LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 19.3.2019

scan0001-125-247x396

 

Tự dưng chiều nay lại nhớ đến đến ông bạn già - nhà thơ Phạm Thiên Thư. Đã lâu, chừng hơn mươi năm trước đang thất tình thất điên bát đảo, lên bờ xuống ruộng, trần ai khoai củ, tóm lại là đang buồn nên lúc ấy thường vác xác lên nhà ông tìm nơi tâm tình. Có những lúc ông an ủi bằng cách đưa ra chừng dăm quyển vở học trò chép đầy thơ. “Q đọc đi”. Bèn đọc. Những bài thơ này, ông chép tay như nét chữ học trò. Rõ ràng. Dễ đọc. Gió chiều lồng lộng. Đường vắng. Quán cà phê Hoa Vàng. “Rằng, xưa có gã từ quan/ Lên non tìm động hoa vàng nhớ nhau”. Tên quán là lấy theo câu thơ của chính ông. Thời điểm này, Phạm Thiên Thư đã “lậm” sâu vào phương pháp dưỡng sinh với tên gọi “phathata” do ông sáng lập. Đại khái, ông chủ trương: “Luôn biết mình dốt/ Để gọt tính kiêu/ Để yêu như mới/ Để cởi mối hiềm/ Để thêm tinh tiến”.


Và cũng vì say mê cuồng nhiệt, trung thành với phương châm này, ông đã viết nhiều bài thơ tứ tuyệt. Mỗi lần ghé chơi, ông thường đưa ra cho đọc. Sau đó, dần dà y ít lui tới. Tại sao thế? Đơn giản chì vì vết thương lòng đã lành, đã có thể vi vu trăng hoa tình ái với cảm hứng yêu đời dào dạt, yêu người da diết nên y đã… quên béng ông bạn già. Thế đấy. Có những nơi khi rầu rầu tâm sự, buồn buồn sương khói ta thường tìm đến; ngoặt một cái, lúc giông gió đã qua, biển đã yên, sóng đã lặng, ô hô, ta lại chẳng thèm nhớ đến nữa. Tệ đến thế là cùng.


Chẳng sao. Vẫn còn có cách “sửa sai”, ấy là bằng mọi cách lục lọi lại tập sách Từ điển cười Tiếu liệu pháp của Phạm Thiên Thư - bao gồm những bài thơ mà ngày ấy, y đã từng đọc. Nay, đọc một lèo và cảm thấy khoái! Trên cõi đời, nếu được cười một cách sảng khoái, còn gì thú bằng? Ngược lại, đã cười mà cười gượng gạo đành lòng, cam chịu nhưng tỏ ra vui vẻ thì còn gì là cười?


Sực nhớ, trong một truyện ngắn nọ, nhà văn Nguyễn Công Hoan kể lại có anh chàng dân đen được quan trên cử đi trừ bọn cướp. Với  lòng quả cảm, nghĩa hiệp anh ta đã khám phá ra ổ trộm, nhờ đó, làng xóm bình yên. Sự thành công này rực rỡ đến độ cô vợ anh… phải góa chồng. Tất nhiên, quan lớn hứa thưởng công, đền bù công lao xứng đáng của một người bỏ mạng vì việc làng, việc nước. Cũng an ủi phần nào, vì sau khi chồng chết gia đình ngày càng túng quẫn, kiệt quệ. Chờ đợi mãi, dăm ba tháng sau, mừng quá chị nhận tờ sức của ông lý trưởng. Mời đi nhận tiền thưởng? Không, mời nhận cái bằng… truy tặng cửu phẩm bá hộ! Ấy là ngậm cười chăng?


Nếu người khác chỉ viết làm dăm ba bài thơ trào phúng để cười cho đỡ buồn, ông Phạm Thiên Thư đã làm hẳn một cuốn sách dày trên 1.000 trang. Nội lực sáng tạo và lao động bền bỉ về cái cái cười cỡ này, thiệt đáng nể. Thế thì cười là gì? Để trả lời, chỉ có thể viết luôn một quyển sách, chẳng hạn trước kia, bác sĩ Dương Tấn Tươi có viết quyển Cười (nguyên nhân và thực chất) in năm 1968, dày 370 trang, nay cũng thuộc loại quý hiếm mà chơi sách cũ săn lùng dữ lắm.


Thế nào là cười? Trước mắt, ta hãy lấy định nghĩa ngắn gọn của Việt Nam tự điển do Hội Khai trí tiến đức khởi thảo năm 1931: “Nhách môi, há miệng lộ sự vui vẻ hay ý tứ gì ra”. Trước đó nữa, Đại Nam quấc âm tự vị (1895) giải thích: “Ấy là cách hả miệng, nhích mép, hoặc có tiếng hoặc không có tiếng, tỏ ra mình vui vẻ hay có ý gì. Cũng có nghĩa là chê bai: Nó cười tôi”. Có lẽ, “định nghĩa” chuẩn nhất về cười, theo y, thuộc về ông Rabelais - một nhân vật đồ sộ của thời Phục hưng: “ Thay vì bàn đến khóc, tốt hơn là viết về cười, vì cười là đặc tính của con người”. Đúng thế, không con vật biết nào biết cười, chỉ có con người.


Tuy nhiên, y biết có một con bò cũng biết cười là khi nó được… xuất hiện trên bao mì pho mát Pháp. Hình ảnh ngộ nghĩnh, vui tươi, dễ gây thiện cảm. Con bò đó cười thế nào? Chắc chắn không phải là kiểu cười mà ông Phạm Thiên Thư đã miêu tả: “Tức quá gằn lên một tiếng cười/ Cười như ngầm dọa: “Biết tay thôi/ Cười ông- có lúc ông cười lại/ Cười lại là bay chết bỏ đời!”. Cười này là cười gằn.


Đã lâu, lâu lắm rồi, có đọc bài thơ tứ tuyệt xưa lắc xưa lơ, xét ra là một lối cười xỏ xiên thâm trầm, ý vị, nay chép lại cho vui. Vui là tốt rồi, được thế đã là may, còn hơn phải chìm đắm trong lo âu sầu não. Bài thơ này của ông thi sĩ Lãng Ba. Thơ rằng: “Sân khấu hẹp hòi múa hát vang/ Ăn lương bầu gánh sợ ông làng/ Làm vua làm tướng chi chi đó/ Thì cũng do “nhưng” núp dựa màn”. Xét về câu chữ, rõ ràng tác giả là người miền Nam. Thử hỏi, câu cuối có từ “nhưng”, vậy nghĩa là gì? Ta bàn sau. Dám nói rằng, ông làng là cách gọi chung về ông tổ hát bội. Nhiều từ điển và sách vở xưa nay đã giải thích rành rành. Liệu chừng có đúng? Không hẳn đâu.


Một khi nói chắc nịch như thế ắt có người cãi. Dứt khoát sẽ cãi lại cho bằng được. Tránh cãi cọ lôi thôi, chi bằng hãy nghe chuyên gia hàng đầu nghiên cứu nghệ thuật hát bội là GS Hoàng Châu Ký giải thích: “Ông làng là những tượng nhỏ được thờ với các vị tổ trong những gánh hát bội ngày xưa. Trên bàn thờ tổ có một cái tráp gỗ sơn đỏ, có cửa mở đóng, bên trong có mười tượng gỗ nhỏ, đầu bịt khăn đỏ, mình mặc áo lục, là tượng các vị tổ của nghề hát bội. Trước mười tượng này lại có hai tượng khác cũng khăn áo như vậy nhưng đứng hai bên chiếc ngai, đó là hai ông làng hát bội” (Tự điển nghệ thuật hát bộ Việt Nam, Nguyễn Lộc chủ biên- NXB KHXH Hà Nội - 1998, tr.448).


Rõ ràng ông làng chỉ được thờ chung chứ không phải ông tổ hát bội. Thế nhưng xưa này người ta vẫn gọi và xếp chung vào hàng ông tổ, xét ra thiệt… éo le! Mà cũng phải thôi, theo truyền thuyết ông làng vốn là hai hoàng tử trẻ con, hỉ  mũi chưa sạch, mặt búng ra sữa, còn ham chơi và cực kỳ mê hát bội. Một hôm dù đang ốm nhưng cả hai vẫn trốn đi xem hát, núp một chỗ không ai nhìn thấy, bị cảm lạnh rồi chết. Đáng khen là sau đó, hai ông hoàng này luôn phù hộ cho các gánh hát bội nói chung nên từ đó về sau, đào kép đã thờ họ cùng với ông tổ. Từ “ông hoàng”, trải qua năm tháng đã dần dần nói trại thành “ông làng”. Do còn trẻ con nên hai ông hoàng này… khoái mùi thơm của trái thị, vì lẽ đó, ngày xưa người ta kiêng kỵ đem trái thị vào giàn hát/ rạp hát là vậy, vì rằng, mùi thơm của trái thị khiến hai ông hoàng xao nhãng mà quên giúp đỡ cho đào kép.


Nhân đây xin nói luôn, theo ghi chép của nhà nghiên cứu Thy Hảo Trương Duy Huy về tượng ông làng: “Thường được đẽo bằng gỗ vông, lớn bằng bắp tay, gặp những tích tuồng có vai người mẹ sinh con, người ta đưa ông làng ra đóng bé sơ sinh, chứ không mượn trẻ con thật đóng tuồng”. Khi bàn về ông làng, y nhớ đến bài Vịnh hát bội Quảng Nam,  nhà thơ Tú Quỳ viết: “Nhỏ mà không học lớn làm ngang/ Trống đánh ba hồi đã thấy quan/ Ra rạp ngồi trên ba đứa hiệu/ Vào buồng đứng dưới cặp ông làng”. Về ông làng, ta đã biết, còn “ba đứa hiệu” là quân chạy hiệu, tức lính cầm cờ, sai đâu chạy đó, thuộc hạng lóc cóc leng keng. Sự đời cũng oái oăm thiệt, cũng vì câu thơ “Ra rạp ngồi trên ba đứa hiệu” mà ông Tú Quỳ mang họa vào thân.


