LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 16.11.2017

phoca_thumb_l_le-minh-quoc-2metoi_ngoi_khua_ao

Mẹ tôi ngồi khâu áo

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 13.11.2017

ba-mebua_com_c_me

 

Bữa cơm có mẹ

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 11.11.2017

Anh-DTT.-Phong-Quang1RR

Nhà văn, nhà báo Dương Thành Truyền

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 12.11.2017

ramatveit-tu-hoi-ay-3-tho-tien-3R

 

Sáng hôm qua, thứ bảy, dù ngày nghỉ nhưng cũng phải ra Đường sách. Làm MC giúp nhà báo Ba Thợ Tiện trong chương trình ra mắt bộ sách Viết từ hồi ấy (2 tập - NXB Hội Nhà văn) của anh. Anh em bồ tèo ra sách mới, tự dưng thấy lòng vui. Cũng là một cách thúc giục mình phải viết, rồi cũng có sách mới. Mai sau, còn lại gì không? Cứ hỏi, chẳng thèm trả lời cứ cắm cúi viết từng ngày, mỗi ngày. Cầm bộ sách của một người đã viết ròng rã từ năm 1975 đến thời gian gần đây, dù những bài tạp bút có tính thời sự nhưng đã thấy nể nang. Hai tập cả hàng ngàn trang in. Đã từng viết từng chữ, từng chữ, mới biết sự lao động ấy nhọc nhằn ra làm sao.

Ối dào, lúc ấy trên đỉnh trời, mây trắng vẫn thong dong, vẫn lãng du nhẹ tênh như không. Hỡi ôi, ta lại cúi mặt gõ từng chữ, từng chữ. Buồn hay vui. Có tị nạnh không? Không hề. Đã mây thì bay/. Đã nước thì chảy. Đã cỏ thì xanh. Đã cầm bút thì viết. Khi viết Lời giói thiệu bộ sách này, bạn y, nhà nghiên cứu văn học Bùi Quang Huy kết luận: đó là “con người kỳ quặc”.

Đúng vậy. Từ năm 1966, sau khi tham bị chính quyền Sài Gòn truy đuổi, bắt giam 6 tháng vì đã tham gia phong trào đấu tranh Phật giáo, từ Quảng Nam, anh Ba Thợ Tiện phải chạy vào Sài Gòn náu thân. Đêm đầu tiên tại một nơi không hề có bà con thân thích, anh xin ngủ nhờ ở Cô nhi viện Quách Thị Trang (nay thuộc đường 3/2). Qua ngày thứ hai, anh xin vào làm công quả tại chùa Ấn Quang và trở thành người xuất gia, pháp danh Minh Ngọc. Sau đó, anh theo học ngành y, thực tập ở Phòng thí nghiệm Bệnh viện Bình Dân.

Có một dấu ấn khó quên, là bấy giờ bằng sự nhậy cảm của một tâm hồn thi sĩ, anh đã viết nhiều thơ in trên báo chí công khai Sài Gòn, ký bút danh Hoàng Thoại Châu. Năm 1968, anh xuất bản Áo trắng ngày xưa - tập thơ đầu tay này được Tổ đình Quan Thế Âm tài trợ in ấn, phát hành. Sau đó, năm 1969, anh liên hệ với Nha Kiểm duyệt để xin giấy phép in tập thơ thứ 2 Tình biển nghĩa sông. Đọc bản thảo tập thơ, với tư cách là người “gác cửa”, nhà văn Võ Phiến lắc đầu, trao đổi với anh: “Nếu Đại đức gửi cho chúng tôi một tác phẩm nhẹ hơn, tôi sẽ ký ngay. Ký tại chỗ”. Tất nhiên anh không đồng ý.

Vậy làm thế nào vẫn tập thơ vẫn in được mà không bị “ốp”, tịch thu vì không có giấy phép?

Trong “cái khó ló cái khôn”, anh nghĩ đến giấy phép của tập thơ đã in lần trước, và “láu cá” thêm vào đó mỗi một từ “bis”. Lần nay vị Thượng tọa của Tổ đình Quan Thế Âm lại ủng hộ, mạnh dạn đứng ra lo liệu. Mọi việc suông sẻ. Tháng 9 năm ấy, tình cờ đọc báo Chánh Đạo, anh biết tin về Giải thưởng Văn học Nghệ thuật lần thứ nhất (1967-1969) của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Anh liền đem tập thơ Tình biển nghĩa sông gửi dự thi.

