọc được gia phả, biết gốc gác ông bà tổ tiên. Ngoài việc học từ quyển Ấu học Hán tự tân thư, ông còn được “ngốn” thêm nhiều sách vở khác nhà ông bác nữa. Nhờ vậy, vốn từ tiếng Hán của ông ngày một nhiều thêm và nó chính là nền tảng sau này.

Sau khi ra trường do nhà nghèo, Nguyễn Hiến Lê không tiếp tục theo học ban Tú tài bản xứ mà thi vào Trường Công chánh. Tháng 9.1934, ông thi ra trường đậu hạng cao, ông bác ruột có bài thơ nhắc nhở: “Mừng này biết lấy gì cho nhỉ?/ Hai chữ khiêm khiêm giữ đạo xưa”, lấy gốc từ quẻ Khiêm trong Kinh dịch: “Người quân tử nên rất khiêm tốn để nuôi cái đức của mình”, câu này đã “vận” vào đời ông một cách nhất quán. Lúc chờ bổ nhiệm sở, để không lãng phí thời gian ông vào Thư viện Trung ương ở Trường Thi (Hà Nội) mượn quyển Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh, mỗi ngày chép lại chừng ba chục từ rồi học thuộc nghĩa. Ông còn mượn luôn quyển Grammaire Chinoise của Cordier, học về cách đặt câu. Khi có vốn từ đã kha khá, ông thử trình độ bằng cách đọc Tam quốc chí, từ đó, ông rất mê lời bình của Kim Thánh Thán.

Lúc được bổ nhiệm vào miền Nam, ngoài công việc chuyên môn, thời gian còn lại rất nhàn rỗi, “gặp hồi mưa to gió lớn thì buồn ôi là buồn! Phải nẳm co trong chiếc ghe bầu, cửa đóng kín mít đậu trên kinh Xà No, xa chợ, xa nhà, xa bạn”. Chỉ còn cách đọc sách, vớ được quyển gì đọc quyển nấy nhưng vẫn không hết một ngày. “Lại chỉ có cách học chữ Hán là phương thần hiệu hơn cả”. Thế là ông chọn cách học “hàm thụ” - tức lúc đọc các bộ Mạnh Tử, Lương Khải Siêu ẩm băng… hễ gặp chữ nào không hiểu thì ông chép lại, gửi thư nhờ cho ông bác, nhờ giảng nghĩa.  “Cứ mót như vậy, lần lần tôi cũng biết thêm mà vỡ nghĩa”, ông cho biết. Không những thế, thời gian này nhằm tiêu khiển cho ngày và luyện văn, ông bắt tay viết vài quyển du ký cực hay như Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười, Đế Thiên Đế Thích.

Từ năm 1938, lúc trở lên Sài Gòn lúc 26 tuổi, không còn đi đo đất như trước, thời gian lại cũng rãnh rỗi. Bấy giờ, nhiều bè bạn rủ rê ông nên khoay khỏa bằng cách chơi nhảy đầm, đánh bài, nhậu nhẹt nhưng xét thấy tạng mình không hợp nên ông từ chối, chỉ nằm nhà đọc sách dù bị chê trách là chọn lối sống khổ hạnh. Ông viết câu tự răn (nghĩa): “Trị yêu sách, loạn yêu sách, trong sách chi chi cũng có/ Nghèo giữ đạo, giàu giữ đạo, ngoài đạo thảy thảy đều không”.

Ở Sài Gòn có rất nhiều sách, dễ dàng tìm mua để học, tra cứu, nhờ vậy ông đã mua được bộ Nho giáo của Trần Trọng Kim, Lão tử, Mặc tử của Ngô Tất Tố… Những quyển này, có trích dẫn chữ Hán lại chú thích rõ ràng đã giúp cho ông học thêm về nghĩa của rất nhiều từ mà trước đó chưa biết. Cách học của ông là từ một cuốn sách, đọc đến đâu thì tóm tắt, ghi lại rồi so sánh với các sách khác; nếu có gì chưa rõ thì lại biên thư nhờ ông bác giải đáp. Trải dài theo năm tháng, ông đã dịch một loạt tinh hoa văn hóa, danh tác Trung Quốc, “Sở dĩ tôi cả gan như vậy vì tin lòng quảng đại của các nhà cựu học, không nỡ trách một kẻ hậu học kiến thức nông cạn mà sẵn lòng hạ cố chỉ bảo cho những chỗ sai lầm”.

Đúng như ông đã tâm niệm “loạn yêu sách”, thời thế năm 1945-1946 có nhiều biến động, “không khí Sài Gòn thật khó thở. Khu tôi ở, nhà nào cũng đóng cửa”, do phải nằm nhà, ông mày mò học Anh qua cuốn L’Anglais en 100 leçons. Trong hồi ký, ông cho biết: “Trong đời tôi, hễ phải ở trong nhà một thời gian lâu thì tôi học ngoại ngữ. Cách đó là cách tốt nhất mà cũng ích lợi nhất để khỏi buồn. Và lần nào tôi học cũng chỉ để đọc sách thôi, không cần nói. Những môn tôi đọc để tiêu khiển đó, sau đó giúp cho tôi rất nhiều trong việc viết sách”. Âu cũng là đức tính của một con người đã từng bộc bạch (nghĩa): “Phú quý chẳng màng, giữ tấm băng trinh thời loạn/ Sách hoa riêng thích, thơm trang giấy mực đời sau”.

Từ đọc sách đến viết sách là một khoảng cách rất gần, nhất là đối với Nguyễn Hiến Lê. Ông đã có một quan niệm, có thể nhiều người thấy lạ lùng nhưng hoàn toàn có lý: “Khi muốn học về một vấn đề nào thì cứ viết quyển sách về vấn đề ấy”. Tâm nguyện này, phần nào lý giải vì sao Nguyễn Hiến Lê đã viết thành công ở rất nhiều lãnh vực.

Một trong cả hàng trăm quyển sách đã dịch, trước tác của Nguyễn Hiến Lê, ở đây, y chỉ nhắc đến loạt sách “Học làm người” bởi lẽ đã từng in với số lượng cực lớn, đến này vẫn còn liên tục tái bản: Đắc nhân tâm, Quẳng gánh lo đi. Bản dịch thành công bởi ông đối chiếu từ bản in tiếng Anh và tiếng Pháp theo phương châm dịch thoát, có thể cắt bớt, tóm tắt, sửa đổi cho phù hợp với người Việt, miễn là không phản ý tác giả. Nhờ vậy, không riêng gì bạn đọc mà chính ông cũng tự nhận xét “không có dấu vết dịch” là vậy.

Trong các loại sách, y vẫn thích đọc hồi ký của người nổi tiếng, qua đó, có thể học thêm được nhiều điều hữu ích. Đọc là học. Mà này, trong những ngày này đã nghe trong gió thơm lên mùi Tết, y đang đọc quyển sách gì thế? Trả lời ra làm sao? Đại khái, ai đó đã nói, “Trong cuộc đời, mỗi người nên trồng một cái cây, đẻ một đứa con và viết một cuốn sách”. Cây đã trồng, sách đã viết, nay đã có con. Thế thì, cần quỷ quái gì phải cứ mải mê đi tìm “định nghĩa” về hạnh phúc. Hạnh phúc là bằng lòng với những gì mình đang có. Đơn giản vậy thôi. Với các bậc phụ huynh bỉm sữa, há chẳng phải đứa bé vừa oe oe lọt lòng chính là quyển sách kỳ diệu nhất đó sao? Đúng là thế. “Bây giờ đây nhìn ngắm con nằm/ Ba sung sướng như lật từng trang sách/ Sự sống cựa mình trên từng trang sách/ Chính từ con - mới lạ đến không ngờ”.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 25.12.2018

 

205800cf09e75ca

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 19.12.2018

ngay_viet_moi_ngay_qqqq

 

Đôi lúc có những chiều, ngồi thừ người và ngước mắt nhìn lên kệ sách. Chậm chậm lướt qua từng tựa sách. Sách dày. Sách mỏng. Tên tuổi quen. Cây bút mới. Lại nghĩ, nếu ai đó vào thư viện, thống kê lại trong rừng sách ấy, có cả thẩy bao nhiêu chữ? Chắc chắn chẳng một ai có thể làm nổi. Nói gì xa vời, ngay cả nhà văn, nếu hỏi đã viết bao nhiêu chữ trong đời văn, họ cũng ngắc ngứ. Thậm chí, đã viết và đã in bao nhiêu quyển sách, chắc gì họ đã nhớ? Có phải các bậc đàn anh Hồ Biểu Chánh, Lê Văn Trương, Tô Hoài… là những nhà văn đã in nhiều đầu sách nhất?

Đã nhà văn thì phải viết. Đã họa sĩ thì phải vẽ. Cứ viết mỗi ngày, dù chẳng ai thèm kề súng vào đầu buộc phải viết. Khổ hay sướng? Muốn viết, ít ra phải cho chữ. Nhà văn không có chữ, chẳng khác gì anh chàng lái buôn không có vốn.  hế thì thời bé, tóc còn để chỏm mới ti toe đánh vần “A, B, C dắt dê đi ị/ A, Á, Ớ dắt vợ đi chơi” hoặc “Nhân chi sơ là sờ vú mẹ/ Tính bổn thiện là miệng muốn ăn” thì các nhà văn tài danh của nước Nam đã học văn ra làm sao để rồi về sau, có được vốn chữ ghê gớm?

Trước hết, y muốn bắt đầu từ Ông Dế Mèn. Dù học hành không nhiều, mãi đến năm 1938, lúc 18 tuổi “may mà đỗ được cái ‘xéc-ti-phi-ca’ (bằng tiểu học Pháp - Việt) nhưng đọc sách Pháp không hiểu hết câu” như chính Tô Hoài cho biết, bù lại, ở ông là một nỗ lực tự học rất đáng khâm phục.

Ông học cái gì? Chuyện này ta bàn sau. Chỉ biết rằng, thuở hoa niên, Tô Hoài (1920-2014) là cậu bé lười học. Lúc ngồi trong lớp, cậu chỉ thích ngóng mắt ngoài cửa sổ đếm trong sân có bao nhiêu cây cau, cây nhãn; quan sát xem nơi nào có nhiều chim sẻ, thậm chí còn nhớ cả “Những lúc học trò vào lớp, sân hết người đứng, từng đàn chim sẻ trên hai mái nhà, trong hóc đình lại ríu rít xuống nhảy nhô nhốp, đánh đuổi nhau chí chóe”. Dù học hành chẳng ra làm sao, ham chơi thơ thẩn một mình vì tính tình nhút nhát nhưng Tô Hoài lại có trí nhớ tốt.

Vốn liếng học văn của ông chính là nhờ hồi bé đã đã nghe các dì đọc những câu thơ Truyện Kiều lúc bói Kiều, thế là ông tập làm thơ lẫy Kiều. Khi vớ dược quyển Tứ dân văn uyển, Văn đàn bảo giám -  những tập tuyển các áng thơ cổ điển, truyện thơ Nôm Bà chúa Ba… là ông lại bắt chước làm theo. Chẳng hạn, bài thơ Đan áo được đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy số 199 (năm 1938): “Một chiều dừng lại ghé thăm/ Thì ra mình đã nghi lầm cô em/ Cô em chăm chỉ ngày đêm/ Đan thuê nuôi mẹ, áo len cho người”. Nói cách khác, bước đầu đến với văn chương của nhiều người, trong đó có Tô Hoài chính là bắt chước theo người đã đi trước.

Đến với văn chương, kỷ niệm đáng nhớ nhất của ông là người cha đi làm ăn tại Sài Gòn, lúc về quê có mang theo cái rương. Trong rương, lẫn lộn với quần áo còn có những cuốn “truyện Tàu” như Chinh Tây, Tam quốc chí diễn nghĩa, Tam hạ Nam Đường, Ngũ hổ bình Tây, Phong thần diễn nghĩa… do các nhà văn miền Nam dịch ra tiếng Việt. Ông đã đọc ngấu nghiến và chịu ảnh hưởng. Ảnh hưởng đến độ về sau khi ông cũng viết… truyện kiếm hiệp nhại theo những tình tiết ly kỳ đã đọc.

Tuy nhiên, ý thức luyện văn để trở thành nhà văn chỉ rõ nét khi lúc ông đọc được quyển Vô gia đình của Hector Malot qua bản dịch của Nguyễn Đỗ Mục. Bấy giờ đang trọ học tại Hàng Mã, tình cờ tìm thấy được quyển này dưới gầm bàn của chủ nhà, Tô Hoài đã đọc say mê khóc cười theo số phận của cậu bé Rémy. Và nhớ mãi. Không những thế, còn thêm một vài tác phẩm văn học Pháp nữa đã tác động đến công việc viết văn của ông.