Hiệu là tên của anh hùng Nguyễn Duy Hiệu (1847-1887) - lãnh tụ xuất sắc của phong trào Nghĩa Hội chống Pháp ở Quảng Nam. Có giai thoại, ông Hiệu đã sai lính về làng bắt Tú Quỳ lên hỏi tội vì câu thơ xách mé đó, nhưng rồi vì tiếc tài của một người giỏi chữ nên ông tha cho. Về sau, Tú Quỳ còn có dăm ba bài vè, văn tế chế giễu cuộc kháng chiến của nghĩa quân Cần vương. Nhà “Quảng Nam học” Nguyễn Văn Xuân bình luận: “Ở thời điểm này, ta chỉ có thể khép Tú Quỳ vào hạng người lạc hậu, bảo thủ và ông đã bị các nhà trí thức tiến bộ thời ấy khinh thường” (Thơ văn Tú Quỳ - NXB Văn hóa thông tin - 208, tr.256). Đây là chính là lý do khiến người đương thời không muốn nhắc đến Tú Quỳ nữa, về sau thơ văn của ông mai một dần, nay ít ai biết đến


Thế thì, vấn đề đặt ra ở đây là gì?


Với người cầm bút, ngoài cái tài/ tài năng còn là quan điểm, thế đứng, cách nhìn, sự lựa chọn, thái độ của họ về thời cuộc, về thời đại họ đang sống. Bằng không, văn chương chữ nghĩa dù tài hoa, dù hay bằng trời đi nữa, có là gì chăng? Thì đấy, chỉ đơn cử một hai thí dụ, ai dám bảo thơ văn của Tôn Thọ Tường không gấm thêu? Ai dám bảo kiến văn của Lê Tắc không giỏi? Thế nhưng đương thời, thời sau thiên hạ đã nhìn nhận họ bằng cái nhìn thế nào? “Rằng hay thì thật là hay”. Hóa ra, bản lĩnh sống, tư cách sống, thái độ sống của người cầm bút cũng quan trọng không kém gì tài năng trời cho, đúng không nào? Xét ra, cái nghề sống bằng chữ nghĩa nhọc nhằn và nặng nề lắm. Một người thợ làm xong cái bàn, cái ghế, cái tủ… sau khi bàn giao hoặc bán đi là xong. Nhẹ nhàng phủi tay. Không phải bận tâm gì nữa. Nhưng người cầm bút lại khác, rất khác. Với những gì đã viết, đã công bố dù một dòng, một chữ dẫu sau này đã chìm sâu dưới ba tấc đất, họ vẫn còn phải chịu trách nhiệm lấy nó.


Hãy quay trở lại với câu thơ của Lãng Ba vừa nêu trên: “Thì cũng do “nhưng” núp dựa màn”. Dám chắc rằng, chẳng mấy ai có thể giải thích được từ “nhưng”. Nó vô nghĩa? Nó sai moras. Nghĩ thế, bèn lật từ điển tra cứu xem sao. May quá, Đại Nam quấc âm tự vị (1895) giải thích: “Nhưng hát bội: Người thuộc tuồng làm thầy hát bội, thầy tuồng”. Vậy suy ra, “nhưng” cũng là “thầy tuồng”? Liệu chừng có đúng? Không hẳn đâu.


Một khi nói chắc nịch như thế ắt có người cãi. Dứt khoát sẽ cãi lại cho bằng được. Tránh cãi cọ lôi thôi, chi bằng hãy nghe chuyên gia hàng đầu nghiên cứu nghệ thuật hát bội là Tuần Lý Nguyễn Khắc Dụng giải thích: “Trong gánh hát bội, thầy tuồng là nhân vật quan trọng, cai quản nội bộ. Thầy tuồng là người thông chữ nho, biết đặt tuồng mới, soạn tuồng xưa, tập tuồng, sắp xếp cho có đầu đuôi, thứ lớp. Trong ban hát, ai cũng kính nể ông thầy tuồng”. Nói nôm na, thầy tuồng chính là soạn giả và kiêm luôn cả đạo diễn. “Nhân vật thứ hai, kế tiếp thầy tuồng là chú nhưng, chuyên việc nhắc tuồng cho diễn viên còn non nớt. Chú nhưng là một kép già lão luyện, thuộc hầu hết các tuồng thầy” (Hát bội - Nam Chi tùng thư XB năm 1970 - tr.326). Rõ ràng, “nhưng” chỉ là người nhắc tuồng.


“Làm vua làm tướng chi chi đó/ Thì cũng do “nhưng” núp dựa màn”. Câu thơ vọng lên tiếng cười xỏ xiên, châm biếm. Đọc xong, khiến ta lại nhớ đến… nghệ thuật chơi múa rối nước. Với con rối, mọi cử động của nó là do người chơi, núp phía sau điều khiển. Thật ra, thời buổi nào cũng có hạng người cầm bút chẳng khác gì con rối. Chữ nghĩa múa may quay cuồng những tưởng tâm huyết lắm, những tưởng đau đời lắm nhưng chỉ là cái loa phát thanh cho “nhưng” núp dựa màn, giấu mặt ở phía sau. Hạng cầm bút này, gọi là gì? Y không biết, chỉ biết văn hào Lỗ Tấn gọi loại người thuộc “nhị hoa diện”, nói nôm na là “anh hề nhì”. Khác với hề kiểu cũ ở chỗ: “Anh ta là trí thức. Anh ta biết chỗ dựa của mình là núi băng, nhất định không bền lâu, tương lai mình còn phải xu phụ người khác, cho nên được nuôi nấng, chia sẻ oai thừa, anh ta cũng phải giả vờ làm như mình không phải cùng một phường với tên công tử đó” (Lỗ Tấn tạp văn, bản dịch của Trương Chính - NXB VHTT - 2003, tr.511-512).


Có bàn luận gì thêm không?


Dạ, đã đủ rồi ạ.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 11.3.2019

1_minh_hoa_cho_thong_tin_BIA_4_

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 3.3.2019

 

nhatky-ngay-3.3.2019

 

Thiệt tréo ngoe không chịu được. Ai lại thế? Hết chuyện để ham hố rồi sao? Với các bà vợ hễ nghe chồng nói đến chuyện rượu chè “lai rai ba sợi” đã vội nhăn mặt. Nhăn thì nhăn. Cằn nhằn thì cằn nhằn. Nhưng rồi cũng khó có thể cấm tuyệt đối chồng phải bỏ bia rượu. Rằng, hễ nói đến đàn ông của thời buổi này, không phải quơ đũa cả nằm nhưng hầu hết họ đều biết… nhậu, khoái nhậu.

 

Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn” (Xuân Diệu): Nhậu. “Cuộc đời vui quá không buồn được” (Tuân Nguyễn): Nhậu. “Đừng buồn nhưng cũng đừng vui”(Hồ Dzếnh): Nhậu. Họ có một ngàn lẻ một lý do để nhậu, do đó, không thể không bàn đến chuyện này.

 

Y có người bạn thân thiết đã nhậu trong một tình huống cực kỳ hài hước. Ngày nọ, sau khi cùng mẹ vợ tất tả đưa vợ vào bệnh viện chờ sinh, làm xong mọi thủ tục, ngồi một mình với tâm trạng hồi hộp, náo nức bỗng dưng hắn ta lại khoái có chút men cho đời thêm tươi. Trời chiều, gió mát, vợ sắp chuyển dạ, cảm xúc dạt dào, tại sao lại không nhắn tin rủ bè bạn chung vui một niềm vui kỳ diệu nhất trên đời: sắp được là ba/tía/ bố? Nghĩ là làm. Sau khi dặn dò mẹ vợ đôi điều cần thiết, hắn ta tếch ra quán với lời tự nhủ: “Chỉ làm vài ve cho hưng phấn. Chớ có say. Nhớ đấy nhé. Quay về ngay”.

 

Khi vào quán nhậu cùng bồ tèo chiến hữu, lời tự nhủ này, tất nhiên là hắn nhớ. Chỉ uống cầm chừng. Thỉnh thoảng lại liếc nhìn đồng hồ, xem thời gian để còn quay lại bệnh viện chăm vợ. Ừ, vui quá xá là vui. Ai ai cũng nâng ly chúc mừng. Hắn hãnh diện ra mặt. Mũi phổng to như trái cà chua. Hắn huyên hoang tuyên bố: “Cỡ như tớ, các hãng thần dược sản xuất Viagra chỉ có nước phá sản, sập tiệm”. Câu nói duyên dáng tệ. Bè bạn vỗ tay ào ào. Lại nâng ly, nói như ngôn ngữ của đệ tử Lưu Linh là: “Trăm phần trăm Bắc Kạn”, chứ không việc gì phải… “Mộ Đức mức độ”. Thế là sau dăm ba lần thiệt hoành tráng, cực kỳ sung mãn, hắn quên tuốt luốt lời tự nhủ. Nói nào ngay, tàn cuộc nhậu thì hắn vẫn còn tỉnh táo. Rất tỉnh táo. Tỉnh táo đến độ lúc mở điện thoại ra đã… thấy hàng chục “cuộc gọi nhỡ” của mẹ vợ!

 

Thế đấy. Nhậu đến quắc cần câu, đến lúc quay lại bệnh viện thì cuộc vượt cạn mọi việc đã “mẹ tròn con vuông”, xong béng từ thuở nào rồi.

 

Tóm lại, chuyện mê nhậu của đàn ông là có thật. Thế thì sau đó, họ nghiến răng “phê bình và tự phê bình” là bỏ nhậu? Đùa dai thế. Vậy, vấn đề đặt ra ở đây, xin nói một cách nghiêm túc là nên nhậu ở đâu sau khi mái ấm vừa có trẻ sơ sinh? Khoan đã. Thử hỏi, cơn cớ gì mỗi lúc lai rai cùng bia bọt rượu chè nói chung, có kèm theo mồi gọi thì tiếng Việt gọi là nhậu?

 

Thử nêu ra một vài chứng cứ dù không lấy gì làm chắc chắn. Đại loại,  có thể từ “nhạo” mà ra chăng? Nhà ngôn ngữ học Lê Ngọc Trụ giải thích: “Nhạo: đồ đựng rượu có quay, có vòi như nhạo rượu, ly rượu”. Ca dao Nam trung bộ có câu: “Rượu hồng đào trút nhào vô nhạo/ Kiếm nơi nào nhơn đạo hơn anh”. Chưa hết, “Uổng công anh chùi nhạo xúc bình/ Tới chừng anh đến, phụ mẫu nhìn bà con”. Vậy là “xong phim”! Có quan hệ họ hàng với nhau thì yêu với đương cái khỉ gió gì nữa? Nói thật, trước kia, y cứ tưởng như không ít người cho rằng, nhậu là tiếng lóng phổ biến trong giới ăn nhậu, trải theo năm tháng, nó đã co chân nhảy một phát vào… Đại từ điển tiếng Việt (1999).  Oách quá. Nhưng thật ra nhầm tất.