Có một điều bất ngờ đến kỳ quặc là tập thơ in “chui” ấy, không có giấy phép chính thức của Nha Kiểm duyệt lại lọt vào mắt xanh của Ban giám khảo bộ môn Thơ - gồm những nhà thơ rất uy tin như Vũ Hoàng Chương, Bàng Bá Lân… Tên tuổi anh đã được xướng danh tại phòng Khánh tiết ở Dinh Độc lập. Đặc biệt, thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã phóng bút tặng anh 8 câu thơ bằng nét bút rồng bay phượng múa: “…Một phen nhả ngọc phun châu/ Địa linh nhân kiệt từ lâu tiếng đồn/ Vang rền đợt sóng Vũ môn/ Lắng nghe nước Việt thả hồn trong thơ”.

Các chi tiết liên quan đến giải thưởng thơ của Ba Thợ Tiện, ít nhiều cho thấy cách quản lý văn hóa của một thời. Ăn theo thuở ở theo thời. Thời này, có những sự việc liên quan đến xuất bản, báo chí khó có thể lặp lại, Tuy nhiên, với sự “nở nồi” của internet, người ta lại có cách khác. Tất nhiên rồi. Đã cầm bút, nói gì thì nói, họ cũng đều muốn công bố các trang viết, dù hay, dù dở. Đó là một sự hiển nhiên. Chẳng ai viết xong, bỏ vào hộc tủ, khóa lại, chỉ mình mình biết chỉ mình mình đọc. Có mà cuồng chữ.

Sau Tết Âm lịch năm 1972, anh tiếp tục cho in Tình biển nghĩa sông (tập 2). So với tập thơ trước, tinh thần quật, tự hào dân tộc, đấu tranh cho hòa bình, thống nhất càng nồng nhiệt hơn. Đồng tình với một thái độ dấn thân, lòng yêu nước của anh, hai nhà văn đàn anh Sơn Nam và Kiên Giang đã viết lời giới thiệu. Nói như nhà thơ Kiên Giang: “Thơ Hoàng Thoại Châu mang tinh thần phản chiến. Bởi có thi sĩ chân chính nào lại biểu đồng tình với súng đạn và cổ võ chiến tranh diệt chủng. Tuy nhiên Hoàng Thoại Châu không lên án chiến tranh bằng những “lời thơ gây tiếng nổ” mà bằng hơi thở và âm thanh nhẹ nhàng, vì bản tính của thi sĩ không tách rời với đặc tính hiền hòa của người Việt Nam”.

Tương tự lần trước, Tình biển nghĩa sông (tập 2) đã tạo ra dư luận sôi nổi trên báo chí. Bấy giờ, phong trào đấu tranh chống chính quyền Sài Gòn ngày một dữ dội, tất nhiên Hoàng Thoại Châu không đứng ngoài cuộc. Anh cùng các trí thức sinh viên yêu văn nghệ đã thành lập nhóm Hướng Dương. Nhóm này chủ trương in các tác phẩm tự tình dân tộc, “về nguồn”, phàn chiến, đấu tranh cho hòa binh thống nhất như của Hoàng Thoại Châu, Huỳnh Ngọc Trảng, Phan Viên Hoài, Trần Hào, Hàng Chức Nguyên, Trần Thế Hùng… Và chính những trí thức này đã tạo ra một Vụ án văn nghệ Quán Mù U nổi đình nổi đám một thời.