Từ năm 1938, sau khi thôi học, Tô Hoài đã làm nhiều nghề kiếm sống, trong đó có cả nghề viết văn. Ban đầu, Tô Hoài xuất hiện với tư cách người làm thơ. Ông có cả tập Dưới bóng trăng thanh nhưng sau đó chính ông đốt bản thảo vì thấy rằng, thơ không “tải” hết tâm sự của mình. Và  cũng không phải sở trường. Từ đó, cũng như người bạn chí thân là Nam Cao, ông tìm hướng đi cho mình là chỉ chuyên về văn xuôi.

Muốn thế, phải học chữ. Quả đúng như thế, nhà văn Tô Hoài kể ngày nào ông cũng viết. Và khi đi thực tế, dù bất kỳ mục đích gì nhưng lúc nào cũng không quên “tác nghiệp”. Đi là ghi chép. Đi là quan sát. Đi là chiêm nghiệm. Đi là liên tưởng. Đi là thu thập lời ăn tiếng nói của bà con vùng miền khác. Đi là làm giàu thêm vốn từ.

Năm 1994, khi ra Hà Nội tham dự Đại hội Nhà văn trẻ lần IV (1994), y được nghe nhà văn Tô Hoài kể về nghề văn. Ông cho biết vẫn thích nhất là Dế mèn phiêu lưu ký in năm 1941. Và cho biết tác phẩm này phảng phất, lẫn lộn không khí của Guylive du ký, Đông Kisốt, Télémac phiêu lưu ký mà ông đã đọc qua bản dịch Nguyễn Văn Vĩnh. Cho đến nay, nó vẫn là tác phẩm tái bản nhiều lần, dịch ra nhiều thứ tiếng và đã làm nên “thương hiệu” Tô Hoài.

Lúc đó, trên diễn đàn ông hào hứng kể lại quá trình sáng tác trên 50 năm, đã có nhiều truyện ngắn in trên Tiểu thuyết thứ bảy, Truyền Bá, Hà Nội tân văn… mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, Tô Hoài có biệt tài viết về truyện loài vật. Ông viết hay đến nỗi khi đến chơi tòa soạn báo Ngày Nay, nhà văn Khái Hưng bước ra tận cửa bắt tay khen: “Tác giả truyện ngắn Con gà trống ri còn trẻ nhỉ?”. Khen thì khen thế, nhưng nhuận bút vẫn không trả một xu teng nào, bởi thời đó có lệ chỉ trả nhuận bút cho những tên tuổi mà tòa báo mời viết. Kể xong, ông cười tủm tỉm với cánh anh em viết trẻ đang há hốc ra nghe.

Có thể nói, Tô Hoài vốn rất ý thức “tu luyện” chữ nghĩa. Ông bảo: “Trong Truyện Kiều có chữ “áy” (Một vùng cỏ áy bóng tà, không biết nghĩa chữ áy thế nào, mới đọc đã cảm thấy man mác, thấy buồn). Phải đến dịp, tôi về Thái Bình, nghe người trong làng nói: “cỏ áy, mạ áy” mới biết tiếng “áy” là của bà con đồng ruộng Quỳnh Côi, quê vợ của Nguyễn Du ở Thái Bình - khi thất thế, Nguyễn Du đã nhiều năm ở quê vợ”. Lại dịp khác, thay vì nói “mạ nhú” ông cho biết đã học được của bà con nông dân Bắc bộ một từ khác, ấn tượng hơn, tình cảm hơn: “mạ ngồi”.

Trong túi áo của ông thời ấy cho đến lúc đã thanh danh, bao giờ cũng có sẵn cuốn sổ tay ghi chi chít những từ đã thu nhặt. Ngày kia, mấy bà đi chợ ngang xì xào không rõ nhà ai nấu món gì mà thơm nứt mũi, một bà buộc miệng: “Úi dào! Gần mũi xa mồm quá!”. Thế là ông “chộp” ngay vì câu nói đã lấy từ câu “Gần đất xa trời” mà sáng tạo ra. Lại nữa, ông cũng thích thú với câu phê phán về thói tham ô của cán bộ xã mà người dân thì thào: “Ngữ ấy, cứ móc tay vào họng là thấy thịt” v.v…

Không những thế, ông còn có thói quen là gặp gì đọc nấy, vì biết đâu cũng nhặt nhạnh được dăm từ mới. Chẳng hạn, Khóa lễ Cầu bình an và cầu siêu của chùa Quán Sứ có câu: “Cúng dàng rồi, nay con ngắm Phật… Đánh chuông mạnh quá thì nghe tiếng rẳng, đánh khẽ quá thì nghe tiếng trầm trề”. Ông học đã được các từ cúng dàng, ngắm Phật, rẳng, trầm trề làm giàu thêm vốn từ để rồi có lúc vận dụng vào trang văn. Trong tác phẩm Miền Tây, có câu: “Những con lũ gối lên nhau, miên man gầm thét, đuổi theo nhau”. Với từ “gối” mới lạ này, ông cho biết không chỉ từ quan sát mà còn do ngày kia đi thực tế ở Thái Bình, nghe bà con nông dân nói: “Đặt dây khoai lang thì đặt thưa, dây nọ gối đầu vào dây kia”…

Một khi đã viết xong trang văn nào, Tô Hoài thường có thói quen đọc đi đọc lại và chỉnh sửa nhiều lần cho đến lúc nào ưng ý mới thôi. Với một truyện ngắn, ban đầu ông viết: “Một giàn sao sáng rợn từ chập tối: Mặt trăng tròn vành vặc đỉnh đầu, tưởng với tay được”; bản 2, sửa: “Một giàn sao sáng rợn từ chập tối, dần dần mờ đi, khi cùng trăng lên vành vặc đỉnh đầu, tưởng với tay được”; bản 3, sửa lại: “Một giàn sao sáng rợn mắt cua chập tối…”. Sở dĩ, có được từ “giàn sao” đắc địa, mới lạ này, Tô Hoài cho biết là đã học từ cách nói trẻ con mà ông đã tình cờ nghe được; còn cụm từ “sao sáng rợn mắt cua”, ông vận dụng từ cách nói của bà con làng Cát Động đã gọi “sao mắt cua” nhằm chỉ ngôi sao mọc từ chập tối, cứ thây lẩy như mắt cua.

Lại nhớ, mở đầu chương 2 bản thảo tiểu thuyết Nhớ Mai Châu, ban đầu ông viết: “Tây nhảy dù xuống Vân Đình. Mới hôm nào con đường này còn tấp nập người tản cư, người về khuân đồ đạc ra bán ở chợ Đình”. Qua bản sửa 2, ông đã xóa sạch các từ thừa, chỉ còn lại: “Tây nhảy dù Vân Đình. Mới hôm nào đường này còn  tấp nập người tản cư về khuân đồ đạc ra bán ở chợ Đình”. Đại khái thế, đã viết, đọc lại thì sửa, nếu chưa ưng ý.
 

Thời công tác ở Tây Bắc, ông được những câu từ lời ăn tiếng nói của bà con lao động, lấy làm đắc ý. Thử đọc lại vài dòng ghi chép này xem sao? Tất nhiên. Đó là những câu:  “Rễ cây ngắn, rễ người dài, đi đâu cũng thấy họ hàng người Mán ta. Mong cho đất nước yên vui để quần áo được phơi chung một sào. Nóng quá, bồ hôi mẹ bồ hôi con bò ra khắp người. Gió to vụt ngã mất nhiều lúa. Lúc làm cỏ thì cỏ bết xuống, vài hôm sau cỏ lại ngồi lên. Nhà nó trâu dắt ra, bò dắt vào, nồi năm nồi bảy có cả”...

Trở lại câu hỏi, Tô Hoài đã học gì trong nỗ lực tự học? Xin thưa, ông đã học lời ăn tiếng nói không chỉ của người dân ở làng Nghĩa Đô quê ông, mà còn đi đến nơi nào hễ nghe được từ mới thì “chộp ngay”. Khi trao đổi với nhà văn Nguyễn Công Hoan, ông lý giải: “Anh tưởng đã là người Việt Nam thì biết hết tiếng Việt Nam à? Không phải đâu. Gì mà chả phải học. Không học thì làm sao biết được. Có cái là tiếng nước mình thì hàng ngày mình vẫn học mà không biết đấy thôi… Tôi cố gắng không bao giờ bỏ rơi một tiếng mới, một tiếng hay, hoặc một câu nói, một lối nói lạ tai”. Ấy mới là sự nghiệp của một nhà văn, chứ còn gì nữa?

Ai đó đã nói, sau lưng người đàn ông thành đạt luôn có một người đàn bà thủy chung, khoan dung. Điều này hoàn toàn đúng với nhà văn Tô Hoài. Còn nhớ, năm nọ Công ty văn hóa Phương Nam tổ chức lễ ký kết bản quyền với nhà văn Tô Hoài tại Hội Nhà báo TP.HCM, y may mắn được ngồi kề cụ bà. Cụ nhỏ nhắn, có nét đẹp thanh lịch của người Hà Nội xưa. Cụ mặc áo dài đen nền nã, cổ đeo xâu chuỗi ngọc thạch và hầu như chỉ mỉm cười, không nói bất kỳ một câu nào. Tất nhiên, y không bỏ lỡ cơ hội trò chuyện với cụ. Cụ bà kể: “Ông nhà tôi viết khỏe lắm, ngày nào cũng vào bàn viết. Người ta nhặt thóc, sạn ở gạo kỹ từng hạt thế nào, ông nhà tôi cũng viết xong thường đọc lại từng trang, lại chữa tiếp, chữa đi chữa lại nhọc công lắm”.

Mà nào chỉ mỗi Tô Hoài. Các nhà văn tài danh khác cũng vậy thôi.

Mà này, liệu chừng có lẩn thẩn, lẫm cẫm lắm không nhỉ? Giữa cái thời văn chương như bèo lại bàn chuyện “tu luyện chữ nghĩa” há chẳng phải vô tích sự lắm sao? Ai đã nói thế kia? Kệ họ. Đã sống bằng nghề viết, làm sao có thể rẻ rúng chữ nghĩa?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 25.11.2018

HAT-XAM-O-MIEN-NAM-1

 

“Miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời”. Lâu nay, vẫn nghĩ thế. Chắc gì đã đã đúng? “Đòn đau” à? Không đâu, thiết nghĩ phải là “lời đau”. Đòn đau, theo năm tháng sẽ quên, sẽ nguôi ngoai; lời lại khác, “lời nói đọi máu” còn ghê gớm hơn nhiều. Thế thì, khi cần thiết, con người ta sử dụng lời nói, cần quái gì phải nghiến răng thượng cẳng tay, hạ cẳng chân - nhất là trong lãnh vực giáo dục. Ấy thế, vừa qua ở tỉnh nọ, có cậu học trò tội nghiệp phải “hứng” lấy 231 cái tát, từ mệnh lệnh cay nghiệt của cô giáo. “Đòn đau” ấy chỉ đem lại sự thù hận. Một cú tát vào nền giáo dục nước nhà đấy chăng? Nghĩ mà đau. Từ sự việc này, lẩn thẩn nghĩ rằng, ngày xửa ngày xưa, trong sự giao tế, giao tiếp, người Việt luôn sử dụng lời ăn tiếng nói, cần nhắc từ câu chữ, chứ không thèm giải quyết, tiếp cận nhau bằng bạo lực. Thì cứ xem, lối làm quen, tỏ tình ngày trước ắt rõ.

Mà xét ra, ngày nay cách tỏ tình dễ dàng hơn trước. Nếu ngại ngùng, kém tài ăn nói, chỉ cần cái điện thoại cầm tay là đã có thể “thay lời muốn nói”. Khác hẳn thời của Đoàn Chuẩn - Từ Linh, ít ra phải “Phong thư ngào ngạt hương/ Nét bút đa tình lả lơi”. Dám nói rằng, trước đó nữa, cách tỏ tình phổ biến “Trên đồng cạn, dưới đồng sâu”, trên sông nước mênh mang: “Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi/ Kẻo khúc sông này bờ bụi tối tăm” thì ngụ ý, ngụ tình phổ biến vẫn qua câu hò đối đáp. Hò lên một tiếng cho vui. Điều này cho thấy người Việt rất giỏi trong cách gieo vần, hát hò lẫn sử dụng cách nói xa gần, bóng bẫy. Nét văn hóa Việt là đây, tìm đâu cho xa. Bao nhiêu lứa đôi đã nên duyên chồng vợ từ những cuộc “giao lưu văn nghệ” như thế.

