LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 19.5.2019

Bat_tien_qua_hai

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 14.5.2019

indexCh_Nam_ngc_m_gii_ngha

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 4.5.2019

Copy_of_49946592_545619429256426_6007280188939829248_n

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 16.4.2019

tim-hieu-dat-hau-giang

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 26.3.2019

51007175_2467829686579629_6273799252007190528_n

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 22.3.2019

 

L_c_ca_Walt_Whitman

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 19.3.2019

scan0001-125-247x396

 

Tự dưng chiều nay lại nhớ đến đến ông bạn già - nhà thơ Phạm Thiên Thư. Đã lâu, chừng hơn mươi năm trước đang thất tình thất điên bát đảo, lên bờ xuống ruộng, trần ai khoai củ, tóm lại là đang buồn nên lúc ấy thường vác xác lên nhà ông tìm nơi tâm tình. Có những lúc ông an ủi bằng cách đưa ra chừng dăm quyển vở học trò chép đầy thơ. “Q đọc đi”. Bèn đọc. Những bài thơ này, ông chép tay như nét chữ học trò. Rõ ràng. Dễ đọc. Gió chiều lồng lộng. Đường vắng. Quán cà phê Hoa Vàng. “Rằng, xưa có gã từ quan/ Lên non tìm động hoa vàng nhớ nhau”. Tên quán là lấy theo câu thơ của chính ông. Thời điểm này, Phạm Thiên Thư đã “lậm” sâu vào phương pháp dưỡng sinh với tên gọi “phathata” do ông sáng lập. Đại khái, ông chủ trương: “Luôn biết mình dốt/ Để gọt tính kiêu/ Để yêu như mới/ Để cởi mối hiềm/ Để thêm tinh tiến”.


Và cũng vì say mê cuồng nhiệt, trung thành với phương châm này, ông đã viết nhiều bài thơ tứ tuyệt. Mỗi lần ghé chơi, ông thường đưa ra cho đọc. Sau đó, dần dà y ít lui tới. Tại sao thế? Đơn giản chì vì vết thương lòng đã lành, đã có thể vi vu trăng hoa tình ái với cảm hứng yêu đời dào dạt, yêu người da diết nên y đã… quên béng ông bạn già. Thế đấy. Có những nơi khi rầu rầu tâm sự, buồn buồn sương khói ta thường tìm đến; ngoặt một cái, lúc giông gió đã qua, biển đã yên, sóng đã lặng, ô hô, ta lại chẳng thèm nhớ đến nữa. Tệ đến thế là cùng.


Chẳng sao. Vẫn còn có cách “sửa sai”, ấy là bằng mọi cách lục lọi lại tập sách Từ điển cười Tiếu liệu pháp của Phạm Thiên Thư - bao gồm những bài thơ mà ngày ấy, y đã từng đọc. Nay, đọc một lèo và cảm thấy khoái! Trên cõi đời, nếu được cười một cách sảng khoái, còn gì thú bằng? Ngược lại, đã cười mà cười gượng gạo đành lòng, cam chịu nhưng tỏ ra vui vẻ thì còn gì là cười?


Sực nhớ, trong một truyện ngắn nọ, nhà văn Nguyễn Công Hoan kể lại có anh chàng dân đen được quan trên cử đi trừ bọn cướp. Với  lòng quả cảm, nghĩa hiệp anh ta đã khám phá ra ổ trộm, nhờ đó, làng xóm bình yên. Sự thành công này rực rỡ đến độ cô vợ anh… phải góa chồng. Tất nhiên, quan lớn hứa thưởng công, đền bù công lao xứng đáng của một người bỏ mạng vì việc làng, việc nước. Cũng an ủi phần nào, vì sau khi chồng chết gia đình ngày càng túng quẫn, kiệt quệ. Chờ đợi mãi, dăm ba tháng sau, mừng quá chị nhận tờ sức của ông lý trưởng. Mời đi nhận tiền thưởng? Không, mời nhận cái bằng… truy tặng cửu phẩm bá hộ! Ấy là ngậm cười chăng?