Vào ngày 1.1.1974, họ tổ chức ra mắt tập truyện ngắn Những trái tim hồng, tiếp tục phát hành tập thơ Tình biển nghĩa sông tại quán Mù U trên đường Nguyễn Văn Thoại. Thơ và các ca khúc mang tinh thần Dậy mà  đi, Người mẹ Bàn Cờ, Nối vòng tay lớn… qua các giọng ca “vàng” Đài Phát thanh Sài Gòn, nhạc sĩ của phong trào SVHS đã bị đàn áp khốc liệt bởi dùi cui, lựu đạn cay của cảnh sát, mật vụ. Cùng nhiều người khác, Hoàng Thoại Châu cũng bị bắt. Sau khi trải qua nhà tù Chí Hòa, anh đã bị đưa ra Côn Đảo. Đó là nơi mà sau này anh cho rằng chính là “địa ngục của địa ngục”. Vậy, anh đã giữ vững khí tiết như đã tuyên bố trong 2 tập thơ Tình biển nghĩa sông bằng cách nào? Anh cho biết: “Bài thơ được viết ngay trong đêm đầu tiên để với nhà lao Côn Đảo: “Mất của là chẳng mất chi/ Sức khỏe. nếu mất, mất đi ít nhiều/ Chỉ lo khí tiết đổ xiêu/ Là mất tất cả là tiêu cuộc đời”. Bài thơ đó là “kinh nhật tụng đối với tôi suốt thời gian ở Côn Đảo”.

Ngay sau ngày 30.4.1975, Hoàng Thoại Châu đã được bạn tù trao cho chiếc áo bà ba lành lặn để trở về đất liền. Cuộc đời anh lật sang một trang khác: Nhà báo Ba Thơ Tiện. Anh là một trong những người đầu tiên góp phần tạo dựng nên “hình hài” của báo Tuổi Trẻ ngày hôm nay, rồi sau này là báo Lao Động.

Nhắc đến Ba Thợ Tiện, lập tức bạn đọc nhớ đến một cây bút chỉ “chơi” một thể loại: tạp bút, tạp văn, phiếm luận - gắn chặt với hơi thở của thời cuộc. Nhà phê bình Bùi Quang Huy hoàn toàn toàn có lý khi nhận xét bút pháp của Ba Thợ Tiện: “Nó như một thứ kim đâm vào xương vào thịt, nhức nhối, thậm chí đau đớn để người ta hoặc giật mình, hoặc phải thản thốt nhớ đời… Nhưng quan trọng hơn vẫn là con mắt nhìn đời và tấm lòng của người viết. Anh tinh tường khi nhận ra những chuyện tréo cẳng ngỗng sau vẻ bình lặng hay ồn ào của cuộc sống. Song cũng khéo nhận biết mà nâng niu những giá trị bị lẩn khuất”.

Hãy dừng lại một chút để nhắc đến thể loại này. Trước hết thử liệt kê các nhà báo đặt tên ra làm sao, thử ghi ngâu hứng: Cực chẳng đã, Tréo cẳng ngỗng, Khe khẽ… khều, Chẳng đặng đừng, Giữa đường thấy chuyện, Nghịch lý, Bàn và tán, Ao thả vịt, Câu chuyện hằng ngày, Chuyện thường ngày, Thuốc đắng, Những điều trông thấy, Nói hay đừng, Nói sương sương, Nói huỵch toet v.v… Xưa nay, với chuyên mục định kỳ xuất hiện trang 2 trên nhật báo với các bút danh như Thông Reo, Tân Việt, Tư Trời Biển, Kha Trấn Ác, Lang Là, Bút Bi, Người Sành Điệu… hầu như đó là tên chung. Nhiều người thay phiên nhau viết. Với “con người kỳ quặc” Ba Thợ Tiện lại khác, chỉ một mình anh viết ròng rã hết số này qua số nọ. Dù đã viết cho hơn 15 tờ báo cũng chỉ mỗi mình anh phóng bút. Nhân đây nói luôn, anh cho biết, khi đặt tên cho chuyên mục “Nói hay đừng”, chỉ nghĩ ra ba từ ấy, anh đã sướng cả tuần! Tại sao? Thử nói lái lại xem sao? Cũng là một cách nghịch chữ của cánh anh em báo chí.