Điều thú vị nhất, ở đây vẫn là cách ăn nói dí dỏm, hài hước mà thâm trầm, ý vị. Ngày nọ, anh chàng nọ muốn làm quen với các cô nàng bèn cất tiếng: “Chào đào, chào lựu, chào lê/ Ai xa tôi chào trước, ai kề chào sau”. Hoặc cũng có thể là: “Bước tới đây cầm chày giã gạo/ Tôi xin chào lê, chào lựu, chào kẻ cựu, người tân/ Trước tiên tôi xin chào anh chị nông dân/ Kẻ xa xôi tôi chào trước, người gần tôi chào sau”. Với cách “mở bài” này, kể ra cũng đã thanh lịch. Thế là cuộc hò đối đáp bắt đầu. Trong quá trình ấy, có lúc các o cũng muốn đùa bèn tinh nghịch thách đố cắc cớ:

Thiếp đưa chàng một nắm bắp rang

Chàng kiếm nơi mô tỉa được, thiếp với chàng trao duyên

Chà chà, khó quá phải không? Cực khó. Bắp đã rang, làm sao còn có thể tỉa, gieo với trồng? Ở Đồng Tháp có câu đố:

Sùm sụp mà đứng giữa trời

Chồng con không có một đời chửa hoang

Trên đầu tóc đỏ như rang

Chỉ tơ vấn vít trong vàng ngoài xanh

Đích thị là trái bắp. Nghĩ cũng lạ, ngoài Bắc gọi ngô/ lúa ngô trong khi đó trong Nam gọi bắp. Cứ theo như giai thoại dân gian, du nhập giống ngô về trồng trong nước thuộc về vai trò của cụ Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, qua chuyến đi sứ nhà Minh vào năm 1597. Thế nhưng theo Vân đài loại ngữ (NXB Miền Nam - 1972) của nhà bác học Lê Quý Đôn thì phải gần 100 năm sau: “Hồi đầu thời Khang Hy (1662-1723), Trần Thế Vinh, người huyện Tiên Phong (Sơn Tây) sang sứ nhà Thanh mới lấy được giống ngô đem về nước. Suốt cả đất Sơn Tây, nhờ có ngô thay cho cơm gạo. Ngô trồng ở Nghệ An, phần nhiều là giống ngô trắng (ngô nếp); ngô trồng ở Lạng Sơn có đủ năm sắc” (tr. 471). Có phải sở dĩ gọi ngô vì nó lấy từ Trung Quốc - còn gọi nước Ngô? Cái nước Ngô ấy còn lưu dấu trong thành ngữ; “Giặc nhà Ngô không bằng bà cô bên chồng”.

Khi trong Nam gọi bắp, có lẽ gọi theo hình dáng của trái chăng? Mà bắp là gì? Cứ theo như Việt Nam tự điển do Hội Khai trí tiến đúc khởi thảo năm 1931: “Vật gì thành đẵn mà hai đầu hơi thuôn thuôn”. Đại Nam quấc âm tự vị (1895) cho biết: “Loài ngũ cốc, loài hột, có trái bằng bắp tay mà dài; vật nào hai đầu nhỏ, khúc giữa lớn cũng gọi là bắp”. Rõ ràng ngoài Bắc gọi ngô nhưng trong Nam gọi bắp là gọi theo hình dáng của trái. Nghĩ thế, bèn lấy vui vì ít ra suy luận này cũng có thể chấp nhận được. Vì đang vui nên đọc thêm một câu đố nữa:

Thân em da đỏ hồng hào

Hàm răng đều đặn, tóc đào ngang lưng

Lúc em còn ở ngang hông

Áo dăm ba cái mẹ bồng trên tay

Lúc em về cửa nhà anh

Anh thương anh lại lột trần em ra

Đố ai biết trái gì? Dễ ợt, trái bắp/ ngô. “Thiếp đưa chàng một nắm bắp rang/ Chàng kiếm nơi mô tỉa được, thiếp với chàng trao duyên”. Câu hò này, không chỉ đố, còn là cách thăm dò ấy người thanh hay kẻ tục. Nếu kẻ tục tằn, thô lậu ắt lanh lảnh mà rằng: “Em chết ba năm rồi sống dậy đi lấy chồng/ Bắp rang anh tỉa mọc tràn đồng cho em coi!”. Thử hỏi, có lấy lòng được o thôn nữ ấy không? Ắt không. Có người dí dỏm đến tinh nghịch: “Ở mô mà nắng không khô/ Mà mưa không ướt, đúc vô mọc liền”. Ở mô là ở đâu. Đúc là gieo. Cũng có thể là dị bản: “Bên em có miếng đất hoang/ Ba năm không có nước/ Hạn sáu tháng không khô/ Em sẵn lòng trao cho anh trỉa, trỉa vô mọc liền”.
Câu hò vừa dứt, lập tức có tiếng cười rôm rã vang lên. Tại sao lại cười? Ai hiểu sao thì hiểu. Đã hiểu, ắt phải há miệng ra cười đó thôi. Có như thế, họ dễ dàng làm quen với nhau hơn. Thế mới biết, người bình dân, dù chữ nghĩa không nhiều nhưng khi cần nói thanh về cái tục, họ thừa khả năng biến hóa, sắp xếp các con chữ. Cô nàng lại thăm dò xem chàng ta đã vợ con thế nào, bèn hỏi bâng quơ:

Vợ anh chết đã ba năm

Đêm đông lạnh rứa, anh nằm với ai?

Vốn thông minh, chàng ta bèn đáp cũng bâng quơ:

Em hỏi chi chuyện ấy mà mất công

Nóng thì anh nằm ngủ thẳng, lạnh thì nằm ngủ cong, khó gì?

Vậy là huề trớt, dù có trả lời nhưng vẫn né khôn khéo đấy chứ? Hò đối đáp, tưởng dễ, ừ dễ, nhưng tâm địa thế nào e khó giấu. Với câu trò dò hỏi ấy, có kẻ đã “mất điểm” bởi trả lời bằng cách cay cú hỏi lại:

Tiếng đồn em lấy chồng già

Đêm nằm em thấy ớt, cà ra răng?

Nghe lỗ mãng quá, bực mình không? Cô nàng bèn thẳng thừng:

Tre già còn dẻo hơn măng

Ớt, cà già có hột, chớ hơn thằng ớt tơ

Chỉ bằng trái ớt, lại ớt tơ/ ớt non nữa chứ, liệu có nên cơm cháo gì? Nghe chua chát quá, chàng kia “nốc ao” cái chắc! Tình hình đã đến nước này, “tẩu mã vi thượng sách” là hơn. Thế nhưng có kẻ lại cố níu: “Chờ em cho mãn kiếp chờ/ Chờ cho rau muống lên bờ trổ bông”, quả nhiên, câu hò trả lời chỉ có thể là: “Rau muống trổ bông lên bờ nó trổ/ Ai biểu anh chờ, anh kể công lao?”.

Thế đấy, đừng tưởng hò đối đáp chỉ cho vui - một cách để quên đi lao động nhọc nhằn, đêm khuya canh dài, nhọc nhằn mồ hôi. Tùy tâm tính, có thể là tiếng rao lên ngọt ngào, thành thực: “Đêm thanh gió mát, nghe đó hát cũng thỏa tâm tình/ Gặp anh đây là bán lộ trình/ Bớ quân tử ơi! Hỏi thăm quân tử gia đình ở đâu?”. Câu trả lời lai thanh lịch không kém: “Nước biếc long lanh, người bạn lành thiệt là khó kiếm/ Anh dạo chơi cũng hiếm, chưa lựa được chỗ nào/ Em ơi! Mãng lo buôn bán ra vào Cần Thơ”.

Nếu thấy “kết model”, họ có thể tiến xa hơn, tất nhiên cũng bằng các câu có vần có điệu cho dễ lọt lỗ tai để không bị mang tiếng “dạy đời”: “Đó có nghĩ tình đây thì rượu say đừng uống/ Chớ muốn bài cào/ Chớ đắm mấy chị đào, chớ mê vào á phiện/ Khuyên anh bốn chuyện, anh khá ghi lòng/ Anh ơi! Ráng lo buôn bán, em sợ phòng dặn anh”. Chàng trai đáp lại cũng dặn dò: “Bậu có thương qua, khăn bà ba đừng đội/ Phường hát bội đừng mê/ Bài cạc-tê đừng mắc, tứ sắc đừng ham/ Cứ chuyên nghề nghiệp mà bậu làm/ Bớ em bậu ơi! Dẫu thất cơ lỡ vận, anh cùng làm với em”.

Nghe câu này, những kẻ hậu sinh như chúng ta đây ắt ngạc nhiên, vì sao “Khăn bà ba đừng đội”? Chịu chết, không thể lý giải nổi. Trong khi đó, áo bà ba lại được khen là đẹp, duyên dáng. Nhà văn Sơn Nam ghi nhận trong quyển Văn minh miệt vườn: “Sự liên lạc giữa Cái Mơn và Mã Lai đem cho miệt vườn nhiều loại cây mới: măng cụt, bòn bon, chôm chôm. Poulo Penang, nơi ông Trương Vĩnh Ký du học, là nơi có nhóm người Bà Ba lập rẫy mía. Bà Ba là người Mã Lai lai Trung Hoa (chiếc áo bà ba mà người miền Nam ưa thích, vạt ngắn không bâu chính là kiểu áo của người Bà Ba)”. Không những thế, ca dao còn có câu: “Thấy em bận áo bà ba trắng/ Anh muốn gắn chữ duyên/ Rồi mai lưu lạc, anh tìm em cho khỏi lầm”. Thế thì, khăn bà ba” ra làm sao mà chàng trai dặn dò cô nàng “đừng đội”?

Cái hay của hò đối đáp còn là lúc họ đặt ra tình huống. Không dễ dàng trả lời, nếu không thông minh, có tài ứng đối. Nữ: “Hò ơ, phụ mẫu tôi với phụ mẫu mình/ Đi chung một chiếc thuyền tình/ Bị trận giông chìm xuống, tôi hỏi mình vớt ai?”. Chà, khó thiệt. Nào ngờ, nam cất giọng ngọt như mía lùi: “Hò ơ, tình ơi chớ hỏi chi tình/ Phụ mẫu tôi với phụ mẫu mình, tôi vớt để hai vai/ Còn như mình cũng mang tai/ Thì tôi vội vã hai tay tôi vớt mình”.

Mà này, một khi đã yêu nhau, ai lại không ước mơ, ngóng đợi từng ngày để được sống chung nhà, ăn chung mâm, ngủ chung gối? Cha chả là khoái. Muốn thế, phải tổ chức cưới nhau, chứ đời nào yêu nhau là cứ việc vác vali về nhà người tình ở chung. Thiên hạ cười cho thúi mũi. Xưa cũng thế, nay cũng thế. À, muốn cưới hỏi nhưng nghèo quá thì thế nào nhỉ? Ta đừng vội cười anh chàng trong ca dao: “Dẫu cho nhà dột cột xiêu/ Anh muốn cưới vợ sợ nhiều miệng ăn”. Về phần cô gái nếu cũng nghèo, do đó, khi bàn về chuyện cưới xin mới dò hỏi: “Một trăm quan tiền còn nằm trong rọ/ Em hỏi anh rằng: “Đi họ mấy mươi”?”. Chàng trai nghênh mặt: “Họ anh vừa gánh vừa khiêng/ Nội trong xóm giềng đi đã ba trăm”. Thoạt nghe, cô gái đã kêu lên hoảng hốt: “Anh về bớt họ anh ra/ Phận em đơn chiếc cửa nhà đơn côi”.

Chàng trai thấy cần phải đòi hỏi “đến nơi đến chốn”, cho bỏ lúc bị nhà gái thách thức: “Em đòi vàng anh cũng đi vàng/ Mua gấm lót đàng cho họ anh đi”. Nghe thế, cô gái giận dỗi, thẳng thừng: “Anh về nói với họ anh/ Có đi thì cắp chiếu manh mà ngồi”.  Mới là “khúc dạo đầu” nhưng đã nghe tiếng bấc tiếng chì. Người ta còn mặc cả về ăn mặc, đi đứng, chẳng hạn, nhà gái ra điều kiện: “Chàng cưới thiếp bạc nén, vàng thoi/ Chàng về lựa họ cho hẳn cho hòi/ Đàn ông đội nón Gò Găng quai tả/ Đàn bà nón thượng quai liền/ Con trai đi hậu vác tiền/ Mặc áo màu huyền, bịt khăn nhiễu lượt/ Võng chàng đi trước, võng thiếp theo sau/ Thiên hạ ngó vô: Đám cưới nhà giàu/ Sui gia cũng xứng, kép đào cũng xinh”.

Nói thì nói thế thôi. Nếu đã yêu nhau, đã thề thốt muốn sum họp “như chim liền cánh như cây liền cành” thì họ ắt có cách giải quyết ổn thỏa. Và y đây, bao giờ cũng cầu mong cho họ: “Đôi ta đứng đẹp một bên/ Đứng dưới chiếu nhứt lạy lên bàn thờ”...

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 15.11.2018

 

mot-giac--thanh-thi-5RRR

Nhố nhăng thế. Vâng, rất nhố nhăng. Mấy hôm nay, báo chí ầm ầm lên tiếng về việc anh chàng nọ du lịch sang Nhật, chẳng rõ nổi cơn gì bèn ghi cái tên của mình to chình ình lên phiến đá tại khu thành cổ Yonago (tỉnh Tottori). Muốn lưu danh thiên cổ chăng? Viết bậy, vẽ bậy kiểu này, còn có thể nhìn thấy ở nhiều danh lam thắng cảnh trong nước. Mỗi người sinh ra đời đã có một cái tên. Thế nhưng làm nên cái tên ấy là một sự nỗ lực phi thường, bền bĩ, chứ nào phải viết nghệch ngoạc nơi công cộng.