Nếu người khác chỉ viết làm dăm ba bài thơ trào phúng để cười cho đỡ buồn, ông Phạm Thiên Thư đã làm hẳn một cuốn sách dày trên 1.000 trang. Nội lực sáng tạo và lao động bền bỉ về cái cái cười cỡ này, thiệt đáng nể. Thế thì cười là gì? Để trả lời, chỉ có thể viết luôn một quyển sách, chẳng hạn trước kia, bác sĩ Dương Tấn Tươi có viết quyển Cười (nguyên nhân và thực chất) in năm 1968, dày 370 trang, nay cũng thuộc loại quý hiếm mà chơi sách cũ săn lùng dữ lắm.


Thế nào là cười? Trước mắt, ta hãy lấy định nghĩa ngắn gọn của Việt Nam tự điển do Hội Khai trí tiến đức khởi thảo năm 1931: “Nhách môi, há miệng lộ sự vui vẻ hay ý tứ gì ra”. Trước đó nữa, Đại Nam quấc âm tự vị (1895) giải thích: “Ấy là cách hả miệng, nhích mép, hoặc có tiếng hoặc không có tiếng, tỏ ra mình vui vẻ hay có ý gì. Cũng có nghĩa là chê bai: Nó cười tôi”. Có lẽ, “định nghĩa” chuẩn nhất về cười, theo y, thuộc về ông Rabelais - một nhân vật đồ sộ của thời Phục hưng: “ Thay vì bàn đến khóc, tốt hơn là viết về cười, vì cười là đặc tính của con người”. Đúng thế, không con vật biết nào biết cười, chỉ có con người.


Tuy nhiên, y biết có một con bò cũng biết cười là khi nó được… xuất hiện trên bao mì pho mát Pháp. Hình ảnh ngộ nghĩnh, vui tươi, dễ gây thiện cảm. Con bò đó cười thế nào? Chắc chắn không phải là kiểu cười mà ông Phạm Thiên Thư đã miêu tả: “Tức quá gằn lên một tiếng cười/ Cười như ngầm dọa: “Biết tay thôi/ Cười ông- có lúc ông cười lại/ Cười lại là bay chết bỏ đời!”. Cười này là cười gằn.


Đã lâu, lâu lắm rồi, có đọc bài thơ tứ tuyệt xưa lắc xưa lơ, xét ra là một lối cười xỏ xiên thâm trầm, ý vị, nay chép lại cho vui. Vui là tốt rồi, được thế đã là may, còn hơn phải chìm đắm trong lo âu sầu não. Bài thơ này của ông thi sĩ Lãng Ba. Thơ rằng: “Sân khấu hẹp hòi múa hát vang/ Ăn lương bầu gánh sợ ông làng/ Làm vua làm tướng chi chi đó/ Thì cũng do “nhưng” núp dựa màn”. Xét về câu chữ, rõ ràng tác giả là người miền Nam. Thử hỏi, câu cuối có từ “nhưng”, vậy nghĩa là gì? Ta bàn sau. Dám nói rằng, ông làng là cách gọi chung về ông tổ hát bội. Nhiều từ điển và sách vở xưa nay đã giải thích rành rành. Liệu chừng có đúng? Không hẳn đâu.


Một khi nói chắc nịch như thế ắt có người cãi. Dứt khoát sẽ cãi lại cho bằng được. Tránh cãi cọ lôi thôi, chi bằng hãy nghe chuyên gia hàng đầu nghiên cứu nghệ thuật hát bội là GS Hoàng Châu Ký giải thích: “Ông làng là những tượng nhỏ được thờ với các vị tổ trong những gánh hát bội ngày xưa. Trên bàn thờ tổ có một cái tráp gỗ sơn đỏ, có cửa mở đóng, bên trong có mười tượng gỗ nhỏ, đầu bịt khăn đỏ, mình mặc áo lục, là tượng các vị tổ của nghề hát bội. Trước mười tượng này lại có hai tượng khác cũng khăn áo như vậy nhưng đứng hai bên chiếc ngai, đó là hai ông làng hát bội” (Tự điển nghệ thuật hát bộ Việt Nam, Nguyễn Lộc chủ biên- NXB KHXH Hà Nội - 1998, tr.448).