Tìm ra vấn đề thời sự để viết bằng thể loại tạp bút mỗi ngày, khó quá đi mất. Thế đấy, mới thấy Ba Thợ Tiện đã đạt đến sự lao động bền bĩ của một nhà báo chuyên nghiệp, say mê với nghề đến cỡ nào. “Làm thế nào để luôn giữ được phong độ như thế?”. Câu hỏi này đã được nhiều bạn đọc đặt ra trong buổi giao lưu ra mắt bộ tùy bút Viết từ hồi ấy tại Đường sách TP.HCM vào sáng hôm qua. Ba Thợ Tiện không “giấu nghề”, anh bật mí trước tiên là nhà báo phải rời khỏi căn phòng may lạnh tại tòa soạn để thâm nhập thực tế. Trong quá trình đi thu nhập chất liệu ngồn ngộn của đời sống, cần phải biết chắt lọc ra chi tiết đắc giá nhất, nếu chưa đủ phải tìm kiếm thêm và sau đó mới đặt bút viết. Kinh nghiệm này, nghe thoáng qua, tưởng dễ nhưng thật ra đó là cả một quá trình rèn luyện không ngừng… Anh kết luận.

Lại có câu hỏi, với cả hàng ngàn bài báo cùng một thể loại đã công bố,  nếu chỉ chọn lấy 1, 2 thì anh sẽ chọn thế nào? Với câu hỏi này, Ba Thợ Tiện đã nói dí dỏm, đã là con của thì mình đều thương yêu, yêu quý như nhau. Tuy nhiên, anh vẫn nhớ nhất bài báo Đau đầu về… những cái đầu, in trên báo Lao Động số ra ngày 28.7.1991, không chỉ anh “lên bờ xuống ruộng” mà Ban biên tập cũng bị “vạ lây”.

Rằng, ngày nọ sau khi ra miền Trung tham quan khu đất đã được quy hoạch xây dựng khu văn hóa, một đồng chí cán bộ chủ chốt của địa phương mời Ba Thợ Tiện góp ý. Anh phát biểu: “Theo chỗ hiểu biết của Ba tui, trước hết ở đây cần được đầu tư vài ba “cái đầu”. Một đồng chí cán bộ, nói nhanh: “Anh Ba nói rất đúng, chúng tôi đang lập đề án đầu tư ở đây ba cái đầu… đa hệ. Dân ở đây thích phim lắm”. Nghe câu ấy, Ba Thợ Tiện ngớ người đến độ cạn lời! Sau khi nghe anh kể lại, một anh bạn bình cay đắng, chua xót: “Cái đầu” hiểu “cái đầu” anh Ba muốn nói thành ra “cái đầu”… đa hệ, dù gì cũng chỉ mới là chuyện về “cái đầu” đáng thương. Còn những “cái đầu” đáng trách, đáng ghét ở đây vẫn là những “cái đầu” chụm lại, nương nhau để tồn tại sau những sai lầm đáng tiếc do nó gây ra”.

Chính câu kết ấy mới gây phiền toái làm sao. Phiền toái làm sao cho cách quản lý báo chí của một thời. Trong buổi sáng giao lưu cùng bạn đọc, Ba Thợ Tiện đã kể sự nghiêm trọng đã trải qua, kể xong, không riêng gì anh mà mọi người cũng bật lên tiếng cười sảng khoái. Sự việc đã qua. Vui thôi mà. Âu cũng là tính cách của Ba Thợ Tiện, dù viết thế nào đi nữa thì cốt lõi, nền tảng của nó vẫn là tinh thần phản biện nhằm thúc đẩy sự việc ngày một tốt hơn.

Khi cầm trên tay bộ sách đồ sộ Viết từ hồi ấy, nhiều bạn đọc ngạc nhiên và đồng loạt đặt câu hỏi tò mò với “con người kỳ quặc” Ba Thợ Tiện: “Đâu là điểm tựa/bệ phóng giúp anh có thề toàn tâm toàn ý cho sự nghiệp viết báo?”. Anh chân tình thổ lộ nhẹ nhàng rằng, luôn yên tâm bởi có đứng phía sau: người vợ. Lúc ấy, y sực nhớ đến câu thơ anh đã viết về miền Nam, quê vợ anh bằng rung cảm của nhà thơ Xứ Quảng: “Đất nước miền Nam tình châu Á/ Ruộng đồng, cây trái ngọc phương Đông/ Tiếng em hay cả tình em đó/ Nhung nhớ lâu rồi thương quá thương”.  Vậy, với những gì đã có, từ Tình biển nghĩa sông đến Viết từ hồi đó, rõ ràng từ nghề đến đời riêng, “con người kỳ quặc” Ba Thợ Tiện quả là người hạnh phúc…