Nếu gặp phải Hồ Xuân Hương ắt bà nghiêm mặt mắng cho: “Ai về nhắn nhủ phường lòi tói/ Muốn sống đem vôi quét trả đền”. Lòi tói là quá dốt nát, để lộ ra cái sự dốt nát. Lòi là lộ ra, ló ra. Nhưng từ này còn có nghĩa chỉ sợi dây xích sắt lớn thường dùng buộc thuyền, tàu. Từ “tói” dù nghĩa dây dùng để trói, Từ điển Việt - Bồ - La của A. de Rhodes(1651) giải thích là xiềng xích nhưng nghe nhắc đến nó, lập tức người ta nghĩ ngay đến “ói”. Thế thì, cái tên ghi bậy bạ nơi di tích lịch sử, văn hóa như một cách “ăn theo” chỉ khiến thiên hạ muốn ói.

Mà tiếng Việt cũng lạ kỳ. Dám nói rằng những từ “ằn” và “ắn” khác xa nhau lắm. Thử thí dụ xem sao? Dễ ợt. Nào là cằn nhằn, tục tằn, cục cằn, già khằn, bà chằn, nhọc nhằn, cười gằn, vụn vằn, cẳn rẳn cằn rằn, thù hằn… nghe muốn oải quá. Trong khi đó, với “ắn” luôn gợi lên một sắc thái tích cực hơn, chẳng hạn, xinh xắn, nhỏ nhắn, may mắn, đẻ mắn, vuông vắn, thẳng thắn, siêng sắn, đúng đắn…  Có lẽ người trước nhất đã phát hiện ra điều này là nhà văn hóa Lê Văn Siêu chăng? Đại khái, trong quyển Việt Nam văn minh sử (NXB Văn Học - 2006, ông đã liệt kê và hệ thông “âm tượng hình” tiếng Việt, cả thẩy 22 bộ. Chẳng hạn, “Bộ tròn:

a)  Với những âm gốc ong, ung, ông, chính khi nói cũng phải phồng má cho người đối thoại nhìn thấy hình cong. Bộ âm này dùng diễn tả những cái hình tròn, cong như: cái nong, cái võng, cái lọng, cầu vồng, quả bóng, cái vòng, thòng lọng, cái bụng, bong bóng v.v…

b) Với những âm gốc oăn, oan, uôn, uân, để diễn tả hình tròn nhiều lần, lại có thêm sức người làm cho tròn nữa như: quăn, ngoằn ngoèo, xoắn, quấn, khoan, xoăn xoe, băn khoăn, luẩn quẩn, uốn éo v.v… Khi nói miệng người ta cũng phải làm như đánh một vòng tròn từ trong ra.

c) Với những âm gốc oay, uây, oai, tả sự cử động theo chiều tròn của người hay vật như: quay, xoay, ngoai ngoái, ngoáy, khoáy, quây, loay hoay v.v… Khi nói miệng cũng tự hồ làm nhịp cho cử động ấy.

d) Với những âm gốc eo, ua, oa, ơ, ưa tả hình tròn nở lớn ra như xòa, nhòa, hoa, loe, xòe, lở, nở, chửa v.v… Chính miệng nói cũng nở tròn như động tác ấy.

e) Với những âm gốc om, ôm, um, tả vòng tròn hõm sâu xuống hay dưới một vòm của hang động như: thom lỏm, tõm, lổn ngổm, lùm tum, lom khom, dòm, nom, lồm cồm v.v… Khi nói môi cũng mím lại, và mắt mở chừng chừng như nom dòm cái gì phía dưới” (tr. 97).

Gần đây, BS Nguyễn Đại Bằng có viết quyển sách Quy luật âm nghĩa và những đơn vị gốc tiếng Việt (NXB Văn hóa Thông tin - 2006). Đọc thú vị. Đại khái, theo ông, nguyên âm O biểu thị hình dạng cong tròn hoặc trạng thái co vào giảm đi. “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”. Và ông liệt kê, con, cỏn con, con mọn, nhỏ mọn, tỏn mọn, mòn, hòn, héo hon, non, tí hon, đỏ hỏn, lon ton, mon men, rón rén, gọn thon lỏn, dọn, thu dọn, ngọn, nhọn, thon, vón, vỏn vẹn, són, bòn v.v… Ngoài ra, tròn: tròn, làm tròn, trọn, làm trọn, trọn vẹn, vẹn tròn… (tr.22).

Về “âm tượng hình” trong tiếng Việt, chắc chắn không riêng gì các bậc phụ huynh đặt tên cho con, ngay cả nhà văn đặt tên cho nhân vật dù muốn dù không họ cũng tự liên hệ đến. Nếu xét theo quan niệm của Lê Văn Siêu, nhà văn Nam Cao khi đặt tên nhân vật là Chí Phèo, tức ông đặt theo “Bộ méo: với những âm gốc eo để diễn tả hình méo, mà chính miệng khi nói cũng méo trẹo qua một bên: méo, vẹo, nghẹo, chéo, héo queo, teo, đèo v.v…”.

Lại nữa, có những cái tên, thoạt nghe, ta có thể đoán biết người đó sinh ra từ vùng miền nào. Vì lẽ đó, khi viết về một nhân vật nói tiếng Sài Gòn, sinh ra tại Sài Gòn, nhà văn Nguyễn Công Hoan cho biết, cái khó nhất không phải nghĩ ra tình tiết, cốt truyện mà chính là phải đặt cái tên ra làm sao. Nếu nhân vật nổi tiếng nhất của Nam Cao là Chí Phèo, của Vũ Trọng Phụng là Xuân Tóc Đỏ, của Ngô Tất Tố là chị Dậu… thì của Nguyễn Công Hoan vẫn là Kép Tư Bền. Hãy nghe ông kể vì sao “khai sinh” ra cái tên độc đáo này: “Đến cái tên Kép Tư Bền, tôi phải nghĩ kỹ hơn mới tìm ra. Đây là anh kép hát người Sài Gòn. Tên Sài Gòn, thường đặt dưới thứ bậc như hai, ba, tư vân vân. Kép ở rạp Quảng Lạc thời bấy giờ, tôi đã thuộc những cái tên như Sáu Phú, Bảy Nhã, Tám Hương. Sáu, bảy, tám thì cố nhiên mang màu sắc Sài Gòn rồi, nhưng Phú, Nhã, Hương thì người Hà Nội cũng được, người Huế cũng được. Tôi nhớ Sài Gòn hay nói Phước, Thạnh chứ không nói Phúc, Thịnh. Nhưng chưa đặc biệt bằng cái tên gì nó nôm na. Ngày ấy, có ông hội đồng quản hạt là Trương Văn Bền. Thấy tiếng Bền nó Sài Gòn quá, không thể lẫn với Hà Nội, với Huế được, tôi mối đặt cho vai chính của truyện là Kép Tư Bền”.

Dù rằng, Bền là cái tên “Sài Gòn quá” nhưng nếu Kép Tư Bền chỉ chạy cờ trong rạp hát, không có tài năng: “nổi tiếng về cái tài bông lơn, lắm lúc ra sân khấu, chẳng cần nói một câu khôi hài nào, nhưng chỉ nhìn một cái điệu bộ cỏn con của anh ta, các khán quan cũng đủ phải ôm bụng mà cười, vỗ tay đôm đốp”; nếu ông Trương Văn Bền chỉ có chân trong hội đồng quản hat, không sáng chế ra Xà bông Cô Ba thì sao? Thì chẳng một ai buốn nhớ đến nữa.

Đúng là thế. Ngay từ lúc lọt lòng mẹ, đời mỗi người, cái tên mỗi người chỉ có thể là một bình hoa. Bình hoa nào cũng “bình đẳng” ngang ngửa như nhau. Làm nên tiếng tăm về sau, là cái bình hoa ấy đã cắm vào những hoa gì? Hoa tươi thắm? Hoa héo khô? Hoa mơn mỡn xuân xanh? Hoa héo rủ? Thậm chí, chẳng có cành hoa gì sất. Nghĩ thế, bèn viết: “Mỗi người sinh ra là đã một bình hoa/ Chịu trách nhiệm đã gắn gì vào đó/ Cuộc đời tôi tự ý thức thế nào?/ Hỡi sắc hoa những gam màu rực rỡ?”. Viết tặng cho chính y? Không, xem như là lời dặn dò bé nhóc đầu lòng, vừa đầy tháng.

Đôi khi cha mẹ đặt tên thế này, nhưng rồi khi sáng tác người ta lại bỏ đi một chữ. Chẳng hạn, Phạm Duy Cẩn (nhạc sĩ Phạm Duy), Nguyễn Duy Nhuệ (nhà thơ Nguyễn Duy)… Hãy dừng lại với Đinh Văn Cường. Rõ ràng, một cái tên lạ hoắc lạ huơ chẳng mấy tiếng tăm gì, nhưng Đinh Cường thì thiên hạ biết đến. Đinh Cường tên thật Đinh Văn Cường, sinh năm 1939 tại Thủ Dầu Một, học ở trường Pétrus Ký niên khóa 1951-1957. Ông là một trong những họa sĩ rất nổi tiếng của miền Nam.

Thuở nhỏ, y rất thích tìm mua những tập nhạc của Trịnh Công Sơn do NXB Nhân Bản, An Tiêm ấn hành cũng một phần vì thich bìa, phụ bản của Đinh Cường. Rồi gần đây, trong quá trình sắp xếp lại báo chí Sài Gòn cũ đã sưu tập, tình cờ y được đọc bài tập làm văn của Đinh Cường năm học đệ Tứ (lớp 9 hiện nay). Qua đó, ít nhiều ta có thể thấy được thiên hướng của một người về sau không chỉ họa sĩ mà còn làm thơ.

Thập niên 1950 tại Sài Gòn, Đời mới - một tuần báo chuyên về xã hội, văn hóa, nghị luận - tòa soạn tại “117 đại lộ Trần Hưng Đạo, Chợ Lớn; điện thoại: 793” có tổ chức cuộc thi “Bài luận văn hay nhứt lớp” nhằm chọn in các bài của học sinh trung học - ngoài số điểm cao, còn có lời phê của thầy cô giáo. Bài được đăng, tòa soạn gửi biếu 2 tờ báo, không có nhuận bút. Trên số báo 159 (tuần lễ từ 20.3 đến 27.3.1955), Đời Mới đã chọn in bài dự thi số 12: “Của Đinh Văn Cường, Đệ tứ D, trường Pétrusky. Lời phê của giáo sư: Lý luận khá, lời văn dồi dào”. Số điểm: 13 trên 20”.

Đề bài luận văn như sau: “Trong Việt ngữ, có cái gì đáng quý hơn cả?”. Cậu học trò lớp đệ Tứ là Đinh Cường đã chọn thơ, vì: “Thơ không phải là một bài văn xuôi, một lá truyền đơn, một tờ quảng cáo… Thơ chỉ là một thoáng rung cảm. Nguồn rung cảm trước ngoại giới ngày nay ghi lên mặt giấy, không phải là mây, gió mà là bác phu xe, thằng cu Tý, em bán bánh mì, sự chua xót quằn quại của xã hội. Nguồn rung cảm được ghi lên mặt giấy bằng âm điệu và sự nhịp nhàng. Đành rằng nguồn rung cảm của giai cấp bình dân khác xa nguồn rung cảm của trí thức. Nhưng xét qua ca dao, tôi vẫn thấy có những câu thâm thúy lạ thường. Phải chăng ca dao là tiếng nói của giai cấp bình dân phản ánh trung thành tâm hồn mộc mạc và bình dị”.

Đáng ngạc nhiên, ở trình độ lớp 9 mà đã có được những nhận xét chỉn chu ấy. Sau lập luận đó, tác giả đi vào phân tích các câu ca dao mà mình yêu thích. Chẳng hạn, “Còn gì vui thích hơn khi đi ngang qua một thửa ruộng, được nghe những dân quê vừa cấy vừa hò: “Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”.  Tạm dừng lại ở đây để nói thêm rằng, không riêng gì Đinh Cường thuở ấy mà ngay cả thời điểm này, nhiều người vẫn còn nhầm lẫn, vì hai câu đó chính là thơ của thi sĩ Bàng Bá Lân.   

Từ tháng 7.1967, trên nội san Trường Bưởi của Hội Ái hữu cựu học sinh Trường Bưởi (nay trường Chu Văn An - Hà Nội) in tại Sài Gòn, Bàng Bá Lân có viết rõ sự việc nhà theo yêu cầu của nhà văn Lãng Nhân. Theo đó, đây là 2 câu thơ này trích từ bài Tiếng hát trong trăng in trong tập thơ Tiếng thông reo (in năm 1934). Năm 1957, chọn in lại trong tập Thơ Bàng Bá Lân, bài thơ trên đổi tựa là Trăng quê: “Trời cao, mây bạc, trăng tròn/ Dế than hiu quạnh, tre buồn nỉ non/ Diều ai gọi gió véo von/ Cành xoan dìu ánh trăng suông dịu dàng/ - Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi”. Có một điều thú vị, khi đi trở thành ca dao, câu cuối lại phổ biến thành: “Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”. Sở dĩ “lái” qua chuyện Bàng Bá Lân là do hiện nay, sự tranh luận về câu “ca dao” trên vẫn chưa kết thúc, có thể kiểm chứng từ Goolge.