Rõ ràng ông làng chỉ được thờ chung chứ không phải ông tổ hát bội. Thế nhưng xưa này người ta vẫn gọi và xếp chung vào hàng ông tổ, xét ra thiệt… éo le! Mà cũng phải thôi, theo truyền thuyết ông làng vốn là hai hoàng tử trẻ con, hỉ  mũi chưa sạch, mặt búng ra sữa, còn ham chơi và cực kỳ mê hát bội. Một hôm dù đang ốm nhưng cả hai vẫn trốn đi xem hát, núp một chỗ không ai nhìn thấy, bị cảm lạnh rồi chết. Đáng khen là sau đó, hai ông hoàng này luôn phù hộ cho các gánh hát bội nói chung nên từ đó về sau, đào kép đã thờ họ cùng với ông tổ. Từ “ông hoàng”, trải qua năm tháng đã dần dần nói trại thành “ông làng”. Do còn trẻ con nên hai ông hoàng này… khoái mùi thơm của trái thị, vì lẽ đó, ngày xưa người ta kiêng kỵ đem trái thị vào giàn hát/ rạp hát là vậy, vì rằng, mùi thơm của trái thị khiến hai ông hoàng xao nhãng mà quên giúp đỡ cho đào kép.


Nhân đây xin nói luôn, theo ghi chép của nhà nghiên cứu Thy Hảo Trương Duy Huy về tượng ông làng: “Thường được đẽo bằng gỗ vông, lớn bằng bắp tay, gặp những tích tuồng có vai người mẹ sinh con, người ta đưa ông làng ra đóng bé sơ sinh, chứ không mượn trẻ con thật đóng tuồng”. Khi bàn về ông làng, y nhớ đến bài Vịnh hát bội Quảng Nam,  nhà thơ Tú Quỳ viết: “Nhỏ mà không học lớn làm ngang/ Trống đánh ba hồi đã thấy quan/ Ra rạp ngồi trên ba đứa hiệu/ Vào buồng đứng dưới cặp ông làng”. Về ông làng, ta đã biết, còn “ba đứa hiệu” là quân chạy hiệu, tức lính cầm cờ, sai đâu chạy đó, thuộc hạng lóc cóc leng keng. Sự đời cũng oái oăm thiệt, cũng vì câu thơ “Ra rạp ngồi trên ba đứa hiệu” mà ông Tú Quỳ mang họa vào thân.


Hiệu là tên của anh hùng Nguyễn Duy Hiệu (1847-1887) - lãnh tụ xuất sắc của phong trào Nghĩa Hội chống Pháp ở Quảng Nam. Có giai thoại, ông Hiệu đã sai lính về làng bắt Tú Quỳ lên hỏi tội vì câu thơ xách mé đó, nhưng rồi vì tiếc tài của một người giỏi chữ nên ông tha cho. Về sau, Tú Quỳ còn có dăm ba bài vè, văn tế chế giễu cuộc kháng chiến của nghĩa quân Cần vương. Nhà “Quảng Nam học” Nguyễn Văn Xuân bình luận: “Ở thời điểm này, ta chỉ có thể khép Tú Quỳ vào hạng người lạc hậu, bảo thủ và ông đã bị các nhà trí thức tiến bộ thời ấy khinh thường” (Thơ văn Tú Quỳ - NXB Văn hóa thông tin - 208, tr.256). Đây là chính là lý do khiến người đương thời không muốn nhắc đến Tú Quỳ nữa, về sau thơ văn của ông mai một dần, nay ít ai biết đến


Thế thì, vấn đề đặt ra ở đây là gì?