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 10.11.2017

Lại nhớ bài thuộc lòng môn Quốc văn hồi học lớp Ba: “Em nhớ bà em những buổi chiều/ Ngồi bên giàn lý gió hiu hiu/ Một bày cháu nhỏ chơi quanh gối/ Đứa nếp sau bà đứa đuổi theo/ Bà bảo đừng nô bà kể chuyện/ Cùng nhau xúm lại tiếng cười reo…”.

clip_image0014ba_ngoai

Bà ngoại - tri kỷ, tri âm của mẹ

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 9.11.2017

phoca_thumb_l_le-minh-quoc-5

Quê nhà của mẹ

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 8.11.2107

ngay-di-tren-chu-3Rqueme

Tranh giấy dó của Lê Minh Quốc

Quê mẹ

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 7.11.2017

 

gap-lai-tho-au-buion-vui-1-RRRR

(Từ phải: Lê Minh Quốc, cụ bà Lương Thị Ân ẳm Lê Minh Tiến, đứng cạnh là Lê Minh Tân)

Mẹ xóa nợ cho con

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 5.11.2017

quocai-Rchi_em

Lê Minh Quốc - Lê Thị Ái (ảnh chụp vào thập niên 1960 tại Đà Nẵng)

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 1.11.2017

ngay-di-tren-chu-1Ranh-nay

Tranh giấy dó của Lê Minh Quốc

 

Phải viết, còn vì một điều gì đó với mẹ nữa. Chẳng ai biết đâu. Ngay cả y cũng không biết nốt. Vì từ lúc mẹ mất đến nay, không lúc nào chợp mắt lại không thấy loáng thoáng hình bóng của mẹ. Kỳ lạ thật.

Cảm thấy viết thật khó khăn. Rồi cũng xong. Cứ tiếp tục nhé. Hôm trước nhận được tin nhắn của Đoàn Tuấn tâm tình về quyển Mùa chinh chiến ấy. Hắn ta bảo, khi viết tập sách này khó khăn nhất vẫn là chọn cách viết. Đã viết chừng nửa cuốn. Sau đó, phải bỏ sạch. Viết lại. Chọn cách viết khác. Và cuối cùng hắn ta đã tìm ra cách viết phù hợp. Với y, sau khi biết thông tin này, chỉ cười. Tại sao lại khó khăn đến thế? Chỉ ngồi trước bàn phím và gõ từng con chữ, là xong, là cứ thế đi hết ngày này qua ngày nọ, chứ khó khăn gì? Đúng thế. Y viết dễ dàng lắm. Không khác gì người nông dân. Rạng sáng, dắt trâu, vác cuốc ra đồng. Miễn là đã ngủ đẫy giấc.Ngày nào cũng thế. Ngồi đâu viết cũng thế. Có máy tính, gõ phím, bằng không thì viết tay. Ồn ào cũng mặc. Náo nhiệt cũng kệ. Cứ viết, miễn bỏ mặc y, đừng hỏi han tới. Dễ dàng thôi.

Tưởng là thế, mấy hôm nay, y cũng rơi vào tình trạng của bạn. Đã có ý định tập trung thời gian viết một quyển sách về những người đã khuất. Sau lúc mẹ mất, y nghĩ đã đến lúc phải viết. Không chần chừ gì nữa. Dù gì trong tình cảm máu thịt của y đã ba, mẹ, anh, chị đi về cõi khác. Viết một cái gì đi chứ?

 Tưởng dễ, nhưng rồi thế nào? Viết lại câu chuyện riêng tư nhưng người khác vẫn đọc, vẫn cảm thấy như viết về người thân của họ mới là khó. Y muốn rằng, cuốn sách ấy cứ in ra như mọi quyển sách khác nhưng chỉ tập trung vào bốn người ruột thịt không còn gặp lại nữa. Bấy giờ mới cảm thấy khó khăn mà bạn đã trải qua.