Ta hãy trở lại với bài luận của Đinh Cường. Sau khi trích dẫn ca dao trên, tác giả đề cập đến thơ: “Thơ là nguồn an ủi đối với tôi. Giúp sức đấu tranh cho tôi khi bị những hình ảnh yếu mềm xâm chiếm. Khi nghe: “Phất ngọn cờ lên tung bước lên/ Với kho hùng khí của thanh niên/ Vang lừng trăm trận, rang trăm trống…”. Những hình ảnh mềm yếu đã tan mất và thơ đem lại cho tôi một sức tranh đấu mạnh mẽ hơn. Những lúc nhớ quê nhà tôi lại đọc: “Ai về với quê hương ta tha thiết/ Sông Hương, Bến Hải, Cửa Tùng”.

Những câu thơ này của ai?

Điều khiến ta kinh ngạc, đó chính là thơ của Tố Hữu, trích từ các bài Đứng dậy thanh niên, Ta đi tới! Vấn đề đặt ra là Đinh Cường đã tìm đọc từ đâu; hay do các thầy cô đã giảng dạy trong nhà trường? Điều này, ít cho thấy thuở ấy, thơ của tác giả Từ ấy đã bí mật len lỏi vào tầng lớp thanh thiếu niên ở Sai Gòn. Và thật bất ngờ, Đinh Cường viết ở phần kết luận: “Trong một nước, một xã hội, tinh thần của dân chúng mạnh mẽ là nhờ nền văn hóa cao, mà thơ chiếm một phần trong nền văn hóa ấy”. Có ai dám tin một cậu học trò đệ nhất cấp đã có được suy nghĩ ấy, nếu không nhìn thấy rõ ràng trên giấy trắng mực đen?

Tóm lại, làm nên cái tên của một người, trước hết phải là tài năng của người đó. Chứ nào phải hễ đến nơi danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử - văn hóa viết bậy bạ, ghi lảm nhảm, ngớ ngẫn cái tên mình tại đó. Cái tên đó xuất hiện trong ngữ cảnh đó, chẳng khác gì ai đó xuẩn ngốc vén quần tè vào bình rượu ngon trong buổi đại tiệc. Nếu bị phát hiện thì sao? Ắt bị thiến ngay. Có phải thế không?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 1.11.2018

mu-coi-quoc-phong-chat-luong-cao-qua-tang-1m4G3-6CIxDs_simg_ab1f47_350x350_maxb

Vừa khảo sát lại tài liệu để xem thời bé, các nhà văn nổi tiếng đã học văn thế nào? Họ học ra làm sao để về sau trở thành người giỏi tiếng Việt? Trong khi đó, hiện nay môn Ngữ Văn đã và đang khiến các em chê ỏng chê eo. Có một điều nhận ra, hầu hết đều có mẫu số chung là họ đã được làm quen với vần điệu du dương từ ca dao, tục ngữ, từ Nhị độ mai, Thạch Sanh - Lý Thông, Trần Minh khố chuối… đến Truyện Kiều qua lời ru của mẹ, ông bà, cô, dì, chú, bác. Kỳ lạ ghê, dù đang còn nằm nôi hay mới vừa chập chững, lẫm chẫm tập đi thì những lời ru ấy, về sau họ vẫn nhớ như in trong óc. Nó thâm nhập vào óc, vào tim, vào máu như một dưỡng chất để nuôi dưỡng tâm hồn. Lúc cầm bút viết, họ lại nghe vọng lại sự nhịp nhàng, réo rắt. Bất kỳ đứa trẻ nào cũng vậy. Không gì khác. Y cũng thế thôi. Sực nhớ lời mẹ ru:

Vô duyên dầu mặc hoa

Áo ra đàng áo, người ra đàng người

Có duyên dầu mặc áo tơi

Đầu đội nón cời duyên vẫn còn duyên

Đã nghe tự bao giờ, sao nay còn nhớ? Lại nhớ đến bài học thuộc lòng cực hay, có nhắc đến một loại nón, nay đố ai nhìn thấy:

Ai bảo chăn trâu khổ nào

Chăn trâu sướng lắm dạt dào niềm vui

Bãi xa, sân rộng, chân đồi

Lưng trâu ngất nghểu, rong chơi khắp làng

Nón mê chẳng khác tàn vàng

Roi tre vung vẫy nghênh ngang một vùng

Nón mê là nón cũ, rách nát. Mà nón rách cũng gọi nón cời. “Ông già ông đội nón cời/ Ông ve con nít, ông trời đánh ông”. Đánh là phải rồi. Già mà không nên nết. Lại nhớ lúc lên trung học, học bài văn tế của cụ Đồ Chiểu, có câu: “Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi; trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ”. Thế, nón gõ là nón gì? À, loại nón làm bằng tre ghép, vừa vặn cái đầu mà binh lính thời xưa thường đội. Trước đó nữa, người lính nước Nam đội nón dấu. Dấu vết ấy, còn lưu lại trong câu ca dao: “Ngang lưng thì thắt bao vàng/ Ðầu đội nón dấu vai mang súng dài” - một loại nón cũng bằng tre nhưng trên đỉnh có chóp. Lại nhớ, nhà văn Khái Hưng tập truyện ngắn Đội mũ lệch. Cái mũ, hiện nay đã quá quen thuộc, thế nhưng từ bao giờ người Việt… đội mũ?

Câu hỏi nghiêm túc cứ nghe như đùa. Đã lâu lắm rồi, mua được bộ Công nghệ mới Việt Nam (4 tập) của Tòa Tu thư Phủ Thống sứ Bắc Kỳ do Phượng Nam soạn thập niên 1930, trong đó có đoạn: “Đầu thế kỷ XX, khi sang giao thương làm ăn tại Việt Nam, người ngoại quốc vẫn đội thứ mũ làm vải mềm. Loại mũ này gọn, nhẹ và mát. Trong khi đó, người Việt Nam ta dù mặc Âu phục hoặc khăn đóng áo dài thì vẫn đội khăn xếp hoặc che dù hoặc đội nón. Nhận thấy loại mũ này nhiều ưu điểm nên ta dần dần sử dụng theo, nhưng phải mua của người nước ngoài, dù vậy hàng vẫn không đủ bán. Khoảng từ năm 1912, ông Crévost là Chánh Viện Bảo tàng Maurice Long đã truyền nghề làm mũ bằng vải cho ông Nguyễn Như Khuê tại Hà Nội. Ông Khuê sau khi học được nghề đã truyền lại cho nhiều người khác và mở cơ sở sản xuất tại Hà Nội”. Thông tin chỉ có thế.

Thế thì, câu thành ngữ Mũ ni che tai ra đời từ lúc nào? Khỏi cần dài dòng, ai cũng hiểu rõ nghĩa bóng, đại khái chỉ thái độ cầu an, giả điếc làm ngơ hoặc không quan tâm những sự việc xảy ra xung quanh, nói cách khác là không can thiệp, không ý kiến ý cò, không tọc mạch, không thèm quan tâm tìm hiểu chuyện thiên hạ, ai nói/ làm gì cũng mặc, cứ “phớt tỉnh Ăng lê”. Mũ ni có phải là loại “mũ làm bằng len, sợi, có diềm che kín tai, thường dùng cho người già” như Đại từ điển tiếng Việt giải thích? Đúng thế, nó còn là loại mũ dành cho người xuất gia, tu hành, truyện thơ Nôm Nhị độ mai có câu: “Gác ngoài phú quí một tràng/ Mũ ni, tràng hạt, quyết đàng xuất gia”.

Với y, một điều đáng ngạc nhiên, có thể liệt kê ra thêm nhiều loại mũ nhưng tại sao từ điển nước nhà lại không ghi nhận nón mũ cối/ nón cối? Trước năm 1975, nếu từ điển in ấn trong Nam không ghi nhận đã đành nhưng từ điển ngoài Bắc cũng chẳng khác gì. Thậm chí,  bộ Đại từ diển tiếng Việt (1999) của Trung tâm Ngôn ngữ và văn hóa Viêt Nam thuộc Bộ Giáo dục và đào tạo không quên nốt. Có thật không đấy?

Hãy xem ở phần mũ, chỉ có: mũ bạc, mũ biên phòng, mũ bê-rê/ mũ nồi, mũ bình thiên, mũ bịt tai, mũ cánh chuồn, mũ cát-két/ mũ lưỡi trai, mũ chào mào/ mũ ca lô, mũ mãng, mũ mấn, mũ miên, mũ phớt, mũ tai bèo, mũ trụ; phần nón chỉ có: nón bài thơ, nón chân tượng, nón chóp, nón cời, nón cụt, nón dấu, nón dứa, nón gõ, nón lá nón mê, nón ngựa, nón quai thao, nón thúng, nón tu lờ. Rõ ràng, không chỉ mũ cối/ nón cối mà còn nhiều loại khác cũng đã bị bỏ sót. Về cái nón cối/ mũ cối ấy đã đồng hành trong cuộc chiến tranh dài đằng đẵng, do đó quên loại nào không sao chứ nếu quên nó thì e khó chấp nhận.

Sau khi đã mày mò, mọt sách qua nhiều quyển từ điển vẫn không tìm thấy, may quá, gần đây Phương ngữ Nam Bộ (2015) của nhà nghiên cứu Nam Chi Bùi Thanh Kiên có ghi nhận: “Nón cối: a. Loại nón cứng trũng lòng, đáy tròn làm bằng cây mướp sác bào mỏng dán lại, ngoài phất vải kaki dày; b. làm bằng nhựa cứng, phất kaki xanh chế tạo ở miền Bắc”. Cách giải thích này, ta bàn sau nhưng đáng quý là đã được nhắc tới nón cối.

Nhân đây, nói luôn, một khi ai ai cũng gọi nón cối/ mũ cối thì Bách khoa từ điển quân sự Việt Nam (NXB Quân đội nhân dân-2004) do Bộ Quốc phòng biên soạn lại gọi “nón cứng”. Đọc và hiểu rằng, nó có hình dáng gọn, quả mũ hình bán cầu, xòe ra ở phần tán, đại khái thời “chín năm” được làm bằng phương pháp thủ công, đan bằng nan tre, ngoài lợp vải dù, quai bằng sợi dâu dù, còn gọi “mũ nan”. Sau năm 1975, ở miền Bắc đã có xưởng sản xuất, cốt  mũ làm bằng gỗ xốp nhẹ hoặc bằng bột giấy ép định hình trên khuôn nhôm, bên ngoài cốt lợp vải chéo, trong lòng được sơn và và gắn cố định vành cầu bằng cốt tre đan có bọc bên ngoài. Tất nhiên có quai bằng da hoặc vải giả da. Về sau nữa, nó lại cải tiến công nghệ là làm bằng bột gỗ, có keo tổng hợp chống thấm…

Những ai đã từng đi bộ đội ắt có tình cảm, cảm nhận về cái mũ cối/ nón cối này. Cụ thể ra làm sao? Hãy nghe nhà kịch Đoàn Tuấn tâm tình vài kỷ niệm của người lính thời chiến tranh Tây Nam: “Khi qua suối qua sông, lính vục mũ, múc nước, ngửa cổ uống ngon lành. Có thể chuyền tay nhau uống nữa. Khi đi cải thiện, hái rau rừng, mũ biến thành cái rổ. Nhỏ xinh. Khi đi tắm, mũ biến thành cái chậu đựng đồ. Tuy không có xà phòng, nhưng áo quần vẫn thơm phức mùi mồ hôi dầu của lính. Đang hành quân, dừng nghỉ, ngay lập tức, lính ngả mình trên đất, ngửa mũ ra, làm thành cái gối. Mái đầu nằm gọn phía trong, lại có vành mũ như tấm rèm che nắng, kém chi giấc ngủ nơi thiên đường. Cũng có người úp mũ xuống đất, gối đầu lên. Giấc ngủ kéo đến liền. Lạ thay, anh ta cứ ngủ vậy. Không trở mình sang phải hay trái.

Ở An Lungvieng, khi trung đội vận tải không còn xoong lấy cơm (vì khi đi truy quét, đêm ngủ, nước lũ tràn về, xoong chậu trôi đi hết), lính phải mang mũ cối đi lấy cơm. Có sao đâu! Nhưng đôi lúc, mũ biến thành vũ khí. Khi ở Choăm Sre, thấy hai lính uýnh nhau, cầm mũ cối xông vào, đập loạn xạ. Đại trưởng cầm AK, lia một loạt lên trời, cả mới tạm ngưng chiến. Nhưng đến tối lại ôm cái mũ vào lòng và uống... hà thủ ô bên nhau. Lính là thế!