Với người cầm bút, ngoài cái tài/ tài năng còn là quan điểm, thế đứng, cách nhìn, sự lựa chọn, thái độ của họ về thời cuộc, về thời đại họ đang sống. Bằng không, văn chương chữ nghĩa dù tài hoa, dù hay bằng trời đi nữa, có là gì chăng? Thì đấy, chỉ đơn cử một hai thí dụ, ai dám bảo thơ văn của Tôn Thọ Tường không gấm thêu? Ai dám bảo kiến văn của Lê Tắc không giỏi? Thế nhưng đương thời, thời sau thiên hạ đã nhìn nhận họ bằng cái nhìn thế nào? “Rằng hay thì thật là hay”. Hóa ra, bản lĩnh sống, tư cách sống, thái độ sống của người cầm bút cũng quan trọng không kém gì tài năng trời cho, đúng không nào? Xét ra, cái nghề sống bằng chữ nghĩa nhọc nhằn và nặng nề lắm. Một người thợ làm xong cái bàn, cái ghế, cái tủ… sau khi bàn giao hoặc bán đi là xong. Nhẹ nhàng phủi tay. Không phải bận tâm gì nữa. Nhưng người cầm bút lại khác, rất khác. Với những gì đã viết, đã công bố dù một dòng, một chữ dẫu sau này đã chìm sâu dưới ba tấc đất, họ vẫn còn phải chịu trách nhiệm lấy nó.


Hãy quay trở lại với câu thơ của Lãng Ba vừa nêu trên: “Thì cũng do “nhưng” núp dựa màn”. Dám chắc rằng, chẳng mấy ai có thể giải thích được từ “nhưng”. Nó vô nghĩa? Nó sai moras. Nghĩ thế, bèn lật từ điển tra cứu xem sao. May quá, Đại Nam quấc âm tự vị (1895) giải thích: “Nhưng hát bội: Người thuộc tuồng làm thầy hát bội, thầy tuồng”. Vậy suy ra, “nhưng” cũng là “thầy tuồng”? Liệu chừng có đúng? Không hẳn đâu.


Một khi nói chắc nịch như thế ắt có người cãi. Dứt khoát sẽ cãi lại cho bằng được. Tránh cãi cọ lôi thôi, chi bằng hãy nghe chuyên gia hàng đầu nghiên cứu nghệ thuật hát bội là Tuần Lý Nguyễn Khắc Dụng giải thích: “Trong gánh hát bội, thầy tuồng là nhân vật quan trọng, cai quản nội bộ. Thầy tuồng là người thông chữ nho, biết đặt tuồng mới, soạn tuồng xưa, tập tuồng, sắp xếp cho có đầu đuôi, thứ lớp. Trong ban hát, ai cũng kính nể ông thầy tuồng”. Nói nôm na, thầy tuồng chính là soạn giả và kiêm luôn cả đạo diễn. “Nhân vật thứ hai, kế tiếp thầy tuồng là chú nhưng, chuyên việc nhắc tuồng cho diễn viên còn non nớt. Chú nhưng là một kép già lão luyện, thuộc hầu hết các tuồng thầy” (Hát bội - Nam Chi tùng thư XB năm 1970 - tr.326). Rõ ràng, “nhưng” chỉ là người nhắc tuồng.


“Làm vua làm tướng chi chi đó/ Thì cũng do “nhưng” núp dựa màn”. Câu thơ vọng lên tiếng cười xỏ xiên, châm biếm. Đọc xong, khiến ta lại nhớ đến… nghệ thuật chơi múa rối nước. Với con rối, mọi cử động của nó là do người chơi, núp phía sau điều khiển. Thật ra, thời buổi nào cũng có hạng người cầm bút chẳng khác gì con rối. Chữ nghĩa múa may quay cuồng những tưởng tâm huyết lắm, những tưởng đau đời lắm nhưng chỉ là cái loa phát thanh cho “nhưng” núp dựa màn, giấu mặt ở phía sau. Hạng cầm bút này, gọi là gì? Y không biết, chỉ biết văn hào Lỗ Tấn gọi loại người thuộc “nhị hoa diện”, nói nôm na là “anh hề nhì”. Khác với hề kiểu cũ ở chỗ: “Anh ta là trí thức. Anh ta biết chỗ dựa của mình là núi băng, nhất định không bền lâu, tương lai mình còn phải xu phụ người khác, cho nên được nuôi nấng, chia sẻ oai thừa, anh ta cũng phải giả vờ làm như mình không phải cùng một phường với tên công tử đó” (Lỗ Tấn tạp văn, bản dịch của Trương Chính - NXB VHTT - 2003, tr.511-512).


Có bàn luận gì thêm không?