Trước đây, tháng 8.2012 khi đọc, biên tập hồi ức Khêu ngọn đèn xanh của ông anh ruột, y nghĩ, đại khái rằng:

Hồi ký, tự truyện… là một thể loại khó viết. Rất khó. Bởi thói thường do “tốt khoe, xấu che” nên ít ai có thể dám bộc bạch hết suy nghĩ của mình. Có lần y hỏi nhà văn Nguyễn Quang sáng, tại sao không viết hồi ký? Ông cười khà khà, đại khái, chẳng lẽ tao chỉ toàn kể tốt về tao? Tuy nhiên, cũng có những ngoại lệ. Chẳng hạn, học giả Vương Hồng Sển dám viết hồi ký Hơn nửa đời hư đó sao? Đọc rất ngậm ngùi thú vị.

Theo y thể loại hồi ký chỉ thật sự có giá trị khi con người ấy có một tầm vóc lớn lao, mỗi gia đoạn của cuộc đời họ đều gắn với thăng trầm của một đất nước, một dân tộc. Chẳng hạn, Tự phán của chí sĩ Phan Bội Châu, dù tự nhận cuộc đời cụ chỉ là một chuỗi thất bại, nhưng khi đọc, thế hệ sau lại học được biết bao là kinh nghiệm của thế hệ tiên phong khai đường mở lối trong sự nghiệp cứu nước.

Những nhân vật lừng lẫy ấy, khi đọc hồi ký của họ, chúng ta sẽ thấy hết sức thú vị vì có những chi tiết trong đời họ đã góp phần bổ sung cho chính sử, giúp ta hiểu chính sử rõ hơn. Họ là những con người đã tạo ra thời cuộc.  Hiểu thời cuộc thông qua số phận một con người cụ thể, còn gì thú vị hơn?

Lịch sử một đất nước được thể hiện qua chính sử. Đúng rồi. Nhưng vẫn chưa đủ. Chính các tập gia phả của mỗi dòng tộc, ngọc phả của các đời vua… có những chi tiết cụ thể, những con người cụ thể đặng khắc họa và bổ sung cho chính sử, giúp chính sử sinh động hơn, “thật” hơn và cũng “đời” hơn. Bên cạnh đó, y còn muốn nhấn mạnh đến các tập hồi hý, tự truyện, tự thuật… của các cá nhân khác.

Thế nhưng.

Có ai cần đọc những tập sách thuộc thể loại đó của những kẻ “thường thường bậc trung” như chúng ta không? Chắc không, nếu tập sách đó chỉ đóng khung trong cái cuộc đời của chính họ. Mà họ không nổi tiếng, không là người của công chúng thì chẳng ai buồn ghé mắt đến.

Nói đi cũng phải nói lại.

Gần đây nhất có nhiều hồi ký, tự truyện của những con người bình thường vẫn tạo được dư luận kìa mà. Tại sao? Bởi những hồi ký đó đạt được nhiều yêu cầu, ở đây y chỉ muốn nhấn mạnh: 1.Số phận của họ quá khốc liệt, thăng trầm dữ dội nên dù chuyện thật nhưng ta cứ như tưởng hư cấu của văn chương; 2. Viết về một cuộc đời bình thường như bao người khác, nhưng qua đó, ta lại thấy tái hiện lại tình hình xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa… của cả một thời, thời họ đã sống.

Thế thì, thể loại này do ai viết cũng được. Vấn đề đặt ra là viết như thế nào.

Hồi ký Khúc tiêu đồng của ông Hà Ngại là một thí dụ sinh động. Dù viết cho riêng mình, chỉ viết lại những gì mắt thấy tai nghe, không hư cấu nhưng tập sách đó rất có giá trị nếu người đọc cần biết về khoa cử, hát bội, sinh hoạt chợ búa, đời thường dân dã… của cuối thời Nguyễn. Những thông tin đó quý báu, hấp dẫn hơn cả tài liệu “chính quy” vì chính nó đã được kể từ người trong cuộc, từ tình tiết cụ thể… Muốn vậy, người viết phải có biệt tài quan sát, có trí nhớ tốt, có tài liệu v.v… để đủ sức tái hiện lại một thời đại mà họ đã sống. Mà thông tin của sự tái hiện đó phải gắn với cái chung, được nhiều người cùng quan tâm.