Có điều mũ cối của ta tồi, không bền. Mới dùng mấy tháng, vải đã sờn, mép đã quăn, rạn vỡ. Minh sứt xé hết vành, còn lại cái chỏm, chụp lên đỉnh đầu. Đính vài cái lông con công lên. Trông như nhà ảo thuật. Hành quân qua phum, dân trố mắt. Trẻ con cởi truồng chạy theo, cười reo. Minh sứt gườm gườm nhìn. Trợn mắt. Lũ trẻ khóc thét. Minh lại nhe răng cười. Đùa tí cho vui. Có lính mới về. Hôm trước đến đơn vị. Hôm sau đã hy sinh. Kiểm nghiệm di vật tử sỹ. Ba lô, quần áo thì gửi về gia đình. Mũ thì giữ lại. Anh em không có mũ tranh nhau. Đời lính ngắn hơn đời mũ.

Hôm đi với C7, lính vướng mìn. Y tá Vương nhăn mặt. Nhặt nhạnh những mảnh thịt bay tứ tung, trộn đầy đất cát, bỏ vào mũ cối. Về nấu nước nóng, rửa sạch, chôn cùng tử sỹ. Sau đó, mới rửa mũ. Không có xà phòng, lấy cỏ và lá rừng chùi cho đỡ mùi tanh. Đội tiếp. Có thấy gì đâu! Mũ lính, một hình dạng, mà có đủ thứ mùi. Mùi nào cũng thân thương”. Nghe bạn nhắc lại, chao ôi, lại nhớ về một thời đã xa. Rưng rưng. Nhớ lại những câu thơ của một thời đã viết: “Câu thơ nào ghi nguệch ngoạc/ Trong trang nhật ký đường rừng/ Sau phút giải lao vội vã/ Xốc ba lô lại hành quân/ Câu thơ nào ghi vành mũ/ Đỏ ngời trận đánh đầu tiên/ Đâu cần biết ngày nhớ tháng/ Kỷ niệm đã có tên riêng”. Tiếc thời ấy, y chẳng có điều kiện chụp tấm hình đội nón cối thiệt oách xà lách, nay có thể khoe chơi. Cũng tiếc nốt khi đã không còn giữ lại cái nón cời của mẹ, sau ngày mẹ mất. Thôi thì, hãy đọc lại câu ca dao:

Có duyên dầu mặc áo tơi

Đầu đội nón cời duyên vẫn còn duyên

Thú thật, y cũng cực kỳ có tình cảm với chiếc nón cời. Một phần biết đến nó do từ lời ru của mẹ, mà cũng do sau này đọc tập phóng sự Tôi kéo xe của nhà văn Tam Lang. Lâu quá rồi, sách không tái bản. Hôm nọ đồng nghiệp ở NXB Văn Học có điện thoại nhờ y bằng mọi cách liên hệ với gia đình nhà văn để bàn về bản quyền tái bản. Chịu chết. Không thể mày mò ra manh mối. Trong quyển này, Tam Lang đã liệt kê ra tám cái lợi ích từ chiếc nón cời của giới phu xe. Càng đọc càng thương hạng người nghèo. Cái khó ló cái khôn. Họ đã tận dụng được biết bao lợi ích, nay, chắc gì ai có thể hình dung ra nổi:

“Ghé vào túp lều bán nước của bà lão phố Hàng Chuối, tôi làm một trinh nước chè tươi. Nước vừa vào khỏi cổ đã toát ngay ra lỗ chân lông rồi, tôi cởi áo, phanh ngực ra, cầm một vạt mà... phẩy.

- Bỏ nón ra mà quạt có làm sao, để làm gì trên đầu ấy!

Chẳng để ai đáp, cũng chẳng chờ ai hỏi, một anh phu xe khác cũng ngồi hàng nước với tôi lúc ấy, nói ba hoa về chuyện cái nón, một thôi dài:

-... Cái nón cu li xe có ba đồng xu mà dùng được nhiều việc hơn cái ô trắng đồng hai. Nó là lá mà nó tốt bằng mười vải ấy chứ lại! Mùa nắng thì chụp lên đầu, có gió thì che diêm để hút thuốc lào, mỏi thì lót xuống đít mà ngồi, khát không có hàng nước thì hứng nước máy. Lại còn lúc ngồi ngủ ở xe thì úp lên mặt cho khỏi ruồi nó bu lại; lúc nóng thì làm quạt, quạt; quần áo không kịp về nhà giặt, giặt ở đường, vắt áo thật ráo nước rồi tãi lên đầu vừa đi vừa phơi; mà túng nữa lại còn làm cả cái rổ đựng đồ mua chợ cho mẹ đĩ.

Bốn giờ rưỡi chiều.

Bỏ mặc anh chàng vui chuyện, tôi đánh xe sang vỉa hè bên kia.

Gác hai càng xe lên bờ, tôi úp nón lên lòng, nằm dựa lưng vào sân xe, mơ màng nghĩ...

Trên cành cây, tiếng xé vải của những con ve kêu hạ”.

Đọc lại lần nữa đi. Tự dưng rưng rưng. Hạng người nghèo thời nào cũng tội nghiệp. Nghèo quá mà yêu lấy nhau thì sao? Có tội nghiệp không? Không hề, lại cảm thấy vui vui nếu như họ hạnh phúc, chan chứa tình cảm thủy chung. Trải qua hàng ngăn năm trên đồng cạn dưới đồng sâu,  sau lũy tre làng đã hình thành nên những cuộc tình bình dị như ca dao, như lời ru của mẹ: “Thân em như cái nón cời/ Như cái áo rách vá thời chưa may/ Chẳng lo gì áo rách tay/ Trời kia ngó lại vá may lại thường/ Áo rách có cách anh thương/ Nón cời có nghĩa anh thương nón cời”. Đọc lại lần nữa đi. Tự dưng bùi ngùi.