 

Từ năm 1895, Đại Nam quấc âm tự vị đã ghi nhận: “Nhậu: Uống. Nhậu rượu: uống rượu; nhậu nước: uống nước; ăn nhậu: ăn, ăn uống”. Ngay cả Tự vị Annam- Phalangsa (1877) của J.M.J cũng đã giải thích tương tự. Thế thì, nhậu theo nghĩa ban đầu là “uống”, nay hàm nghĩa chỉ các cuộc lai rai với nước có men bất kể thời gian, tất nhiên không thể thiếu… mồi. Nói như dân chèo miền biển Nam bộ khoái nhất vẫn là: “Gió lên rồi căng buồm cho sướng/ Gác chèo lên, ta nướng khô khoai/ Nhậu cho tiêu hết mấy chai/ Bỏ ghe nghiêng ngửa không ai chống chèo”.

 

Mà thôi. Hãy trở lại với câu hỏi: “Sau khi mái ấm vừa có trẻ sơ sinh nên nhậu ở đâu?”. Với câu hỏi này, tin chắc rằng, ai ai cũng bảo là nên ra quán. Thứ nhất, vợ mới sinh cần có khoảng không gian yên tĩnh, nghỉ ngơi; thứ hai, trẻ sơ sinh không thể chịu được tiếng nói ồn ào của bợm nhậu. Mà nhậu ở quán thì tha hồ bốc phét, nói năng rổn rảng và (xin lỗi) nếu có lỡ… lời nói tục cũng chẳng sao. Lại có một điều kỳ cục là khi nhậu ngoài quán, tự dưng ta cảm thấy hưng phấn hơn, uống bia được nhiều hơn và nói năng cũng thỏa mái hơn vì chẳng gì phải ý tứ uốn lưỡi bảy lần trước khi nói như… ở nhà! Đã thế, còn có thể tha hồ lơi lả lả lơi thả cái nhìn lang thang lướt ngang qua vóc dáng mỹ miều từ vòng A đến Z của cô nàng chân dài váy ngắn đang tiếp thị bia mơn mởn xuân tình lượn lờ trước mặt, không phải lơ láo láo nháo cảnh giác trước sau. Khoái là thế.

 

Ban đầu y cũng nghĩ thế.

 

Nhưng rồi, lần nọ cô vợ bé bỏng cười mà rằng: “Lần sau, nếu thích, anh cứ rủ bạn bè thân thiết về nhà nhậu chơi vẫn tốt hơn”. Ơ hay, tại sao lại tốt hơn? Khoan vội trả lời, xin hỏi thế nào là thân thiết? Không riêng gì Sài Gòn, có thể nói, thời buổi này thiên hạ ít mời ai về nhà nhậu. Nếu cần, cứ ra quán. Sau đó, mạnh ai nấy về, chẳng ai làm phiền ai. Ra khỏi quán là xong, chẳng còn gì vướng bận. “Anh đi đường anh, tôi đường tôi” (Thế Lữ). Vậy là xong.

 

Nếu mời về nhà, nói thật phải là bồ tèo chiến hữu chí cốt đã từng gắn bó lâu dài. Có những người bạn, gặp ngoài quán thì OK ngay, nhưng mời đến nhà thì chưa chắc. Nói cách khác, lúc ấy, chỉ những ai được mời đến nhà là gia chủ đã có chọn lọc tùy theo mối quan hệ. Vâng, phải là nhậu với bạn bè thân thiết vì chỉ khi ở nhà thì câu chuyện mới thật sự thân mật và mỗi lời phát ngôn đều cẩn trọng, không thể ba lơn, bá láp như lúc túm tụm đàn đúm của bạn lẫn bè ngoài quán nhậu. Ít ra, lúc nói năng còn phải giữ lời vì biết đâu lọt vào tai “gấu mẹ vĩ đại” của gia chủ thì phiền.

 

Vâng, ạ. Đồng ý và nhất trí. Nhưng lý lẽ “tốt hơn” như lời cô vợ vừa phát biểu, ta hiểu ra làm sao?

 

Dần dà, y mới nhận ra rằng, sau khoảng thời gian sinh, người phụ nữ chỉ ru rú ở nhà chăm con, họ đã những thay đổi về tâm lý. Trước hết, họ có nhu cầu cần được trò chuyện, nói chuyện, chia sẻ, tâm tình về kinh nghiệm nuôi con với nhiều người. Đành rằng, thời đại “4.0” này, chỉ cần một cú click chuột trên bàn phím, một cái lướt ngón tay trên điện thoại di động cũng tìm kiếm được biết bao thông tin.

 

Vẫn chưa đủ.

 

Họ còn muốn được nói, được tranh cãi, bổ sung thêm khi soi rọi với kinh nghiệm của chính mình. Cũng có thể những câu chuyện ấy họ đã biết, đã đọc đâu đó nhưng nay nghe bạn bè nhắc lại, kể lại đúng y chang mà họ vẫn thích thú. Rồi những tâm tình trên bàn nhậu với chuyện thời sự đang diễn ra, các câu bình luận nọ kia cũng khiến họ ngạc nhiên hoặc gật gù: “Ủa, có chuyện đó à? À, em chuyện đó cũng vừa đọc trên web”. Đại khái thế. Họ cần thông tin. Mà thông tin ấy là từ bạn bè để tạo ra một cuộc trò chuyện cởi mở. Có người nói, có người nghe, chứ không phải tiếp nhận thụ động một chiều. Nói tắt một lời, suốt một ngày ở nhà vật lộn với bé sơ sinh một cách “đúng quy trình” - dù hạnh phúc hân hoan, dù tẻ nhạt đi nữa thì họ cũng cần nghe nhiều, thêm nhiều tiếng nói cho rộn cửa vui nhà.

 

Thế nhưng vẫn chưa quan trọng bằng nhu cầu họ cần được nói. Ừ, thì nói đi. Nào ai cấm cản. Nhưng rồi, trong nhà chỉ có hai vợ chồng thì mỗi ngày chỉ vỏn vẹn chừng ấy âm thanh, chừng ấy câu chuyện. Nay có thêm bạn bè thân thiết của chồng/ vợ đến chơi nhà há chẳng phải rôm rã hơn sao?

 

Mà này, chỉ có mỗi một cô vợ cần có nhu cầu ấy thôi à? Không, còn có thêm cả… người chồng nữa. Vì rằng, sau khi đã có bé sơ sinh mấy ai có thể an tâm tếch ra quán bù khú như trước, phải chôn chân quanh quẩn từ ngoài sân đến xó bếp. Vẽ vang thay, họ đã hoàn thành xuất sắc vai trò vú em thời hiện đại @ mà cửa nhà neo đơn, chỉ mỗi vợ với chồng phải chăm bé:

 

Tuy nhiên không chỉ có thế.

 

Lúc bỉm sữa toàn tâm toàn ý lo cho bé sơ sinh, cần bạn bè đến chơi nhà, ngoài vợ lẫn chồng còn có thêm ai nữa? Thì… bé nhóc đang oe óe trong nôi chứ ai. Ủa, thế à? Tại sao lại thế? Ngộ quá đi thôi. Sẽ nói sau. Nhưng trước mắt y dám quả quyết một điều nghiêm túc, rằng, khi bạn có con, chính bé là người khiến bạn quyết định xác lập lại mối quan hệ bạn bè lâu nay đã có.

 

Liệu có đúng không?

 

Thưa rằng, y đã từng có dăm ba người bạn thân thiết, theo cách nói Quảng Nam của bà nội bé nhóc thì người bạn ấy và y đã quen biết từ thời “Bảo Đại còn cởi truồng tắm mưa”. Vậy mà khi từ quê vào Sài Gòn chơi, hay tin, mừng quá, bèn mời về nhà nhậu cho vui, bạn chỉ nằng nặc đòi ra quán, chứ không ghé lại nhà. Đó là bạn hay bè? Thưa rằng, y đã có có dăm ba người bạn thân thiết, theo cách nói của nhà thơ Hồng Nguyên: “Quen nhau từ buổi “Một hai”/ Súng bắn chưa quen/ Quân sự mươi bài/ Lòng vẫn cười vui kháng chiến”. Vậy mà ngày đầy tháng bé nhóc, y mời đến nhà chung vui, bạn chỉ nằng nặc đòi ra quán, chứ không ghé lại nhà. Đó là bạn hay bè?

 

Thời buổi này, thông qua danh sách trên điện thoại di động, có thể xác định xác định mối quan hệ của từng người. Vì rằng, danh sách đó không bao giờ “dẫm chân tại chỗ”. Thỉnh thoảng lại thay đổi. Xóa đi. Bổ sung thêm. Có những buổi chiều đẹp trời, ngồi một mình đang rỗi việc nên chàng nọ/ cô kia tẩn mẩn ngồi xem lại danh sách trên chiếc điện thoại - dù “cục gạch”, “cùi bắp” hoặc smartphone đi nữa thì họ cũng có động tác delete rất đỗi nhẹ nhàng. Đơn giản chỉ vì số điện thoại đó lâu nay không gọi tới, ngược lại, mình cũng không có nhu cầu gọi đi. Vậy xóa quách cho nhẹ máy chăng? Tại sao không? Một số điện thoại đã xóa đi, không chỉ là xóa một chuỗi con số vô hồn, còn là hành động dứt khoát xóa đi mối quan hệ với một con người.

 

Từ lúc trong nhà có bé sơ sinh, y cũng đã xóa dần.

 

Mà thôi, không dài dòng nữa. Không khéo “lạc đề” đang bàn.

 

Ừ, cái chuyện bé nhóc thích bạn bè của ba mẹ ghé chơi nhà là sao? Khó có thể phân tích một cách rạch ròi theo chuyên môn y khoa, y chỉ cảm nhận trăm lần như một, hễ những lúc cửa nhà đông đúc mọi người, âm thanh vui nhộn, ồn ào như vỡ chợ thì đứa bé khác hẵn mọi ngày. Khác hẵn lúc trong nhà chỉ có ba và mẹ. Đó là lúc hoặc khóc nhiều hơn hoặc bé “nói” nhiều hơn. Dù thế nào đi nữa thì bé vẫn hoạt bát hơn, sống động hơn, tay chân cử động nhiều hơn và thích nhất là bé “mồm mép tép nhảy” như đang đón nhận, muốn bày tỏ một điều mới mẻ nào đó. Rạng rỡ, tươi vui ra mặt. Nói như bạn thơ Trương Nam Hương và Đoàn Tuấn: “Trông bé “phởn”lắm lắm”.