Dạ, đã đủ rồi ạ.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 11.3.2019

1_minh_hoa_cho_thong_tin_BIA_4_

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 3.3.2019

 

nhatky-ngay-3.3.2019

 

Thiệt tréo ngoe không chịu được. Ai lại thế? Hết chuyện để ham hố rồi sao? Với các bà vợ hễ nghe chồng nói đến chuyện rượu chè “lai rai ba sợi” đã vội nhăn mặt. Nhăn thì nhăn. Cằn nhằn thì cằn nhằn. Nhưng rồi cũng khó có thể cấm tuyệt đối chồng phải bỏ bia rượu. Rằng, hễ nói đến đàn ông của thời buổi này, không phải quơ đũa cả nằm nhưng hầu hết họ đều biết… nhậu, khoái nhậu.

 

Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn” (Xuân Diệu): Nhậu. “Cuộc đời vui quá không buồn được” (Tuân Nguyễn): Nhậu. “Đừng buồn nhưng cũng đừng vui”(Hồ Dzếnh): Nhậu. Họ có một ngàn lẻ một lý do để nhậu, do đó, không thể không bàn đến chuyện này.

 

Y có người bạn thân thiết đã nhậu trong một tình huống cực kỳ hài hước. Ngày nọ, sau khi cùng mẹ vợ tất tả đưa vợ vào bệnh viện chờ sinh, làm xong mọi thủ tục, ngồi một mình với tâm trạng hồi hộp, náo nức bỗng dưng hắn ta lại khoái có chút men cho đời thêm tươi. Trời chiều, gió mát, vợ sắp chuyển dạ, cảm xúc dạt dào, tại sao lại không nhắn tin rủ bè bạn chung vui một niềm vui kỳ diệu nhất trên đời: sắp được là ba/tía/ bố? Nghĩ là làm. Sau khi dặn dò mẹ vợ đôi điều cần thiết, hắn ta tếch ra quán với lời tự nhủ: “Chỉ làm vài ve cho hưng phấn. Chớ có say. Nhớ đấy nhé. Quay về ngay”.

 

Khi vào quán nhậu cùng bồ tèo chiến hữu, lời tự nhủ này, tất nhiên là hắn nhớ. Chỉ uống cầm chừng. Thỉnh thoảng lại liếc nhìn đồng hồ, xem thời gian để còn quay lại bệnh viện chăm vợ. Ừ, vui quá xá là vui. Ai ai cũng nâng ly chúc mừng. Hắn hãnh diện ra mặt. Mũi phổng to như trái cà chua. Hắn huyên hoang tuyên bố: “Cỡ như tớ, các hãng thần dược sản xuất Viagra chỉ có nước phá sản, sập tiệm”. Câu nói duyên dáng tệ. Bè bạn vỗ tay ào ào. Lại nâng ly, nói như ngôn ngữ của đệ tử Lưu Linh là: “Trăm phần trăm Bắc Kạn”, chứ không việc gì phải… “Mộ Đức mức độ”. Thế là sau dăm ba lần thiệt hoành tráng, cực kỳ sung mãn, hắn quên tuốt luốt lời tự nhủ. Nói nào ngay, tàn cuộc nhậu thì hắn vẫn còn tỉnh táo. Rất tỉnh táo. Tỉnh táo đến độ lúc mở điện thoại ra đã… thấy hàng chục “cuộc gọi nhỡ” của mẹ vợ!

 

Thế đấy. Nhậu đến quắc cần câu, đến lúc quay lại bệnh viện thì cuộc vượt cạn mọi việc đã “mẹ tròn con vuông”, xong béng từ thuở nào rồi.

 

Tóm lại, chuyện mê nhậu của đàn ông là có thật. Thế thì sau đó, họ nghiến răng “phê bình và tự phê bình” là bỏ nhậu? Đùa dai thế. Vậy, vấn đề đặt ra ở đây, xin nói một cách nghiêm túc là nên nhậu ở đâu sau khi mái ấm vừa có trẻ sơ sinh? Khoan đã. Thử hỏi, cơn cớ gì mỗi lúc lai rai cùng bia bọt rượu chè nói chung, có kèm theo mồi gọi thì tiếng Việt gọi là nhậu?