Hồi ký của Sơn Nam lại khác. Hầu như không có thông tin gì về đời sống riêng, kể cả công việc viết lách, nếu có chỉ thoáng qua đôi dòng. Đọc, có cảm tưởng như ông lấy mốc năm tháng cuộc đời để kể lại những gì mình đã hiểu biết, đã sống ở địa phương đó, vùng đất đó. Cũng là một cách cung cấp về phong tục. Ngược lại, hồi ký của Bà Tùng Long, Nguyễn Hiến Lê lại rất tỉ mỉ từng chi một, kể cả chuyện hôn tình yêu, tất nhiên đều được lồng trong bối cảnh của thời cuộc mà họ đã sống.

Tập sách, tạm gọi "tự truyện" là của ông anh ruột, y nghĩ có những điều quý báu của người nay, nhưng với người kia lại không là gì cả. Và ngược lại. Điều ấy là lẽ thường tình. Tập sách này y đặt tựa Khêu ngọn đèn xanh - là lấy ý từ câu thơ của thi sĩ Quách Tấn, viết năm 1951 (in trong tập Mùa cổ điển, tái bản lần 2 tại miền Nam năm 1960):

Quán không hò hẹn đón đưa nhau,

Khêu ngọn đèn xanh gạn bể dâu.

Thương tớ, mái gương dường ướm tuyết,

Mừng ai, khóe phụng vẫn nguyên thu.

Hoa, lòng nỡ gởi trời U cốc?

Bút, mộng không rời nợ Bích câu.

Muốn mượn chén trăng hòa viễn ý

E dòng lệ ngọc khóc minh châu…

Với những suy nghĩ vừa nêu trên, y cảm thấy không nên chọn cách viết như anh mình đã viết. Bởi vì rằng, y chỉ sống với gia đình ở Đà Nẵng thời gian ngắn, quá ngắn, chỉ 18 năm rồi đi xa hẳn, chỉ xuân thu nhị kỳ mới quay về. Về như chuồn chuồn đáp nước, thoáng đó lại bay đi. Kỷ niệm, dấu vết tình thân không nhiều trong ký ức, làm sao viết? Riêng về mẹ thì khác. Đã có thời gian mẹ sống chung nhà. Nhiều tình tiết, nhiều kỷ niệm. Dễ viết hơn. Đã có nhiều tình cảm khó quên với bên ngoại, còn bên nội chỉ là vệt trắng. Hơn nữa, có những sự việc đã xẩy ra, y không muốn nhắc lại, phải quên đi, nếu chọn cách viết như Khêu ngọn đèn xanh ắt không phù hợp, không khéo không trung thực.  

Vậy, phải viết làm sao? Loay hoay mãi.

Cuối cùng phải làm sao?

Ừ, y chọn lại những gì mà trước đây đã viết, đã in. Nếu cần thì gia công thêm hoặc sắp xếp lại, bằng không cứ giữ nguyên. Lại vấp thêm cái khó nữa là xưng hô thế nào? Tôi? Chúng tôi? Con? Em? Cách nào đây? Thôi thì, thống nhất chọn gọn lỏn mỗi từ “y”, nhập vào vai người ngoài để quan sát sự việc. Chọn lấy cách viết như đã viết tùy bút. Như đã viết nhật ký. Viết chỉ tập trung một chủ đề: Gia đình.

“Hay đấy Q”. Vấn đề gia đình, tình mẹ con, cha con, anh chị em thì ai ai cũng có một cảm nhận chung, không sợ phải quá riêng tư đâu. Viết đi. Cứ thế mà viết. Viết cho gia đình mình nhưng cũng là viết cho mọi người đấy thôi. Chiều qua nhẹ cả người, sung sướng vì đã hài lòng tìm ra một cách viết cho quyển sách này, hứng quá, nhắn tin cho bạn bè rủ rê lai rai chút đỉnh. Ai cũng bận cả. Thiệt tình. Lại lủi thủi cơm mước một mình. Chẳng sao. Công việc đang thúc giục từng ngày.

Phải viết, còn vì một điều gì đó với mẹ nữa. Chẳng ai biết đâu. Ngay cả y cũng không biết nốt. Vì từ lúc mẹ mất đến nay, không lúc nào chợp mắt lại không thấy loáng thoáng hình bóng của mẹ. Kỳ lạ thật.


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 7 trong tổng số 57

trinhduyson