 

Điều này, có lợi cho sự phát triển của bé nhóc chăng? Y tin là thế. Nếu một đứa trẻ như Tặc Zăng sống giữa rừng già, như Mai An Tiêm, Robinson lạc trên đảo hoang liệu có nhanh biết nói như bé được sống chung trong một cộng đồng rộn rã sắc âm thanh? Cô vợ của y tinh tế quá đi thôi, đã nhận ra điều đó nên mới thì thà thì thầm tâm tình một câu rõ nhớ: “Lần sau, nếu thích, anh cứ rủ bạn bè thân thiết về nhà nhậu chơi vẫn tốt hơn”. Vâng ạ, nói như cụ Nguyễn Du: “Được lời như cởi tấm lòng”.

 

Há chẳng sướng lắm sao?

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC:Nhật ký 19.2.2019

tyho-nguyn-tieu-2019

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 5.1.2019

anh-gia-dinh-ngay-xuaTết xưa, chụp tại nhà ông bà ngoại năm 1968

Thoáng đó, tưởng chừng chỉ cần đưa tay ra níu lấy gió trời là đã chạm đến Xuân, sờ thấy Tết. Cảm giác này, thường đến vào những ngày đầu năm mới. Năm qua, y có gì mới không? Ắt có. Ấy là vừa được lên chức không chỉ cực kỳ “oách xà lách” mà còn “ngon lành cành đào”. Thế thì, hãy mượn lấy câu hát xưa “súc sắc súc sẻ” để tự chúc lấy một niềm vui rực rỡ.

 

Cứ theo như nhà giáo Dương Quảng Hàm cho biết: “Vào khoảng nửa đêm Ba mươi Tết, trẻ con nhà nghèo đi thành từng bọn đến cửa các nhà xin tiền. Đứa đi đầu cầm một cái ống đựng tiền đã xin được lắc lên thành tiếng “súc sắc”, rồi vừa lắc vừa hát bài này”: “Súc sắc súc sẻ/ Nhà nào nhà này, còn đèn còn lửa/ Mở cửa cho anh em chúng tôi vào/ Bước lên giường cao, thấy đôi rồng ấp/ Bước xuống giường thấp, thấy đôi rồng chầu…”. Nhịp đi của bài đồng dao reo vui, vần nối theo vần, chúc cho gia chủ sự giàu sang, phú quý như nhà ngói lợp, có voi, có ngựa, sống lâu hơn trăm tuổi, sinh con đẻ cái…

 

Và nay, cũng bài đồng dao này, từ những câu trên, y đã nối theo: “Chích chòe theo sau/ Chào mào đi trước/ Hồng hạc chúc Tết/ Chú ếch thổi kèn/ Gõ kiến chập cheng/ Sâm cầm thổi sáo/ Chúc lành ông Táo/ Lên chức… vú em/ Trổ tài nấu ăn/ Phụ vợ chăm bé…”. Mà nghĩ cho cùng, đời người được thế đã là may mắn lắm rồi. Từ một người cơm hàng cháo chợ, nay đã biết đi chợ, nấu ăn, phụ vợ thay bỉm, ẳm bồng và hát ru con, há chẳng phải niềm vui rực rỡ là gì?

Sáng nay, vừa ẳm con vừa nghĩ vẩn vơ, có phải “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính”? Người đời bảo thế, chắc gì đã đúng? Cái tính, cái nết ấy cũng từ giáo dục của các bậc phụ huynh mà ra. Thời nhỏ, sau khi thi rớt trung học đệ Nhất cấp, tức từ lớp Năm lên lớp Sáu, y không thể vào học trường công Phan Châu Trinh (Đà Nẵng). Thiệt tình, chán nản quá sức, nói như lời hăm he của mẹ y: “Nếu thi rớt, ba mẹ cho về quê đi chăn bò”. Được thế, sướng quá đi chứ, còn hơn phải mắc cỡ, tự ti mặc cảm với bạn bè. Giữa lúc y dứt khoát không chịu đi học, ngày nọ ba y mua về quyển sách Kim chỉ nam dành cho học sinh của Nguyễn Hiến Lê.

Mỗi tối, sau giờ cơm nước, ngươi cha nhẫn nại lật từng trang đọc cho con nghe và giải thích thêm. Từ những lời khuyên trong quyển sách này, y dần dần hiểu ra học trường nào cũng được miễn có sức khỏe, được học với thầy cô giáo yêu thương học trò như con và nhất là mình có phương pháp học. Y đồ rằng, khi đọc và giảng ý nghĩa trong sách cho con, chính lúc ấy, các bậc phụ huynh cũng đang học. Không phải ngẫu nhiên, khi y lớn lên đã thấy trong nhà có rất nhiều sách. Ba y mua đó. Có lẽ, ngoài sở thích, còn một phần do ông tán thành ý kiến tâm đắc của nhà văn Nguyễn Hiến Lê, đại khái, sự giáo dục sẽ thất bại nếu không dạy cho trẻ thói quen đọc sách. Vì ham đọc sách, trẻ không tự giam mình trong cảnh vật cỏn con trước mắt mà bước vào thế giới mênh mông của tư tưởng, tưởng tượng và tình cảm...

Yêu thích một tác phẩm, với đứa trẻ chỉ là giải trí thôi ư? Không. Còn là sự hình thành nhân cách sau này nữa chứ? Nói cách khác, nhà văn đó chính là “người ơn”. Dù chỉ một câu thơ, một ca từ an ủi lúc ngã lòng tuyệt vọng; một bức tranh đem lại mỹ cảm vui sống; một quyển sách đã mở ra chân trời mới… Dù chưa một lần trò chuyện để được nghe một lời an ủi, chỉ bảo nào từ các tác giả đó nhưng rồi, nghĩ cho cùng, đó chính là “người ơn” đã giúp ta vượt qua bế tắc, khó khăn trong thời điểm đó. Dù rằng, những người đó không hề hay biết nhưng thâm tâm ta làm sao có thể quên?

Với y, trong số các  “người ơn” đó, còn có cả nhà văn hóa Nguyễn Hiến Lê đã góp phần giúp y thay đổi. Ngay cả Nguyễn Hiến Lê, ông cho biết bản thân ông cũng phải tự thay đổi, nếu muốn tiến bộ. Ngày nọ, trong lớp im phăng phắt, học trò cắm cúi làm bài tập, ông giáo đang chăm chú tranh thủ chấm bài, bỗng ông ngẩng đầu lên, nói lớn: “Lê marche à recoulons” (Trò Lê đi giật lùi). Cả lớp cười ầm lên. Từ đó, luôn bị bạn bè chế giễu, trò Lê xấu hổ quá quyết tâm phải sửa tính sửa nết, chuyên cần hơn.

Thuở nhỏ, Nguyễn Hiến Lê được cha dạy chữ Hán, chữ quốc ngữ và làm bốn phép toán, sau đó mới vào học dự bị ở Trường Tiểu học Yên Phụ (Hà Nội). Do người cha dữ đòn lại rèn cặp chu đáo nên ông học hành tiến bộ. Năm lên 10, chẳng may, mồ côi cha, gia đình lâm vào cảnh nghèo túng, “Không còn cha nhắc nhở nữa, kiềm chế nữa, tôi bỏ bê việc học trọn một niên khóa”, ông Lê nhớ lại. Rồi như ta đã biết, nhờ câu nói của thầy mà ông Lê đã thay đổi.

Bấy giờ, để có thể theo kịp bạn bè về môn tiếng Pháp, ông nhịn ăn sáng nửa tháng để đủ tiền để mua quyển Từ điển Larousse. Hễ khi gặp các chữ khó thì tra cứu tìm hiểu cho rõ nghĩa. Dù học hành chuyên cần, được lãnh thưởng học sinh giỏi tại Nhà hát Tây nhưng lúc thi vào Trường Bưởi (nay Trường Chu Văn An) lại rớt vì môn chính tả. Sau đó, ông phải vào học trường tư Trí Đức. Nhằm khắc phục điểm yếu của mình, ông chú tâm đọc danh tác của văn hào Pháp Victo Huygo bằng nguyên tác dù chỉ là loại sách tóm tắt, chừng vài chục trang in, nhờ đó, qua năm 1927, ông dễ dàng thi đậu vào Trường Bưởi. Sự đọc này, về sau đã có phần ảnh hưởng đến phong cách viết văn của ông: “Tôi nhận thấy Hugo hay dùng “phép đối ngữ” mạnh mà kêu, tôi cũng lây hơi bút pháp đó”.

Trong thời gian này, một quyết định quan trọng từ người mẹ: bà buộc con trai suốt thời gian nghỉ hè phải về Phương Khê (Sơn Tây) học chữ Hán với ông bác ruột. Lý do của bà đơn giản chỉ là muốn con mình có thể đọc được gia phả, biết gốc gác ông bà tổ tiên. Ngoài việc học từ quyển Ấu học Hán tự tân thư, ông còn được “ngốn” thêm nhiều sách vở khác nhà ông bác nữa. Nhờ vậy, vốn từ tiếng Hán của ông ngày một nhiều thêm và nó chính là nền tảng sau này.

Sau khi ra trường do nhà nghèo, Nguyễn Hiến Lê không tiếp tục theo học ban Tú tài bản xứ mà thi vào Trường Công chánh. Tháng 9.1934, ông thi ra trường đậu hạng cao, ông bác ruột có bài thơ nhắc nhở: “Mừng này biết lấy gì cho nhỉ?/ Hai chữ khiêm khiêm giữ đạo xưa”, lấy gốc từ quẻ Khiêm trong Kinh dịch: “Người quân tử nên rất khiêm tốn để nuôi cái đức của mình”, câu này đã “vận” vào đời ông một cách nhất quán. Lúc chờ bổ nhiệm sở, để không lãng phí thời gian ông vào Thư viện Trung ương ở Trường Thi (Hà Nội) mượn quyển Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh, mỗi ngày chép lại chừng ba chục từ rồi học thuộc nghĩa. Ông còn mượn luôn quyển Grammaire Chinoise của Cordier, học về cách đặt câu. Khi có vốn từ đã kha khá, ông thử trình độ bằng cách đọc Tam quốc chí, từ đó, ông rất mê lời bình của Kim Thánh Thán.

Lúc được bổ nhiệm vào miền Nam, ngoài công việc chuyên môn, thời gian còn lại rất nhàn rỗi, “gặp hồi mưa to gió lớn thì buồn ôi là buồn! Phải nẳm co trong chiếc ghe bầu, cửa đóng kín mít đậu trên kinh Xà No, xa chợ, xa nhà, xa bạn”. Chỉ còn cách đọc sách, vớ được quyển gì đọc quyển nấy nhưng vẫn không hết một ngày. “Lại chỉ có cách học chữ Hán là phương thần hiệu hơn cả”. Thế là ông chọn cách học “hàm thụ” - tức lúc đọc các bộ Mạnh Tử, Lương Khải Siêu ẩm băng… hễ gặp chữ nào không hiểu thì ông chép lại, gửi thư nhờ cho ông bác, nhờ giảng nghĩa.  “Cứ mót như vậy, lần lần tôi cũng biết thêm mà vỡ nghĩa”, ông cho biết. Không những thế, thời gian này nhằm tiêu khiển cho ngày và luyện văn, ông bắt tay viết vài quyển du ký cực hay như Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười, Đế Thiên Đế Thích.