 

Thử nêu ra một vài chứng cứ dù không lấy gì làm chắc chắn. Đại loại,  có thể từ “nhạo” mà ra chăng? Nhà ngôn ngữ học Lê Ngọc Trụ giải thích: “Nhạo: đồ đựng rượu có quay, có vòi như nhạo rượu, ly rượu”. Ca dao Nam trung bộ có câu: “Rượu hồng đào trút nhào vô nhạo/ Kiếm nơi nào nhơn đạo hơn anh”. Chưa hết, “Uổng công anh chùi nhạo xúc bình/ Tới chừng anh đến, phụ mẫu nhìn bà con”. Vậy là “xong phim”! Có quan hệ họ hàng với nhau thì yêu với đương cái khỉ gió gì nữa? Nói thật, trước kia, y cứ tưởng như không ít người cho rằng, nhậu là tiếng lóng phổ biến trong giới ăn nhậu, trải theo năm tháng, nó đã co chân nhảy một phát vào… Đại từ điển tiếng Việt (1999).  Oách quá. Nhưng thật ra nhầm tất.

 

Từ năm 1895, Đại Nam quấc âm tự vị đã ghi nhận: “Nhậu: Uống. Nhậu rượu: uống rượu; nhậu nước: uống nước; ăn nhậu: ăn, ăn uống”. Ngay cả Tự vị Annam- Phalangsa (1877) của J.M.J cũng đã giải thích tương tự. Thế thì, nhậu theo nghĩa ban đầu là “uống”, nay hàm nghĩa chỉ các cuộc lai rai với nước có men bất kể thời gian, tất nhiên không thể thiếu… mồi. Nói như dân chèo miền biển Nam bộ khoái nhất vẫn là: “Gió lên rồi căng buồm cho sướng/ Gác chèo lên, ta nướng khô khoai/ Nhậu cho tiêu hết mấy chai/ Bỏ ghe nghiêng ngửa không ai chống chèo”.

 

Mà thôi. Hãy trở lại với câu hỏi: “Sau khi mái ấm vừa có trẻ sơ sinh nên nhậu ở đâu?”. Với câu hỏi này, tin chắc rằng, ai ai cũng bảo là nên ra quán. Thứ nhất, vợ mới sinh cần có khoảng không gian yên tĩnh, nghỉ ngơi; thứ hai, trẻ sơ sinh không thể chịu được tiếng nói ồn ào của bợm nhậu. Mà nhậu ở quán thì tha hồ bốc phét, nói năng rổn rảng và (xin lỗi) nếu có lỡ… lời nói tục cũng chẳng sao. Lại có một điều kỳ cục là khi nhậu ngoài quán, tự dưng ta cảm thấy hưng phấn hơn, uống bia được nhiều hơn và nói năng cũng thỏa mái hơn vì chẳng gì phải ý tứ uốn lưỡi bảy lần trước khi nói như… ở nhà! Đã thế, còn có thể tha hồ lơi lả lả lơi thả cái nhìn lang thang lướt ngang qua vóc dáng mỹ miều từ vòng A đến Z của cô nàng chân dài váy ngắn đang tiếp thị bia mơn mởn xuân tình lượn lờ trước mặt, không phải lơ láo láo nháo cảnh giác trước sau. Khoái là thế.

 

Ban đầu y cũng nghĩ thế.

 

Nhưng rồi, lần nọ cô vợ bé bỏng cười mà rằng: “Lần sau, nếu thích, anh cứ rủ bạn bè thân thiết về nhà nhậu chơi vẫn tốt hơn”. Ơ hay, tại sao lại tốt hơn? Khoan vội trả lời, xin hỏi thế nào là thân thiết? Không riêng gì Sài Gòn, có thể nói, thời buổi này thiên hạ ít mời ai về nhà nhậu. Nếu cần, cứ ra quán. Sau đó, mạnh ai nấy về, chẳng ai làm phiền ai. Ra khỏi quán là xong, chẳng còn gì vướng bận. “Anh đi đường anh, tôi đường tôi” (Thế Lữ). Vậy là xong.