Thương quá.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 17.10.2018

aln-huong44126977_1174435859372889_2162620207967764480_n

Ảnh: Lan Hương chụp ngày 17.10.2018

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 3.10.2018

41392533_2231451857091911_6345596351983648768_n

“Muốn tĩnh tâm, anh cứ hỏi lòng mình”. Câu thơ viết lúc nào? Chẳng nhớ nữa. Chắc hẳn trong tâm thế nhiều người, vẫn luôn nghĩ đến sự lạc quan để có niềm vui sống. Vậy là cớ gì, lúc gặp nhau đang vui lại gieo rắc những sắc màu u ám? Mới vừa đi Đà Nẵng về. Giỗ đầy năm của mẹ. Thời gian trôi qua cái vèo. Lá đang xanh nõn, một chiều héo rụng. Mất hút. Đời người cũng phù du mây trắng. Ngụm cà phê vừa tan trong lưỡi, ngọt đắng. Ngoài trời mưa bay. Lặng lẽ ngắm nhìn lại con đường đã từng ngày, nhiều ngày lưu giữ bước chân hoa niên. Nhớ và quên. Đột nhiên một người bảo: “Phải đến lúc đưa con vào bệnh viện mới biết thế nào là sự bi đát của lúc làm cha”. Rồi thao thao kể lại những nhọc nhằn, gian khó, lo sốt vó, bạc cả tóc, tái cả mặt… Một người nhắc khẽ: “Chớ nói gở”. Một người bảo: “Không sao, cũng cần phải biết trước, chứ sao không?”.
Y chỉ im lặng. Mỉm cười.
Nghĩ đi nghĩ lại, mới thấy sự vận hành trong hỗn man trời đất rất diệu kỳ. Có người trong đời sống cực kỳ hanh thông, bạc tiền như nước lại rơi vào trường hợp éo le là phải bỏ ra hàng trăm triệu mới có thể tay bế tay bồng; ngược lại, có người trên răng dưới ca-tút lại sinh nở sồn sồn dễ dàng như gà đẻ trứng. Thế thì về tiền của, cả hai nào có khác gì nhau? Lại nghĩ, một người nuôi con nhỏ nhưng nó không bệnh hoạn, ốm đau thì khác gì người được trúng số độc đắc? Ai đó đã nói một câu, ngẫm lại chí lý ghê: “Hạnh phúc là bằng lòng với những gì đang có”. Một khi người ta đã bằng lòng, mình nói thêm làm chi, nhất là những gì thuộc về riêng tư như chuyện con cái chẳng hạn. Vì thế, tâm tình với nhau, tốt nhất hãy hướng đến sự lạc quan cho người đang nghe. Chẳng việc gì phải chia sẻ những nỗi khổ mà mình đã trải qua. Để bày tỏ sự quan tâm là mình cũng đã từng có kinh nghiệm? Thật ra, kinh nghiệm người này, khó có thể áp dụng hoàn hảo cho người khác. Hơn nữa dù mình đã trải qua, những chắc gì người khác sẽ gặp? Vậy, nói ra những “dự báo” u ám ấy để làm gì?
Sực nhớ đến mẫu chuyện thời còn nhỏ, ngày xưa ngoại y luôn dặn dò, khi nghe người lớn nói những chuyện thù hằn, chết chóc, quái gỡ, đâm chém, gây gổ, xích mích… thì phải bịt tai, lánh đi nơi khác. Thậm chí từ miệng thốt ra cũng không nên sử dụng các từ hắc ám, xúi quẩy ấy. Âu cũng là cách dạy con của người xưa. Xét ra không khác gì nhà văn hóa Phạm Đình Hổ đã có sự lựa chọn ngay từ thời trẻ: “những trò chơi thanh sắc, nghề cờ bạc, rủ rê chơi đùa thì ta bịt tai không muốn nghe”. Có được ý thức đó, do sự giáo dục từ gia đình chứ còn gì nữa?
Lúc y lớn lên một chút, bà ngoại lại kể câu chuyện xưa thời bà đã trải qua. Rằng, vùng Nam, Ngãi, Bình, Phú - dọc theo miền Trung rất nổi tiếng với trò hát bài chòi. Vào đời vua Đồng Khánh, dịp hội hè nọ có bà chánh phi muốn khoây khỏa bèn la cà trong đám đông nghe những câu hô bài chòi lúc trầm, khi bổng, du dương vần điệu. Đột nhiên bà nghe đám đông cười rộ lên, khoái chí, vỗ tay ầm ĩ khi anh hiệu vừa dứt lời. Anh ta hô con bài gì mà nhộn thế?  À, anh ta hô con Đỏ mỏ: “Nàng dâu để chế mụ gia/ Bận quần lãnh trắng lại tra lưng điều”. Chế là tang chế, để chế, mặc đồ chế. Khi người thân mất thì phải để tang, con dâu mà lại quần lãnh trắng, thắt lưng màu đỏ, còn ra thể thống gì? Nổi giận lôi đình, bà chánh phi sai người nọc anh hiệu ra giữa sân rồi phết cho dăm roi, căn dặn từ đây cấm không được hô những câu xấc láo, xấc xược ấy nữa. Xin một tràng pháo tay tán thưởng cho thái độ chấn chỉnh kịp thời này. Còn nhớ, ca dao Nam bộ có câu: “Bậu để chế cho ai mà tóc mai rành rành rạnh/ Để chế má chồng, chớ hiếu hạnh bậu đâu?”.
Cà chớn nhất trên đời vẫn là những tay ba lăm (35), hễ gặp dịp là “thả dê” lố bịch. Thí dụ như cô nàng nọ đang tang chồng, hắn ta bèn sỗ sàng “thả thính”: “Em để chế cho ai? Xé cho tôi phân nửa”. Nghe ra cũng cảm động, cứ như muốn xẻ chia nỗi khổ đau của người đối diện. Cô ấy trả lời: “Em để chế cho chồng”, lập tức hắn ta ngoác mồm trơ trẽn: “Chất lửa đốt đi”. Tán gái kiểu này mà không ăn cái tát mới là lạ.Trên đời, liệu có những gã đàn ông ba láp ba xàm cỡ ấy không? Có chứ sao không? Nếu không, làm sao nó lại đi vào ca dao? Những gã tầm phào, chớn cháo ấy đích thị là loại 35 dê.
Mà này, vì sao người ta lại dùng con số 35 lại ám chỉ con dê - khi đi vào tiếng lóng lại hàm nghĩa chỉ những kẻ chuyên giở trò tán tỉnh, sàm sỡ, rù quến phụ nữ? Tùy theo cấp độ còn có dê xồm, dê cụ. Dám quả quyết rằng, từ trò đỏ đen của dân chơi số đề, con số này dần dà trở nên phổ biến chung. Trong quyển Đoán điềm giải mộng - chơi chữ, tìm số, in trước năm 1975 tại miền Nam giải thích: “35: Cát phẩm; tên riêng: Con dê”. Loại nhảm nhí này, chỉ có thể gọi “sách rác”, chớ nên đọc. Đề đóm chớ nên chơi làm chi, chỉ có ngày vác chiều lác ra đê Yên Phụ, kênh Nhiêu Lộc mà náu thân. Thời y còn bé, có nghe tay làm chủ đề tuyên bố: “Tiền thắng đề không bao giờ giữ được trong nhà, chỉ trừ khi lấy tiền đó đem xây mồ mả”. Đã biết, vậy chớ dại lao đầu vào.
Hãy trở lại với chuyện hô bài chòi vẫn lý thú hơn.
Chẳng hạn, về con Đỏ mỏ vừa nêu trên, ở quê y có anh hiệu hô như vầy: “Con chim mỏ đỏ lông vàng/ Đậu trên cây khế đố chàng giống chi?/ Giống chi hỏi giống con chi/ Đậu trên cây khế tức thì giống chim/ Chẳng tin em cứ nhìn xem/ Nó là con chim mỏ đỏ lại thêm lông vàng”. Ngày xưa, khi chơi bài chòi trong phủ chúa ở ngoài Huế, về hai con Bạch tuyết (Bạch huê), Nọc đượng (Nhứt nọc), các bà chánh cung phi cho là thô tục nên anh hiệu phải đổi câu hô cho thanh nhã.
Trong khi đó, trò chơi này phổ biến trong dân gian lại khác. Ở Quảng Nam, khi ra con Bạch tuyết, anh hiệu ngang nhiên gióng mồm: “Đàn bà sao quá vô duyên/ Mặc quần thủng đáy hớ hênh kia kìa/ Có chi mà nọ nọ kia kia/ Chẳng qua vô ý mới chìa nó ra…”. Thiên hạ chỉ mới nghe đến đó đã cười cái rần. Chưa hết, lại có lúc nghe hô: “Có bông có cuống không cành/ Ở trong có nụ, bốn vành có tua/ Nhà dân cho chí nhà vua/ Ai ai có của cũng mua để dành/ Tử tôn do thử nhi sanh/ Bạch huê mỹ hiệu xin phành ra coi”. Cái cười trong quảng đại quần chúng xét ra khỏe khoắn, không gì phải úp úp mở mở. Thích thì hô lên thôi, miễn là không quá thô tục: “Xu xoa chị bán mấy đồng/ Chị ngồi chị để cái mồng chị ra/ Con gà tưởng hột ổ qua/ Nó mổ cái đớp chị la quớ làng”. Thử hỏi, ai không cười?
Thế nhưng cũng con Bạch huê đó, nhưng khi xuất hiện trong phủ chúa, phục vụ cho các tầng lớp vương quyền, ăn trên ngồi tróc, anh hiệu phải khôn ngoan hô kiểu khác, nếu không muốn bị mắng té tát. Những câu vừa nêu trên, có thế áp dụng? Tất nhiên là không. Chớ dại. Bà ngoại của y kể, người ta phải lồng nó vào trong điển tích, điển cố văn chương nhì nhằng, khác hẳn cảm thức của người bình dân ít chữ. Anh hiệu phải hô như vầy: “Đổng Trác bẻ nạng chống trời/ Nuôi thằng Lữ Bố nối đời làm con/ Dốc lòng chiếm đoạt áo son/ Nối đuôi thiên tử gả con Điêu Thuyền/ Chỉ vì đám ruộng con Điêu Thuyền/ Cho nên Đổng Trác trao duyên má đào/ Thương thay Vương Doãn mưu cao/ Đem dâng Lữ Bố cho vào Đổng Chương/ Nhất điền lưỡng chủ lươn ươn/ Cho nên phụ tử hai đường cản tranh/ Lữ Bố xưa thôi một anh/ Giết người Đổng Trác lưu danh trận tiền/ Cũng vì đám ruộng con Điêu Thuyền…”. Tích xưa, không bàn đến, chỉ quả quyết hình ảnh con Bạch tuyết đã ngụ ý trong cụm từ “đám ruộng”/ “nhất điền”.
Vậy, cách hô bài chòi cũng mang tính “giai cấp” đấy chứ? Tùy đối tượng chơi mà chữ nghĩa về từng con bài  cũng phải biến hóa đi.
Đã nói đến con Bạch tuyết, sao lại không nói đến con Nọc đượng? Can cớ gì phải né tránh? Ở Hội An,  có câu hô: “Đói no, no đói mặc lòng/ Đàn bà cứ thiếu, đàn ông cứ thừa/ Cả ngày cứ việc đong đưa/ Ban đêm vừa gáy lại vừa đóng nêm/ Nọc đượng ra bớ chị em/ Ai cần tới hắn thì lên trên này”. Gợi tình gợi ý nhất vẫn là hai từ “đong đưa/ đu đưa”. Trong văn học dân gian ở Quảng Nam, nhiều người còn nhớ đến đoạn hò đối đáp cũng có hai từ này. Nữ hò: “Gặp anh Ba đây mới khiến hỏi anh Ba/ Làm ăn lâu nay vẫn khấm khá hay vẫn sát da như bọn mình?”. Không một chút ngại ngùng, chàng trai cất giọng bỡn cợt một cách kín đáo: “Thời buổi bây chừ công việc sớt sưa/ Dư không dư, thiếu không thiếu, vẫn đu đưa như mọi ngày”. Câu hò chỉ có thế, ủa, cơn cớ làm sao các cô thôn nữ rộ lên tiếng cười mà lại đỏ mặt tía tai?
Ngày xưa, một trong cái thú ở nông thôn còn là những dịp la cà hội hè đình đám, nghe tiếng hát câu hò dù quê kệch, bình dân nhưng lại có được há mồm ra một phát cho sướng. Chẳng hạn, bàn về chuyện nghiêm túc như chống xâu cao thuế nặng thời Pháp thuộc, sau đó, đã nổ ra cuộc chống thuế long trời lở đất vào ngày 3.11.1908, người dân quê y vẫn lạc quan trong hò đối đáp: “Em ơi! Chừ anh muốn làm đàn bà, không muốn làm đàn ông/ Khỏi xâu cao thuế nặng, khỏi ba đồng sáu mao/ Thôi! Chị em ơi! Đừng nói lao xao/ Có chị mô đi Huế, tôi gửi rèn một con dao cho tinh thần/ Tôi về, tôi hớt trất cục gân/ Hớt luôn cái nớ cho ra thân đàn bà”. Nghe khoái chưa? Cũng cái “cục gân” đó, anh hiệu hô bài chòi lại vận dụng rất khéo vào con Nọc đượng: “Năng cường, năng nhược/ Năng khuất, năng sanh/ Nói thiệt cục gân/ Ngồi gần con gái trân trân chẳng xìu”.
Sở dĩ ghi lại những dòng này vì mới đây lúc về Đà Nẵng đã thấy khác trước nhiều lắm. Phố xá đã đổi thay. Chỉ cần bước chân qua bên kia cầu sông Hàn, chạm ngay vào một khu đô thị mới. Nhà hàng, khu nghỉ mát vui chơi đã mọc lên như nấm, nếu không nhìn các bảng hiệu tiếng Việt thì cứ nghĩ đang du lịch ở một xứ sở hào hoa, sang trọng nào đó. Cảm thấy xa lạ. Cảm giác này ùa về lúc cùng Sanh phóng xe lên chiêm bái chùa Linh Ứng nằm trên bán đảo Sơn Chà. Thiên nhiên thoáng đãng. Lòng nhẹ nhàng. Và mới thấy đây mới chính là sức sống của một vùng đất. Bạt ngàn cỏ. Cỏ biếc xanh.
Lúc ấy, chợt nhớ đến một đoạn văn trong tập tùy bút 100 ngày trước tuổi hai mươi của Tuấn sẽ in nay mai: “Lá cỏ rụng xuống, héo dần, se lại. Nhưng từ những nắm cỏ se se ấy, chúng tôi ngửi thấy mùi thơm. Một mùi thơm với rất nhiều hương. Vừa nồng nàn vừa hoang dại; vừa có hương của rừng vừa có vị của đất trung du. Và tôi đã thèm, đã thử. Trong khoảnh khắc, hãy biến mình thành con dê, con bò, thử nhai cỏ xem sao. Có những lúc, chúng tôi phải cắt cỏ. Nhưng ít ngày sau, cỏ lại mọc lên. Tinh khôi. Thanh mảnh. Như chưa từng đau đớn. Có những ngày, vì công việc, chúng tôi phải cuốc cỏ lên. Những rễ, những mầm cỏ trắng ngà, bật tung, lộn ngược. Nhưng ít ngày sau, từ những rễ, những mầm bị cắt ấy, những ngọn cỏ lại bật ra, nhú lên. Tôi nhìn cái mầm nhỏ nhoi ấy mà lòng đầy cảm phục. Và có những chiều, chúng tôi phải đốt cỏ. Lửa cháy đùng đùng trên cỏ. Thân cỏ cháy, nổ lép bép. Và những đống than ân ỉ cháy trên cỏ. Nhưng chỉ sau một trận mưa, chính chỗ đất ấy, chính chỗ cỏ ấy, những ngọn xanh nhọn hoắt lại tua tủa mọc lên. Tôi thầm hỏi: cỏ ơi, mày là ai mà sức sống bền bỉ vậy?”.
Câu kết đã khiến lòng y dịu lại. Vừa rồi, bài chòi được UNESCO vinh danh di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Liệu chừng những nơi đô thị hóa tương tự như ở quê y, mai này, còn có nghe vang lên những câu hô bài chòi nữa không? Bi quan làm chi, hãy đọc lại câu kết đoạn văn trên. Nghĩ cho cùng các loại hình sinh hoạt nghệ thuật dân gian cũng là một thứ cỏ đấy thôi. Làm sao có thể tàn lụi và mất đi?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 19.9.2018

 

 

xe-noi-nguyen-nhat-anhQuà của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh  tặng bé Lê Minh Quốc Ấn ngày 17.9.2018

 

Thời còn trẻ, đọc sách nghĩ một đàng; lớn lên một chút, đọc lần nữa, lại nghĩ qua kiểu khác. Trước kia, đọc truyện ngắn Thạch Lam, không thích lắm. Hầu như chẳng có tình tiết xung đột gì ghê gớm, gây cấn, hồi hộp. Phải là Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nam Cao… thì mới đã, mới sướng. Bởi vì rằng, tình huống ấy dữ dội khiến đôi lúc phải phì cười cay đắng, phải ngậm ngùi dào dạt. Thế rồi, vừa đọc lại Thạch Lam, bỗng dưng xao xuyến không nguôi. Tại sao trước đó, lại không cảm nhận? Câu chuyện này thật, rất thật, y mới vừa trải qua nên thấm thía quá đi mất.


Rằng, vợ chồng Tân vừa có đứa con đầu lòng. “Tân cúi xuống giường vợ chàng đương ngồi, và hai tay giữ chân đứa bé đặt nằm trước mặt. Hai bàn tay nhỏ nhắn của đứa bé đang cọ quậy, giơ lên giơ xuống, hai con mắt bé lờ đờ, như hơi ngạc nhiên nhìn. Vợ chàng sung sướng hỏi: “Có phải nó nhớn hơn hôm nọ nhiều không?”. Nàng giơ ngón tay cho đứa bé nắm rồi tiếp: “Này, cậu xem nó nắm chặt chưa này!”.  Ơ hay, Thạch Lam viết cho chính y đấy chăng? Một cảm giác, một nhận xét mà y vừa trải qua. Rõ ràng, lúc ở Từ Dũ, có lúc đang khóc, con bé đỏ hỏn đầu lòng cũng nắm chặt tay y, chẳng khác gì. Ở Thạch Lam là sự tinh tế. Nếu không, sức mấy ông có thể viết những trang bàng bạc cảm xúc, tình cảm dịu vợi qua Hà Nội 36 phố phường.


Thêm chí tiết này nữa, “Buổi sáng nay, vừa bước chân vào trong nhà, Tân đã hỏi vợ: “Em đâu?”. “Nó ngủ, cái gì thế?”. “Tôi có cái này hay lắm”. Tân giơ lên cho vợ xem một đôi bít tất len trắng xinh đẹp. Chàng bước lại bên cạnh cái nôi rủ màn trắng sạch sẽ. Vợ chàng vội nói: “Ấy, khẽ chứ cậu, để nó ngủ. Tôi vừa mới đặt xong”. Tân rón rén, khe khẽ giở tấm màn tuyn, nhìn thấy đứa trẻ nằm gọn trong vải trắng. Chàng cúi mình xuống, yên lặng đợi trên cặp môi nhỏ bé một nụ cười. Và Tân thấy trong lòng rung động khẽ như cánh bướm non, một tình cảm sâu xa và mới mẻ chàng chưa từng thấy”. Ai đã làm chồng, làm cha lại không trải qua giây phút ấy?


Có một điều, nghĩ lại, buồn cười thật. Đại khái, lúc còn trẻ, chưa lập gia đình, nhiều người tự nhử: “Sau này, con mình do vợ mình đẻ ra, phải thế này, phải thế kia”. Tức phải cỡ ông này, bà nọ mới xứng với danh phận, ước mơ to tát của đời mình. Nhưng rồi, lúc ngồi trước phòng đợi, chờ vợ vào sanh, trăm người như một đều quên béng đi cái khát vọng ngông nghênh và đáng yêu đó. Vậy, lúc đó họ nghĩ gì? Y đồ rằng, họ chỉ nghĩ đến bốn chữ “Mẹ tròn con vuông”. Chỉ cần được như vậy, đã là hạnh phúc, là món quà vô giá.