Từ năm 1938, lúc trở lên Sài Gòn lúc 26 tuổi, không còn đi đo đất như trước, thời gian lại cũng rãnh rỗi. Bấy giờ, nhiều bè bạn rủ rê ông nên khoay khỏa bằng cách chơi nhảy đầm, đánh bài, nhậu nhẹt nhưng xét thấy tạng mình không hợp nên ông từ chối, chỉ nằm nhà đọc sách dù bị chê trách là chọn lối sống khổ hạnh. Ông viết câu tự răn (nghĩa): “Trị yêu sách, loạn yêu sách, trong sách chi chi cũng có/ Nghèo giữ đạo, giàu giữ đạo, ngoài đạo thảy thảy đều không”.

Ở Sài Gòn có rất nhiều sách, dễ dàng tìm mua để học, tra cứu, nhờ vậy ông đã mua được bộ Nho giáo của Trần Trọng Kim, Lão tử, Mặc tử của Ngô Tất Tố… Những quyển này, có trích dẫn chữ Hán lại chú thích rõ ràng đã giúp cho ông học thêm về nghĩa của rất nhiều từ mà trước đó chưa biết. Cách học của ông là từ một cuốn sách, đọc đến đâu thì tóm tắt, ghi lại rồi so sánh với các sách khác; nếu có gì chưa rõ thì lại biên thư nhờ ông bác giải đáp. Trải dài theo năm tháng, ông đã dịch một loạt tinh hoa văn hóa, danh tác Trung Quốc, “Sở dĩ tôi cả gan như vậy vì tin lòng quảng đại của các nhà cựu học, không nỡ trách một kẻ hậu học kiến thức nông cạn mà sẵn lòng hạ cố chỉ bảo cho những chỗ sai lầm”.

Đúng như ông đã tâm niệm “loạn yêu sách”, thời thế năm 1945-1946 có nhiều biến động, “không khí Sài Gòn thật khó thở. Khu tôi ở, nhà nào cũng đóng cửa”, do phải nằm nhà, ông mày mò học Anh qua cuốn L’Anglais en 100 leçons. Trong hồi ký, ông cho biết: “Trong đời tôi, hễ phải ở trong nhà một thời gian lâu thì tôi học ngoại ngữ. Cách đó là cách tốt nhất mà cũng ích lợi nhất để khỏi buồn. Và lần nào tôi học cũng chỉ để đọc sách thôi, không cần nói. Những môn tôi đọc để tiêu khiển đó, sau đó giúp cho tôi rất nhiều trong việc viết sách”. Âu cũng là đức tính của một con người đã từng bộc bạch (nghĩa): “Phú quý chẳng màng, giữ tấm băng trinh thời loạn/ Sách hoa riêng thích, thơm trang giấy mực đời sau”.

Từ đọc sách đến viết sách là một khoảng cách rất gần, nhất là đối với Nguyễn Hiến Lê. Ông đã có một quan niệm, có thể nhiều người thấy lạ lùng nhưng hoàn toàn có lý: “Khi muốn học về một vấn đề nào thì cứ viết quyển sách về vấn đề ấy”. Tâm nguyện này, phần nào lý giải vì sao Nguyễn Hiến Lê đã viết thành công ở rất nhiều lãnh vực.

Một trong cả hàng trăm quyển sách đã dịch, trước tác của Nguyễn Hiến Lê, ở đây, y chỉ nhắc đến loạt sách “Học làm người” bởi lẽ đã từng in với số lượng cực lớn, đến này vẫn còn liên tục tái bản: Đắc nhân tâm, Quẳng gánh lo đi. Bản dịch thành công bởi ông đối chiếu từ bản in tiếng Anh và tiếng Pháp theo phương châm dịch thoát, có thể cắt bớt, tóm tắt, sửa đổi cho phù hợp với người Việt, miễn là không phản ý tác giả. Nhờ vậy, không riêng gì bạn đọc mà chính ông cũng tự nhận xét “không có dấu vết dịch” là vậy.

Trong các loại sách, y vẫn thích đọc hồi ký của người nổi tiếng, qua đó, có thể học thêm được nhiều điều hữu ích. Đọc là học. Mà này, trong những ngày này đã nghe trong gió thơm lên mùi Tết, y đang đọc quyển sách gì thế? Trả lời ra làm sao? Đại khái, ai đó đã nói, “Trong cuộc đời, mỗi người nên trồng một cái cây, đẻ một đứa con và viết một cuốn sách”. Cây đã trồng, sách đã viết, nay đã có con. Thế thì, cần quỷ quái gì phải cứ mải mê đi tìm “định nghĩa” về hạnh phúc. Hạnh phúc là bằng lòng với những gì mình đang có. Đơn giản vậy thôi. Với các bậc phụ huynh bỉm sữa, há chẳng phải đứa bé vừa oe oe lọt lòng chính là quyển sách kỳ diệu nhất đó sao? Đúng là thế. “Bây giờ đây nhìn ngắm con nằm/ Ba sung sướng như lật từng trang sách/ Sự sống cựa mình trên từng trang sách/ Chính từ con - mới lạ đến không ngờ”.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 25.12.2018

 

205800cf09e75ca

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 19.12.2018

ngay_viet_moi_ngay_qqqq

 

Đôi lúc có những chiều, ngồi thừ người và ngước mắt nhìn lên kệ sách. Chậm chậm lướt qua từng tựa sách. Sách dày. Sách mỏng. Tên tuổi quen. Cây bút mới. Lại nghĩ, nếu ai đó vào thư viện, thống kê lại trong rừng sách ấy, có cả thẩy bao nhiêu chữ? Chắc chắn chẳng một ai có thể làm nổi. Nói gì xa vời, ngay cả nhà văn, nếu hỏi đã viết bao nhiêu chữ trong đời văn, họ cũng ngắc ngứ. Thậm chí, đã viết và đã in bao nhiêu quyển sách, chắc gì họ đã nhớ? Có phải các bậc đàn anh Hồ Biểu Chánh, Lê Văn Trương, Tô Hoài… là những nhà văn đã in nhiều đầu sách nhất?

Đã nhà văn thì phải viết. Đã họa sĩ thì phải vẽ. Cứ viết mỗi ngày, dù chẳng ai thèm kề súng vào đầu buộc phải viết. Khổ hay sướng? Muốn viết, ít ra phải cho chữ. Nhà văn không có chữ, chẳng khác gì anh chàng lái buôn không có vốn.  hế thì thời bé, tóc còn để chỏm mới ti toe đánh vần “A, B, C dắt dê đi ị/ A, Á, Ớ dắt vợ đi chơi” hoặc “Nhân chi sơ là sờ vú mẹ/ Tính bổn thiện là miệng muốn ăn” thì các nhà văn tài danh của nước Nam đã học văn ra làm sao để rồi về sau, có được vốn chữ ghê gớm?

Trước hết, y muốn bắt đầu từ Ông Dế Mèn. Dù học hành không nhiều, mãi đến năm 1938, lúc 18 tuổi “may mà đỗ được cái ‘xéc-ti-phi-ca’ (bằng tiểu học Pháp - Việt) nhưng đọc sách Pháp không hiểu hết câu” như chính Tô Hoài cho biết, bù lại, ở ông là một nỗ lực tự học rất đáng khâm phục.

Ông học cái gì? Chuyện này ta bàn sau. Chỉ biết rằng, thuở hoa niên, Tô Hoài (1920-2014) là cậu bé lười học. Lúc ngồi trong lớp, cậu chỉ thích ngóng mắt ngoài cửa sổ đếm trong sân có bao nhiêu cây cau, cây nhãn; quan sát xem nơi nào có nhiều chim sẻ, thậm chí còn nhớ cả “Những lúc học trò vào lớp, sân hết người đứng, từng đàn chim sẻ trên hai mái nhà, trong hóc đình lại ríu rít xuống nhảy nhô nhốp, đánh đuổi nhau chí chóe”. Dù học hành chẳng ra làm sao, ham chơi thơ thẩn một mình vì tính tình nhút nhát nhưng Tô Hoài lại có trí nhớ tốt.

Vốn liếng học văn của ông chính là nhờ hồi bé đã đã nghe các dì đọc những câu thơ Truyện Kiều lúc bói Kiều, thế là ông tập làm thơ lẫy Kiều. Khi vớ dược quyển Tứ dân văn uyển, Văn đàn bảo giám -  những tập tuyển các áng thơ cổ điển, truyện thơ Nôm Bà chúa Ba… là ông lại bắt chước làm theo. Chẳng hạn, bài thơ Đan áo được đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy số 199 (năm 1938): “Một chiều dừng lại ghé thăm/ Thì ra mình đã nghi lầm cô em/ Cô em chăm chỉ ngày đêm/ Đan thuê nuôi mẹ, áo len cho người”. Nói cách khác, bước đầu đến với văn chương của nhiều người, trong đó có Tô Hoài chính là bắt chước theo người đã đi trước.

Đến với văn chương, kỷ niệm đáng nhớ nhất của ông là người cha đi làm ăn tại Sài Gòn, lúc về quê có mang theo cái rương. Trong rương, lẫn lộn với quần áo còn có những cuốn “truyện Tàu” như Chinh Tây, Tam quốc chí diễn nghĩa, Tam hạ Nam Đường, Ngũ hổ bình Tây, Phong thần diễn nghĩa… do các nhà văn miền Nam dịch ra tiếng Việt. Ông đã đọc ngấu nghiến và chịu ảnh hưởng. Ảnh hưởng đến độ về sau khi ông cũng viết… truyện kiếm hiệp nhại theo những tình tiết ly kỳ đã đọc.

Tuy nhiên, ý thức luyện văn để trở thành nhà văn chỉ rõ nét khi lúc ông đọc được quyển Vô gia đình của Hector Malot qua bản dịch của Nguyễn Đỗ Mục. Bấy giờ đang trọ học tại Hàng Mã, tình cờ tìm thấy được quyển này dưới gầm bàn của chủ nhà, Tô Hoài đã đọc say mê khóc cười theo số phận của cậu bé Rémy. Và nhớ mãi. Không những thế, còn thêm một vài tác phẩm văn học Pháp nữa đã tác động đến công việc viết văn của ông.