 

Nếu mời về nhà, nói thật phải là bồ tèo chiến hữu chí cốt đã từng gắn bó lâu dài. Có những người bạn, gặp ngoài quán thì OK ngay, nhưng mời đến nhà thì chưa chắc. Nói cách khác, lúc ấy, chỉ những ai được mời đến nhà là gia chủ đã có chọn lọc tùy theo mối quan hệ. Vâng, phải là nhậu với bạn bè thân thiết vì chỉ khi ở nhà thì câu chuyện mới thật sự thân mật và mỗi lời phát ngôn đều cẩn trọng, không thể ba lơn, bá láp như lúc túm tụm đàn đúm của bạn lẫn bè ngoài quán nhậu. Ít ra, lúc nói năng còn phải giữ lời vì biết đâu lọt vào tai “gấu mẹ vĩ đại” của gia chủ thì phiền.

 

Vâng, ạ. Đồng ý và nhất trí. Nhưng lý lẽ “tốt hơn” như lời cô vợ vừa phát biểu, ta hiểu ra làm sao?

 

Dần dà, y mới nhận ra rằng, sau khoảng thời gian sinh, người phụ nữ chỉ ru rú ở nhà chăm con, họ đã những thay đổi về tâm lý. Trước hết, họ có nhu cầu cần được trò chuyện, nói chuyện, chia sẻ, tâm tình về kinh nghiệm nuôi con với nhiều người. Đành rằng, thời đại “4.0” này, chỉ cần một cú click chuột trên bàn phím, một cái lướt ngón tay trên điện thoại di động cũng tìm kiếm được biết bao thông tin.

 

Vẫn chưa đủ.

 

Họ còn muốn được nói, được tranh cãi, bổ sung thêm khi soi rọi với kinh nghiệm của chính mình. Cũng có thể những câu chuyện ấy họ đã biết, đã đọc đâu đó nhưng nay nghe bạn bè nhắc lại, kể lại đúng y chang mà họ vẫn thích thú. Rồi những tâm tình trên bàn nhậu với chuyện thời sự đang diễn ra, các câu bình luận nọ kia cũng khiến họ ngạc nhiên hoặc gật gù: “Ủa, có chuyện đó à? À, em chuyện đó cũng vừa đọc trên web”. Đại khái thế. Họ cần thông tin. Mà thông tin ấy là từ bạn bè để tạo ra một cuộc trò chuyện cởi mở. Có người nói, có người nghe, chứ không phải tiếp nhận thụ động một chiều. Nói tắt một lời, suốt một ngày ở nhà vật lộn với bé sơ sinh một cách “đúng quy trình” - dù hạnh phúc hân hoan, dù tẻ nhạt đi nữa thì họ cũng cần nghe nhiều, thêm nhiều tiếng nói cho rộn cửa vui nhà.

 

Thế nhưng vẫn chưa quan trọng bằng nhu cầu họ cần được nói. Ừ, thì nói đi. Nào ai cấm cản. Nhưng rồi, trong nhà chỉ có hai vợ chồng thì mỗi ngày chỉ vỏn vẹn chừng ấy âm thanh, chừng ấy câu chuyện. Nay có thêm bạn bè thân thiết của chồng/ vợ đến chơi nhà há chẳng phải rôm rã hơn sao?

 

Mà này, chỉ có mỗi một cô vợ cần có nhu cầu ấy thôi à? Không, còn có thêm cả… người chồng nữa. Vì rằng, sau khi đã có bé sơ sinh mấy ai có thể an tâm tếch ra quán bù khú như trước, phải chôn chân quanh quẩn từ ngoài sân đến xó bếp. Vẽ vang thay, họ đã hoàn thành xuất sắc vai trò vú em thời hiện đại @ mà cửa nhà neo đơn, chỉ mỗi vợ với chồng phải chăm bé:

 

Tuy nhiên không chỉ có thế.

 

Lúc bỉm sữa toàn tâm toàn ý lo cho bé sơ sinh, cần bạn bè đến chơi nhà, ngoài vợ lẫn chồng còn có thêm ai nữa? Thì… bé nhóc đang oe óe trong nôi chứ ai. Ủa, thế à? Tại sao lại thế? Ngộ quá đi thôi. Sẽ nói sau. Nhưng trước mắt y dám quả quyết một điều nghiêm túc, rằng, khi bạn có con, chính bé là người khiến bạn quyết định xác lập lại mối quan hệ bạn bè lâu nay đã có.