Với mỗi giai đoạn cuộc đời, món quà vô giá ấy cũng khác nhau. Trước kia, với y, chỉ có sách. Tìm mua, được tặng một quyển sách hay là nâng niu trum trủm, khẽ lật từng trang, suốt ngày ngắm nhìn mãi không chán. Vâng, đúng là thế. Cái thời chưa có internet, thử hỏi, với những người chơi sách cũ chẳng hạn, nếu vớ được quyển Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca, bản in năm 1909 của nhà nho Nguyễn Liên Phong thì sao? Thì sướng đến độ ngất trên cành quất, chứ còn gì nữa?


“Đây là bộ sách ít ai giữ được và trở nên một tập phẩm hiếm có của những người chơi sách”. Cụ Vương Hồng Sển đã viết như thế trong Sài Gòn năm xưa. Do đó, từ lâu, y cố gắng phải tìm mua cho bằng được. Tất nhiên, bao giờ của cũng tìm đến người, nếu thật sự có duyên với nhau. Trưa nay, ngồi nhìn bé đang ngủ,  nghe văng vẳng bên tailời của vợ, tưởng chừng như nàng đang nhắc lại câu văn của Thạch Lam: “Này, cậu xem nó nắm chặt chưa này!”. Ừ, thì chặt. Ngủ ngon. Không nhè, khóc quấy. Nhờ thế, y có giây phút yên tĩnh đọc lại quyển sách đã mua, đã gìn gìn từ thời sinh viên mới chân ướt chân ráo vào Sài Gòn.


Quyển sách này in theo khổ 16 x 27 cm, 50 trang do “Phát Toán-Libraire Imprimeur, 55-57 rue d’Ormay” ấn hành năm 1909. Đường d’Ormay, nay là đường Mạc Thị Bưởi. Trong phần tựa, tác giả viết: “Năm Nhâm dần, tháng giêng, ngày vọng/ Nhơn lúc nhàn vó lộng bút nghiêng/ Dạo Nam Kỳ sáu tỉnh sơn xuyên/ Xem nhơn vật, đủ miền mọi chỗ/ Ơn tứ hải, đệ huynh điều độ/ Giúp hành trình, phi lộ kim ngân/ Hơn năm dư, chép thảo lần lần/ Thành một cuốn xa dần cát hạt/ Cách đặt dùng quấc âm lục bát” v.v… Qua bài tựa này, y hiểu rằng, tác giả đã ngao du đây đó, những điều mắt thấy, tai nghe đã được chắt lọc để đưa vào thơ. Chính nhờ “thâm nhập thực tế” nên trong tập sách này ngồn ngồn tư liệu, những sự việc. Ở đây không có chỗ cho trí tưởng tượng, hư cấu. Nhờ vậy, tập sách rất có giá trị cho những ai muốn tìm hiểu về Nam Kỳ thuở đó.


Sau phần tựa, tác giả dành 220 câu lục bát miêu tả địa thế, địa lý Nam Kỳ, đi sâu miêu tả từng vùng đất: Vũng Tàu, Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một. Tây Ninh, Gia Định. Sài Gòn, Chợ Lớn, Tân An… Chẳng hạn về Sài Gòn, tác giả ghi nhận: “Thứ nhứt đường Ca-ti-na/ Hai bên lầu cát, phố nhà phân minh/ Bực thềm lót gạch sạch tinh/ Các cửa hàng bán lịch thanh tốt đều”. Hàng hóa thời đó, khá phong phú: “Những đồ Đại Pháp, Huê Kỳ/ Ăng-lê, Nhựt Bổn món gì cũng sang”. Từ đó, nẩy sinh một tầng lớp lao động mới: “Chực đường có trẻ cu-li/ Kêu đâu sẵn đó đem đi lẹ làng/ Lớp thời xuống bến Nam Vang/ Lớp qua Khánh Hội, lớp sang Nhà Rồng/ Lớp xe về lối ngoài trong/ Lớp đi theo dõi mấy ông dọn nhà”.


Khung cảnh Sài Gòn những năm đó đã được miêu tả hết sức sống động: “Phong lưu cách điệu ai bằng/ Đường đi trơn láng, đèn giăng sáng lòa”. Nhà hát lớn được xây dựng “lối năm 1898, đến ngày 1 tháng giêng năm 1900 ăn lễ lạc thành lớn lắm” (Vương Hồng Sển) thì 9 năm sau, nó được ông Nguyễn Liên Phong đưa vào thơ như thế này: “Thứ năm, thứ bảy, thứ ba/ Với đêm chủ nhựt hát Nhà hát Tây/ Nước nào tục nấy cũng hay/ Tiếng đàn nghe hát, nghe say tính tình/ Nhà hát cất giữa châu thành/ Họa đồ lấy kiểu bên thành Ba-ri”. Kế đến, tác giả miêu tả Nhà thờ Đức Bà - đặt viên đá đầu tiên vào ngày 7.10.1877, đến ngày 11.4.1880 làm lễ khánh thành: “Đá xây bốn phía vách thềm/ Mặc nền hoa thạch trơn êm làu làu/ Lầu chuông chót vót vọi sâu/ Hai cây thành giá hai đầu trên cao/ Đồng hồ chỉ đúng khắc sao/ Người qua kẻ lại nhắm vào phân minh”. Hiện nay, nhà thờ đang trùng tu với các vật liệu y chang thuở ban đầu, vì thế những người thực hiện đã đến làng Bray-et-Lû là  nơi duy nhất ở Pháp chuyên sản xuất tôn kẽm ngày xưa; rồi đến Roumazières-Loubert, cách đó 500 km để tìm đúng ngói mũi tên (ngói Marseille) v.v… Dự kiến 2, 3 năm nữa sẽ hoàn thành.


Bên cạnh nhà thờ, còn “Có tòa dây thép coi phần điển thơ”, với các phương tiện vận chuyển bưu chính: “Biên Hòa còn dạng xe tờ/ Mới bây bảy giờ xe máy Tây Ninh”. Xe tờ, y tìm hiểu là một thứ xe bốn bánh gỗ bọc sắt, cao lêu đêu, trước có băng ngang hẹp dành cho người cầm cương, sau đó hai băng dọc đối diện dành cho hành khách, do hai con ngựa kéo. Vì xe chở công văn, tờ trát của nhà đương cuộc nên gọi tắt “xe tờ”. Tác giả cũng nhắc đến Trường Chasseloup Laubat (nay Trường Lê Quý Đôn), Trường Taberd (nay Trường Cao đẳng Sư phạm): “Nam Kỳ sĩ tử tinh chuyên/ Nhiều người thành đạt liền liền trước sau/ Taberd trường lập đã lâu/ Dekerland trước làm đầu khơi ra”. Qua những câu thơ này, ta biết Trường Taberd, còn gọi là Trường Thầy Dòng do cha Henri De Kerlan thuộc Hội Truyền giáo lập ra năm 1874.


Một trong những nơi quen thuộc với Sài Gòn xưa là “Bồn Kèn” - góc nhà hàng Continental và nhà hàng Pancrazi. Tác giả kể lại chi tiết thú vị: “Gặp Tường thời Trị mắng ngay/ Bởi vì tà tửu ít hay kiêng dè”. Phan Văn Trị mất năm 1910, rõ ràng cuộc bút chiến giữa ông với Tôn Thọ Tường  đã gây được tiếng vang và ảnh hường chính trị thời bấy giờ. Thế thì, vì sao gọi “Bồn Kèn”? Tác giả giải thích: “Mu-dích nơi các bồn kèn/ Vui lòng hứng chí nghe bèn giải khuây”. Cụ Vương Hồng Sển cho biết cụ thể: “Mỗi chiều thứ bảy tại bệ này, có mấy chú lính săn-đá trỗi nhạc Tây cho đồng bào ta thưởng thức”. Mu-dích là phiên âm từ musique, tiếng Pháp. Không những thế, đôi lúc còn đọc thành “mủ-di”. Bằng chứng, Sài Gòn xưa có câu vè: “Thượng Thơ bán giấy/ Thủ Ngữ treo cờ/ Nào ai núp bụi núp bờ/ Mủ-di đánh dạo, bây giờ bỏ em”.


Thời đó, đã có lệ báo giờ vào buổi trưa: “Có chỗ cân giờ nhựt trung/ Trên tàu Ông Thượng đặt vòng địa la/ Có năm ba phút vậy mà/ Đem đồ hiệu lịnh kéo qua cột cờ/ Đợi đến đúng mười hai giờ/ Đồ kia rớt xuống, súng hờ giựt dây/ Nổ lên một tiếng vang vầy/ Châu thành bốn phía sum vầy giấc trưa”. Về lãnh vực báo chí, tác giả cho thấy hồi ấy ở Nam Kỳ đã khá phát triển: “Phan Sa, quốc ngữ nhựt trình/ Mỗi tuần in bán sự tình lăng xăng/ Gia Định là báo công văn/ Phát ra các hạt lệ hàng không sai”. Riêng địa danh Bến Nghe đến nay vẫn còn nhiều cách giải thích khác nhau, thì theo tác giả: “Nguyên xưa rậm rạp còn rừng/ Trâu thường dằm tắm hoặc chừng nghé kêu/ Ngày nay phong cảnh tốt đều/ Tàu ghe lớn nhỏ đậu bèo hai bên/ Đò dọc rước mối xuống lên/ Giành nhau xâu xé vang rên cả ngày/ Ghe bầu xắp lớp đậu ngay”. Những câu thơ này cho thấy cảnh sầm uất của Bến Nghé những năm đó.


Đọc sách xưa cũng là một cách quay ngược về quá khứ. Anh ngon trớn đọc ngân nga tiếng trầm giọng bổng như một cách ru con, bỗng đâu giật mình cái thót. Vợ bảo: “Bây giờ là lúc anh nên tìm đọc các sách nuôi dạy con là hợp tình, hợp lý nhất”. Rồi lại nói luôn một hơi: “Đã biết cách ẳm con chưa? Chưa. Biết thay tã chưa? Chưa. Biết pha sữa chưa? Chưa. Thế thì còn “nai” lắm. Cố gắng lên anh”. Ừ, thì cố. Mà đôi khi tri thức ở trên đời nào có phải thu nhận từ sách. Với một đứa trẻ, lọt lòng mẹ, ngay lúc ở bệnh viện đưa về nhà thì sao? Vợ của nhà biên kịch Đoàn Tuấn dặn dò qua điện thoại: “Ngày ấy, anh phải bôi son vào trán bé, phải đem theo con dao nhỏ, đôi đũa, củ tỏi nữa”. Ấy là một cách “làm phép” dân gian, tuy nhiên cũng có người bảo lấy lọ nồi bôi vào trán. Đại khái thế, nào ai biết đúng sai nhưng rồi cũng phải làm theo.


Lại nữa, sách vở nào dạy nếu bà mẹ vừa sinh con đầu lòng chưa có sữa cho con bú thì phải làm “mẹo” gì? Câu hỏi này, hay lắm. Cô nàng đã làm theo và hiệu nghiệm ngay tức thì. Thì nay, ghi lại cho những ai cần tham khảo. Rằng, mua lấy men làm rượu nếp, giã nát hòa tan với rượu trắng xoa hai bên “Đôi gò Bồng Đảo hương còn ngậm”. Đơn giản mà hiệu quả. Mẹo này, sách vở nào ghi? Sực nhớ đến câu văn của Thạch Lam viết về tâm trạng của một người đàn ông lần đầu, lần thứ nhất trong đời được làm cha, bao giờ cũng là lúc: “thấy trong lòng rung động khẽ như cánh bướm non, một tình cảm sâu xa và mới mẻ chàng chưa từng thấy”. Y cũng thế thôi.


Hôm nọ, lần đầu tiên có trong nhà là chiếc nôi xinh xắn, quà của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đem đến tặng cho bé. Thích quá. Thay mặt bé mà viết rằng: Mai này, khi khôn lớn/ Bé nói với mẹ ba:/ "Từ chiếc nôi ngày ấy/ Nay vạn dặm đường xa/ Thế nào con cũng đến/ Con dẫn mẹ cùng ba/ Tung tăng đi mua sắm/ Tìm thiệt nhiều món quà/ Tặng lại cho bác Ánh". Câu thơ đang ngon trớn nhả ngọc phun châu, dạt dào thì hứng bỗng đâu nghe réo rắt âm vang như tiếng đàn sắt, đàn cầm hòa nhau: “Anh ơi, con mới tè ướt cả gường. Mau mau thay tã cho con”. Nghe hay đấy. Cũng là cảm hứng của thơ đấy thôi, phải không nào?


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 3 trong tổng số 57

trinhduyson