Từ năm 1938, sau khi thôi học, Tô Hoài đã làm nhiều nghề kiếm sống, trong đó có cả nghề viết văn. Ban đầu, Tô Hoài xuất hiện với tư cách người làm thơ. Ông có cả tập Dưới bóng trăng thanh nhưng sau đó chính ông đốt bản thảo vì thấy rằng, thơ không “tải” hết tâm sự của mình. Và  cũng không phải sở trường. Từ đó, cũng như người bạn chí thân là Nam Cao, ông tìm hướng đi cho mình là chỉ chuyên về văn xuôi.

Muốn thế, phải học chữ. Quả đúng như thế, nhà văn Tô Hoài kể ngày nào ông cũng viết. Và khi đi thực tế, dù bất kỳ mục đích gì nhưng lúc nào cũng không quên “tác nghiệp”. Đi là ghi chép. Đi là quan sát. Đi là chiêm nghiệm. Đi là liên tưởng. Đi là thu thập lời ăn tiếng nói của bà con vùng miền khác. Đi là làm giàu thêm vốn từ.

Năm 1994, khi ra Hà Nội tham dự Đại hội Nhà văn trẻ lần IV (1994), y được nghe nhà văn Tô Hoài kể về nghề văn. Ông cho biết vẫn thích nhất là Dế mèn phiêu lưu ký in năm 1941. Và cho biết tác phẩm này phảng phất, lẫn lộn không khí của Guylive du ký, Đông Kisốt, Télémac phiêu lưu ký mà ông đã đọc qua bản dịch Nguyễn Văn Vĩnh. Cho đến nay, nó vẫn là tác phẩm tái bản nhiều lần, dịch ra nhiều thứ tiếng và đã làm nên “thương hiệu” Tô Hoài.

Lúc đó, trên diễn đàn ông hào hứng kể lại quá trình sáng tác trên 50 năm, đã có nhiều truyện ngắn in trên Tiểu thuyết thứ bảy, Truyền Bá, Hà Nội tân văn… mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, Tô Hoài có biệt tài viết về truyện loài vật. Ông viết hay đến nỗi khi đến chơi tòa soạn báo Ngày Nay, nhà văn Khái Hưng bước ra tận cửa bắt tay khen: “Tác giả truyện ngắn Con gà trống ri còn trẻ nhỉ?”. Khen thì khen thế, nhưng nhuận bút vẫn không trả một xu teng nào, bởi thời đó có lệ chỉ trả nhuận bút cho những tên tuổi mà tòa báo mời viết. Kể xong, ông cười tủm tỉm với cánh anh em viết trẻ đang há hốc ra nghe.

Có thể nói, Tô Hoài vốn rất ý thức “tu luyện” chữ nghĩa. Ông bảo: “Trong Truyện Kiều có chữ “áy” (Một vùng cỏ áy bóng tà, không biết nghĩa chữ áy thế nào, mới đọc đã cảm thấy man mác, thấy buồn). Phải đến dịp, tôi về Thái Bình, nghe người trong làng nói: “cỏ áy, mạ áy” mới biết tiếng “áy” là của bà con đồng ruộng Quỳnh Côi, quê vợ của Nguyễn Du ở Thái Bình - khi thất thế, Nguyễn Du đã nhiều năm ở quê vợ”. Lại dịp khác, thay vì nói “mạ nhú” ông cho biết đã học được của bà con nông dân Bắc bộ một từ khác, ấn tượng hơn, tình cảm hơn: “mạ ngồi”.

Trong túi áo của ông thời ấy cho đến lúc đã thanh danh, bao giờ cũng có sẵn cuốn sổ tay ghi chi chít những từ đã thu nhặt. Ngày kia, mấy bà đi chợ ngang xì xào không rõ nhà ai nấu món gì mà thơm nứt mũi, một bà buộc miệng: “Úi dào! Gần mũi xa mồm quá!”. Thế là ông “chộp” ngay vì câu nói đã lấy từ câu “Gần đất xa trời” mà sáng tạo ra. Lại nữa, ông cũng thích thú với câu phê phán về thói tham ô của cán bộ xã mà người dân thì thào: “Ngữ ấy, cứ móc tay vào họng là thấy thịt” v.v…

Không những thế, ông còn có thói quen là gặp gì đọc nấy, vì biết đâu cũng nhặt nhạnh được dăm từ mới. Chẳng hạn, Khóa lễ Cầu bình an và cầu siêu của chùa Quán Sứ có câu: “Cúng dàng rồi, nay con ngắm Phật… Đánh chuông mạnh quá thì nghe tiếng rẳng, đánh khẽ quá thì nghe tiếng trầm trề”. Ông học đã được các từ cúng dàng, ngắm Phật, rẳng, trầm trề làm giàu thêm vốn từ để rồi có lúc vận dụng vào trang văn. Trong tác phẩm Miền Tây, có câu: “Những con lũ gối lên nhau, miên man gầm thét, đuổi theo nhau”. Với từ “gối” mới lạ này, ông cho biết không chỉ từ quan sát mà còn do ngày kia đi thực tế ở Thái Bình, nghe bà con nông dân nói: “Đặt dây khoai lang thì đặt thưa, dây nọ gối đầu vào dây kia”…

Một khi đã viết xong trang văn nào, Tô Hoài thường có thói quen đọc đi đọc lại và chỉnh sửa nhiều lần cho đến lúc nào ưng ý mới thôi. Với một truyện ngắn, ban đầu ông viết: “Một giàn sao sáng rợn từ chập tối: Mặt trăng tròn vành vặc đỉnh đầu, tưởng với tay được”; bản 2, sửa: “Một giàn sao sáng rợn từ chập tối, dần dần mờ đi, khi cùng trăng lên vành vặc đỉnh đầu, tưởng với tay được”; bản 3, sửa lại: “Một giàn sao sáng rợn mắt cua chập tối…”. Sở dĩ, có được từ “giàn sao” đắc địa, mới lạ này, Tô Hoài cho biết là đã học từ cách nói trẻ con mà ông đã tình cờ nghe được; còn cụm từ “sao sáng rợn mắt cua”, ông vận dụng từ cách nói của bà con làng Cát Động đã gọi “sao mắt cua” nhằm chỉ ngôi sao mọc từ chập tối, cứ thây lẩy như mắt cua.

Lại nhớ, mở đầu chương 2 bản thảo tiểu thuyết Nhớ Mai Châu, ban đầu ông viết: “Tây nhảy dù xuống Vân Đình. Mới hôm nào con đường này còn tấp nập người tản cư, người về khuân đồ đạc ra bán ở chợ Đình”. Qua bản sửa 2, ông đã xóa sạch các từ thừa, chỉ còn lại: “Tây nhảy dù Vân Đình. Mới hôm nào đường này còn  tấp nập người tản cư về khuân đồ đạc ra bán ở chợ Đình”. Đại khái thế, đã viết, đọc lại thì sửa, nếu chưa ưng ý.
 

Thời công tác ở Tây Bắc, ông được những câu từ lời ăn tiếng nói của bà con lao động, lấy làm đắc ý. Thử đọc lại vài dòng ghi chép này xem sao? Tất nhiên. Đó là những câu:  “Rễ cây ngắn, rễ người dài, đi đâu cũng thấy họ hàng người Mán ta. Mong cho đất nước yên vui để quần áo được phơi chung một sào. Nóng quá, bồ hôi mẹ bồ hôi con bò ra khắp người. Gió to vụt ngã mất nhiều lúa. Lúc làm cỏ thì cỏ bết xuống, vài hôm sau cỏ lại ngồi lên. Nhà nó trâu dắt ra, bò dắt vào, nồi năm nồi bảy có cả”...

Trở lại câu hỏi, Tô Hoài đã học gì trong nỗ lực tự học? Xin thưa, ông đã học lời ăn tiếng nói không chỉ của người dân ở làng Nghĩa Đô quê ông, mà còn đi đến nơi nào hễ nghe được từ mới thì “chộp ngay”. Khi trao đổi với nhà văn Nguyễn Công Hoan, ông lý giải: “Anh tưởng đã là người Việt Nam thì biết hết tiếng Việt Nam à? Không phải đâu. Gì mà chả phải học. Không học thì làm sao biết được. Có cái là tiếng nước mình thì hàng ngày mình vẫn học mà không biết đấy thôi… Tôi cố gắng không bao giờ bỏ rơi một tiếng mới, một tiếng hay, hoặc một câu nói, một lối nói lạ tai”. Ấy mới là sự nghiệp của một nhà văn, chứ còn gì nữa?

Ai đó đã nói, sau lưng người đàn ông thành đạt luôn có một người đàn bà thủy chung, khoan dung. Điều này hoàn toàn đúng với nhà văn Tô Hoài. Còn nhớ, năm nọ Công ty văn hóa Phương Nam tổ chức lễ ký kết bản quyền với nhà văn Tô Hoài tại Hội Nhà báo TP.HCM, y may mắn được ngồi kề cụ bà. Cụ nhỏ nhắn, có nét đẹp thanh lịch của người Hà Nội xưa. Cụ mặc áo dài đen nền nã, cổ đeo xâu chuỗi ngọc thạch và hầu như chỉ mỉm cười, không nói bất kỳ một câu nào. Tất nhiên, y không bỏ lỡ cơ hội trò chuyện với cụ. Cụ bà kể: “Ông nhà tôi viết khỏe lắm, ngày nào cũng vào bàn viết. Người ta nhặt thóc, sạn ở gạo kỹ từng hạt thế nào, ông nhà tôi cũng viết xong thường đọc lại từng trang, lại chữa tiếp, chữa đi chữa lại nhọc công lắm”.

Mà nào chỉ mỗi Tô Hoài. Các nhà văn tài danh khác cũng vậy thôi.