 

Liệu có đúng không?

 

Thưa rằng, y đã từng có dăm ba người bạn thân thiết, theo cách nói Quảng Nam của bà nội bé nhóc thì người bạn ấy và y đã quen biết từ thời “Bảo Đại còn cởi truồng tắm mưa”. Vậy mà khi từ quê vào Sài Gòn chơi, hay tin, mừng quá, bèn mời về nhà nhậu cho vui, bạn chỉ nằng nặc đòi ra quán, chứ không ghé lại nhà. Đó là bạn hay bè? Thưa rằng, y đã có có dăm ba người bạn thân thiết, theo cách nói của nhà thơ Hồng Nguyên: “Quen nhau từ buổi “Một hai”/ Súng bắn chưa quen/ Quân sự mươi bài/ Lòng vẫn cười vui kháng chiến”. Vậy mà ngày đầy tháng bé nhóc, y mời đến nhà chung vui, bạn chỉ nằng nặc đòi ra quán, chứ không ghé lại nhà. Đó là bạn hay bè?

 

Thời buổi này, thông qua danh sách trên điện thoại di động, có thể xác định xác định mối quan hệ của từng người. Vì rằng, danh sách đó không bao giờ “dẫm chân tại chỗ”. Thỉnh thoảng lại thay đổi. Xóa đi. Bổ sung thêm. Có những buổi chiều đẹp trời, ngồi một mình đang rỗi việc nên chàng nọ/ cô kia tẩn mẩn ngồi xem lại danh sách trên chiếc điện thoại - dù “cục gạch”, “cùi bắp” hoặc smartphone đi nữa thì họ cũng có động tác delete rất đỗi nhẹ nhàng. Đơn giản chỉ vì số điện thoại đó lâu nay không gọi tới, ngược lại, mình cũng không có nhu cầu gọi đi. Vậy xóa quách cho nhẹ máy chăng? Tại sao không? Một số điện thoại đã xóa đi, không chỉ là xóa một chuỗi con số vô hồn, còn là hành động dứt khoát xóa đi mối quan hệ với một con người.

 

Từ lúc trong nhà có bé sơ sinh, y cũng đã xóa dần.

 

Mà thôi, không dài dòng nữa. Không khéo “lạc đề” đang bàn.

 

Ừ, cái chuyện bé nhóc thích bạn bè của ba mẹ ghé chơi nhà là sao? Khó có thể phân tích một cách rạch ròi theo chuyên môn y khoa, y chỉ cảm nhận trăm lần như một, hễ những lúc cửa nhà đông đúc mọi người, âm thanh vui nhộn, ồn ào như vỡ chợ thì đứa bé khác hẵn mọi ngày. Khác hẵn lúc trong nhà chỉ có ba và mẹ. Đó là lúc hoặc khóc nhiều hơn hoặc bé “nói” nhiều hơn. Dù thế nào đi nữa thì bé vẫn hoạt bát hơn, sống động hơn, tay chân cử động nhiều hơn và thích nhất là bé “mồm mép tép nhảy” như đang đón nhận, muốn bày tỏ một điều mới mẻ nào đó. Rạng rỡ, tươi vui ra mặt. Nói như bạn thơ Trương Nam Hương và Đoàn Tuấn: “Trông bé “phởn”lắm lắm”.

 

Điều này, có lợi cho sự phát triển của bé nhóc chăng? Y tin là thế. Nếu một đứa trẻ như Tặc Zăng sống giữa rừng già, như Mai An Tiêm, Robinson lạc trên đảo hoang liệu có nhanh biết nói như bé được sống chung trong một cộng đồng rộn rã sắc âm thanh? Cô vợ của y tinh tế quá đi thôi, đã nhận ra điều đó nên mới thì thà thì thầm tâm tình một câu rõ nhớ: “Lần sau, nếu thích, anh cứ rủ bạn bè thân thiết về nhà nhậu chơi vẫn tốt hơn”. Vâng ạ, nói như cụ Nguyễn Du: “Được lời như cởi tấm lòng”.

 

Há chẳng sướng lắm sao?

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC:Nhật ký 19.2.2019

tyho-nguyn-tieu-2019

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 2 trong tổng số 57

trinhduyson