Mà này, liệu chừng có lẩn thẩn, lẫm cẫm lắm không nhỉ? Giữa cái thời văn chương như bèo lại bàn chuyện “tu luyện chữ nghĩa” há chẳng phải vô tích sự lắm sao? Ai đã nói thế kia? Kệ họ. Đã sống bằng nghề viết, làm sao có thể rẻ rúng chữ nghĩa?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 25.11.2018

HAT-XAM-O-MIEN-NAM-1

 

“Miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời”. Lâu nay, vẫn nghĩ thế. Chắc gì đã đã đúng? “Đòn đau” à? Không đâu, thiết nghĩ phải là “lời đau”. Đòn đau, theo năm tháng sẽ quên, sẽ nguôi ngoai; lời lại khác, “lời nói đọi máu” còn ghê gớm hơn nhiều. Thế thì, khi cần thiết, con người ta sử dụng lời nói, cần quái gì phải nghiến răng thượng cẳng tay, hạ cẳng chân - nhất là trong lãnh vực giáo dục. Ấy thế, vừa qua ở tỉnh nọ, có cậu học trò tội nghiệp phải “hứng” lấy 231 cái tát, từ mệnh lệnh cay nghiệt của cô giáo. “Đòn đau” ấy chỉ đem lại sự thù hận. Một cú tát vào nền giáo dục nước nhà đấy chăng? Nghĩ mà đau. Từ sự việc này, lẩn thẩn nghĩ rằng, ngày xửa ngày xưa, trong sự giao tế, giao tiếp, người Việt luôn sử dụng lời ăn tiếng nói, cần nhắc từ câu chữ, chứ không thèm giải quyết, tiếp cận nhau bằng bạo lực. Thì cứ xem, lối làm quen, tỏ tình ngày trước ắt rõ.

Mà xét ra, ngày nay cách tỏ tình dễ dàng hơn trước. Nếu ngại ngùng, kém tài ăn nói, chỉ cần cái điện thoại cầm tay là đã có thể “thay lời muốn nói”. Khác hẳn thời của Đoàn Chuẩn - Từ Linh, ít ra phải “Phong thư ngào ngạt hương/ Nét bút đa tình lả lơi”. Dám nói rằng, trước đó nữa, cách tỏ tình phổ biến “Trên đồng cạn, dưới đồng sâu”, trên sông nước mênh mang: “Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi/ Kẻo khúc sông này bờ bụi tối tăm” thì ngụ ý, ngụ tình phổ biến vẫn qua câu hò đối đáp. Hò lên một tiếng cho vui. Điều này cho thấy người Việt rất giỏi trong cách gieo vần, hát hò lẫn sử dụng cách nói xa gần, bóng bẫy. Nét văn hóa Việt là đây, tìm đâu cho xa. Bao nhiêu lứa đôi đã nên duyên chồng vợ từ những cuộc “giao lưu văn nghệ” như thế.

Điều thú vị nhất, ở đây vẫn là cách ăn nói dí dỏm, hài hước mà thâm trầm, ý vị. Ngày nọ, anh chàng nọ muốn làm quen với các cô nàng bèn cất tiếng: “Chào đào, chào lựu, chào lê/ Ai xa tôi chào trước, ai kề chào sau”. Hoặc cũng có thể là: “Bước tới đây cầm chày giã gạo/ Tôi xin chào lê, chào lựu, chào kẻ cựu, người tân/ Trước tiên tôi xin chào anh chị nông dân/ Kẻ xa xôi tôi chào trước, người gần tôi chào sau”. Với cách “mở bài” này, kể ra cũng đã thanh lịch. Thế là cuộc hò đối đáp bắt đầu. Trong quá trình ấy, có lúc các o cũng muốn đùa bèn tinh nghịch thách đố cắc cớ:

Thiếp đưa chàng một nắm bắp rang

Chàng kiếm nơi mô tỉa được, thiếp với chàng trao duyên

Chà chà, khó quá phải không? Cực khó. Bắp đã rang, làm sao còn có thể tỉa, gieo với trồng? Ở Đồng Tháp có câu đố:

Sùm sụp mà đứng giữa trời

Chồng con không có một đời chửa hoang

Trên đầu tóc đỏ như rang

Chỉ tơ vấn vít trong vàng ngoài xanh

Đích thị là trái bắp. Nghĩ cũng lạ, ngoài Bắc gọi ngô/ lúa ngô trong khi đó trong Nam gọi bắp. Cứ theo như giai thoại dân gian, du nhập giống ngô về trồng trong nước thuộc về vai trò của cụ Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, qua chuyến đi sứ nhà Minh vào năm 1597. Thế nhưng theo Vân đài loại ngữ (NXB Miền Nam - 1972) của nhà bác học Lê Quý Đôn thì phải gần 100 năm sau: “Hồi đầu thời Khang Hy (1662-1723), Trần Thế Vinh, người huyện Tiên Phong (Sơn Tây) sang sứ nhà Thanh mới lấy được giống ngô đem về nước. Suốt cả đất Sơn Tây, nhờ có ngô thay cho cơm gạo. Ngô trồng ở Nghệ An, phần nhiều là giống ngô trắng (ngô nếp); ngô trồng ở Lạng Sơn có đủ năm sắc” (tr. 471). Có phải sở dĩ gọi ngô vì nó lấy từ Trung Quốc - còn gọi nước Ngô? Cái nước Ngô ấy còn lưu dấu trong thành ngữ; “Giặc nhà Ngô không bằng bà cô bên chồng”.

Khi trong Nam gọi bắp, có lẽ gọi theo hình dáng của trái chăng? Mà bắp là gì? Cứ theo như Việt Nam tự điển do Hội Khai trí tiến đúc khởi thảo năm 1931: “Vật gì thành đẵn mà hai đầu hơi thuôn thuôn”. Đại Nam quấc âm tự vị (1895) cho biết: “Loài ngũ cốc, loài hột, có trái bằng bắp tay mà dài; vật nào hai đầu nhỏ, khúc giữa lớn cũng gọi là bắp”. Rõ ràng ngoài Bắc gọi ngô nhưng trong Nam gọi bắp là gọi theo hình dáng của trái. Nghĩ thế, bèn lấy vui vì ít ra suy luận này cũng có thể chấp nhận được. Vì đang vui nên đọc thêm một câu đố nữa:

Thân em da đỏ hồng hào

Hàm răng đều đặn, tóc đào ngang lưng

Lúc em còn ở ngang hông

Áo dăm ba cái mẹ bồng trên tay

Lúc em về cửa nhà anh

Anh thương anh lại lột trần em ra

Đố ai biết trái gì? Dễ ợt, trái bắp/ ngô. “Thiếp đưa chàng một nắm bắp rang/ Chàng kiếm nơi mô tỉa được, thiếp với chàng trao duyên”. Câu hò này, không chỉ đố, còn là cách thăm dò ấy người thanh hay kẻ tục. Nếu kẻ tục tằn, thô lậu ắt lanh lảnh mà rằng: “Em chết ba năm rồi sống dậy đi lấy chồng/ Bắp rang anh tỉa mọc tràn đồng cho em coi!”. Thử hỏi, có lấy lòng được o thôn nữ ấy không? Ắt không. Có người dí dỏm đến tinh nghịch: “Ở mô mà nắng không khô/ Mà mưa không ướt, đúc vô mọc liền”. Ở mô là ở đâu. Đúc là gieo. Cũng có thể là dị bản: “Bên em có miếng đất hoang/ Ba năm không có nước/ Hạn sáu tháng không khô/ Em sẵn lòng trao cho anh trỉa, trỉa vô mọc liền”.
Câu hò vừa dứt, lập tức có tiếng cười rôm rã vang lên. Tại sao lại cười? Ai hiểu sao thì hiểu. Đã hiểu, ắt phải há miệng ra cười đó thôi. Có như thế, họ dễ dàng làm quen với nhau hơn. Thế mới biết, người bình dân, dù chữ nghĩa không nhiều nhưng khi cần nói thanh về cái tục, họ thừa khả năng biến hóa, sắp xếp các con chữ. Cô nàng lại thăm dò xem chàng ta đã vợ con thế nào, bèn hỏi bâng quơ:

Vợ anh chết đã ba năm

Đêm đông lạnh rứa, anh nằm với ai?

Vốn thông minh, chàng ta bèn đáp cũng bâng quơ:

Em hỏi chi chuyện ấy mà mất công

Nóng thì anh nằm ngủ thẳng, lạnh thì nằm ngủ cong, khó gì?

Vậy là huề trớt, dù có trả lời nhưng vẫn né khôn khéo đấy chứ? Hò đối đáp, tưởng dễ, ừ dễ, nhưng tâm địa thế nào e khó giấu. Với câu trò dò hỏi ấy, có kẻ đã “mất điểm” bởi trả lời bằng cách cay cú hỏi lại:

Tiếng đồn em lấy chồng già

Đêm nằm em thấy ớt, cà ra răng?

Nghe lỗ mãng quá, bực mình không? Cô nàng bèn thẳng thừng:

Tre già còn dẻo hơn măng

Ớt, cà già có hột, chớ hơn thằng ớt tơ

Chỉ bằng trái ớt, lại ớt tơ/ ớt non nữa chứ, liệu có nên cơm cháo gì? Nghe chua chát quá, chàng kia “nốc ao” cái chắc! Tình hình đã đến nước này, “tẩu mã vi thượng sách” là hơn. Thế nhưng có kẻ lại cố níu: “Chờ em cho mãn kiếp chờ/ Chờ cho rau muống lên bờ trổ bông”, quả nhiên, câu hò trả lời chỉ có thể là: “Rau muống trổ bông lên bờ nó trổ/ Ai biểu anh chờ, anh kể công lao?”.

Thế đấy, đừng tưởng hò đối đáp chỉ cho vui - một cách để quên đi lao động nhọc nhằn, đêm khuya canh dài, nhọc nhằn mồ hôi. Tùy tâm tính, có thể là tiếng rao lên ngọt ngào, thành thực: “Đêm thanh gió mát, nghe đó hát cũng thỏa tâm tình/ Gặp anh đây là bán lộ trình/ Bớ quân tử ơi! Hỏi thăm quân tử gia đình ở đâu?”. Câu trả lời lai thanh lịch không kém: “Nước biếc long lanh, người bạn lành thiệt là khó kiếm/ Anh dạo chơi cũng hiếm, chưa lựa được chỗ nào/ Em ơi! Mãng lo buôn bán ra vào Cần Thơ”.

Nếu thấy “kết model”, họ có thể tiến xa hơn, tất nhiên cũng bằng các câu có vần có điệu cho dễ lọt lỗ tai để không bị mang tiếng “dạy đời”: “Đó có nghĩ tình đây thì rượu say đừng uống/ Chớ muốn bài cào/ Chớ đắm mấy chị đào, chớ mê vào á phiện/ Khuyên anh bốn chuyện, anh khá ghi lòng/ Anh ơi! Ráng lo buôn bán, em sợ phòng dặn anh”. Chàng trai đáp lại cũng dặn dò: “Bậu có thương qua, khăn bà ba đừng đội/ Phường hát bội đừng mê/ Bài cạc-tê đừng mắc, tứ sắc đừng ham/ Cứ chuyên nghề nghiệp mà bậu làm/ Bớ em bậu ơi! Dẫu thất cơ lỡ vận, anh cùng làm với em”.

Nghe câu này, những kẻ hậu sinh như chúng ta đây ắt ngạc nhiên, vì sao “Khăn bà ba đừng đội”? Chịu chết, không thể lý giải nổi. Trong khi đó, áo bà ba lại được khen là đẹp, duyên dáng. Nhà văn Sơn Nam ghi nhận trong quyển Văn minh miệt vườn: “Sự liên lạc giữa Cái Mơn và Mã Lai đem cho miệt vườn nhiều loại cây mới: măng cụt, bòn bon, chôm chôm. Poulo Penang, nơi ông Trương Vĩnh Ký du học, là nơi có nhóm người Bà Ba lập rẫy mía. Bà Ba là người Mã Lai lai Trung Hoa (chiếc áo bà ba mà người miền Nam ưa thích, vạt ngắn không bâu chính là kiểu áo của người Bà Ba)”. Không những thế, ca dao còn có câu: “Thấy em bận áo bà ba trắng/ Anh muốn gắn chữ duyên/ Rồi mai lưu lạc, anh tìm em cho khỏi lầm”. Thế thì, khăn bà ba” ra làm sao mà chàng trai dặn dò cô nàng “đừng đội”?

Cái hay của hò đối đáp còn là lúc họ đặt ra tình huống. Không dễ dàng trả lời, nếu không thông minh, có tài ứng đối. Nữ: “Hò ơ, phụ mẫu tôi với phụ mẫu mình/ Đi chung một chiếc thuyền tình/ Bị trận giông chìm xuống, tôi hỏi mình vớt ai?”. Chà, khó thiệt. Nào ngờ, nam cất giọng ngọt như mía lùi: “Hò ơ, tình ơi chớ hỏi chi tình/ Phụ mẫu tôi với phụ mẫu mình, tôi vớt để hai vai/ Còn như mình cũng mang tai/ Thì tôi vội vã hai tay tôi vớt mình”.

Mà này, một khi đã yêu nhau, ai lại không ước mơ, ngóng đợi từng ngày để được sống chung nhà, ăn chung mâm, ngủ chung gối? Cha chả là khoái. Muốn thế, phải tổ chức cưới nhau, chứ đời nào yêu nhau là cứ việc vác vali về nhà người tình ở chung. Thiên hạ cười cho thúi mũi. Xưa cũng thế, nay cũng thế. À, muốn cưới hỏi nhưng nghèo quá thì thế nào nhỉ? Ta đừng vội cười anh chàng trong ca dao: “Dẫu cho nhà dột cột xiêu/ Anh muốn cưới vợ sợ nhiều miệng ăn”. Về phần cô gái nếu cũng nghèo, do đó, khi bàn về chuyện cưới xin mới dò hỏi: “Một trăm quan tiền còn nằm trong rọ/ Em hỏi anh rằng: “Đi họ mấy mươi”?”. Chàng trai nghênh mặt: “Họ anh vừa gánh vừa khiêng/ Nội trong xóm giềng đi đã ba trăm”. Thoạt nghe, cô gái đã kêu lên hoảng hốt: “Anh về bớt họ anh ra/ Phận em đơn chiếc cửa nhà đơn côi”.

Chàng trai thấy cần phải đòi hỏi “đến nơi đến chốn”, cho bỏ lúc bị nhà gái thách thức: “Em đòi vàng anh cũng đi vàng/ Mua gấm lót đàng cho họ anh đi”. Nghe thế, cô gái giận dỗi, thẳng thừng: “Anh về nói với họ anh/ Có đi thì cắp chiếu manh mà ngồi”.  Mới là “khúc dạo đầu” nhưng đã nghe tiếng bấc tiếng chì. Người ta còn mặc cả về ăn mặc, đi đứng, chẳng hạn, nhà gái ra điều kiện: “Chàng cưới thiếp bạc nén, vàng thoi/ Chàng về lựa họ cho hẳn cho hòi/ Đàn ông đội nón Gò Găng quai tả/ Đàn bà nón thượng quai liền/ Con trai đi hậu vác tiền/ Mặc áo màu huyền, bịt khăn nhiễu lượt/ Võng chàng đi trước, võng thiếp theo sau/ Thiên hạ ngó vô: Đám cưới nhà giàu/ Sui gia cũng xứng, kép đào cũng xinh”.

Nói thì nói thế thôi. Nếu đã yêu nhau, đã thề thốt muốn sum họp “như chim liền cánh như cây liền cành” thì họ ắt có cách giải quyết ổn thỏa. Và y đây, bao giờ cũng cầu mong cho họ: “Đôi ta đứng đẹp một bên/ Đứng dưới chiếu nhứt lạy lên bàn thờ”...

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 15.11.2018

 

mot-giac--thanh-thi-5RRR

Nhố nhăng thế. Vâng, rất nhố nhăng. Mấy hôm nay, báo chí ầm ầm lên tiếng về việc anh chàng nọ du lịch sang Nhật, chẳng rõ nổi cơn gì bèn ghi cái tên của mình to chình ình lên phiến đá tại khu thành cổ Yonago (tỉnh Tottori). Muốn lưu danh thiên cổ chăng? Viết bậy, vẽ bậy kiểu này, còn có thể nhìn thấy ở nhiều danh lam thắng cảnh trong nước. Mỗi người sinh ra đời đã có một cái tên. Thế nhưng làm nên cái tên ấy là một sự nỗ lực phi thường, bền bĩ, chứ nào phải viết nghệch ngoạc nơi công cộng.

Nếu gặp phải Hồ Xuân Hương ắt bà nghiêm mặt mắng cho: “Ai về nhắn nhủ phường lòi tói/ Muốn sống đem vôi quét trả đền”. Lòi tói là quá dốt nát, để lộ ra cái sự dốt nát. Lòi là lộ ra, ló ra. Nhưng từ này còn có nghĩa chỉ sợi dây xích sắt lớn thường dùng buộc thuyền, tàu. Từ “tói” dù nghĩa dây dùng để trói, Từ điển Việt - Bồ - La của A. de Rhodes(1651) giải thích là xiềng xích nhưng nghe nhắc đến nó, lập tức người ta nghĩ ngay đến “ói”. Thế thì, cái tên ghi bậy bạ nơi di tích lịch sử, văn hóa như một cách “ăn theo” chỉ khiến thiên hạ muốn ói.

Mà tiếng Việt cũng lạ kỳ. Dám nói rằng những từ “ằn” và “ắn” khác xa nhau lắm. Thử thí dụ xem sao? Dễ ợt. Nào là cằn nhằn, tục tằn, cục cằn, già khằn, bà chằn, nhọc nhằn, cười gằn, vụn vằn, cẳn rẳn cằn rằn, thù hằn… nghe muốn oải quá. Trong khi đó, với “ắn” luôn gợi lên một sắc thái tích cực hơn, chẳng hạn, xinh xắn, nhỏ nhắn, may mắn, đẻ mắn, vuông vắn, thẳng thắn, siêng sắn, đúng đắn…  Có lẽ người trước nhất đã phát hiện ra điều này là nhà văn hóa Lê Văn Siêu chăng? Đại khái, trong quyển Việt Nam văn minh sử (NXB Văn Học - 2006, ông đã liệt kê và hệ thông “âm tượng hình” tiếng Việt, cả thẩy 22 bộ. Chẳng hạn, “Bộ tròn:

a)  Với những âm gốc ong, ung, ông, chính khi nói cũng phải phồng má cho người đối thoại nhìn thấy hình cong. Bộ âm này dùng diễn tả những cái hình tròn, cong như: cái nong, cái võng, cái lọng, cầu vồng, quả bóng, cái vòng, thòng lọng, cái bụng, bong bóng v.v…

b) Với những âm gốc oăn, oan, uôn, uân, để diễn tả hình tròn nhiều lần, lại có thêm sức người làm cho tròn nữa như: quăn, ngoằn ngoèo, xoắn, quấn, khoan, xoăn xoe, băn khoăn, luẩn quẩn, uốn éo v.v… Khi nói miệng người ta cũng phải làm như đánh một vòng tròn từ trong ra.

c) Với những âm gốc oay, uây, oai, tả sự cử động theo chiều tròn của người hay vật như: quay, xoay, ngoai ngoái, ngoáy, khoáy, quây, loay hoay v.v… Khi nói miệng cũng tự hồ làm nhịp cho cử động ấy.

d) Với những âm gốc eo, ua, oa, ơ, ưa tả hình tròn nở lớn ra như xòa, nhòa, hoa, loe, xòe, lở, nở, chửa v.v… Chính miệng nói cũng nở tròn như động tác ấy.

e) Với những âm gốc om, ôm, um, tả vòng tròn hõm sâu xuống hay dưới một vòm của hang động như: thom lỏm, tõm, lổn ngổm, lùm tum, lom khom, dòm, nom, lồm cồm v.v… Khi nói môi cũng mím lại, và mắt mở chừng chừng như nom dòm cái gì phía dưới” (tr. 97).

Gần đây, BS Nguyễn Đại Bằng có viết quyển sách Quy luật âm nghĩa và những đơn vị gốc tiếng Việt (NXB Văn hóa Thông tin - 2006). Đọc thú vị. Đại khái, theo ông, nguyên âm O biểu thị hình dạng cong tròn hoặc trạng thái co vào giảm đi. “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”. Và ông liệt kê, con, cỏn con, con mọn, nhỏ mọn, tỏn mọn, mòn, hòn, héo hon, non, tí hon, đỏ hỏn, lon ton, mon men, rón rén, gọn thon lỏn, dọn, thu dọn, ngọn, nhọn, thon, vón, vỏn vẹn, són, bòn v.v… Ngoài ra, tròn: tròn, làm tròn, trọn, làm trọn, trọn vẹn, vẹn tròn… (tr.22).

Về “âm tượng hình” trong tiếng Việt, chắc chắn không riêng gì các bậc phụ huynh đặt tên cho con, ngay cả nhà văn đặt tên cho nhân vật dù muốn dù không họ cũng tự liên hệ đến. Nếu xét theo quan niệm của Lê Văn Siêu, nhà văn Nam Cao khi đặt tên nhân vật là Chí Phèo, tức ông đặt theo “Bộ méo: với những âm gốc eo để diễn tả hình méo, mà chính miệng khi nói cũng méo trẹo qua một bên: méo, vẹo, nghẹo, chéo, héo queo, teo, đèo v.v…”.

Lại nữa, có những cái tên, thoạt nghe, ta có thể đoán biết người đó sinh ra từ vùng miền nào. Vì lẽ đó, khi viết về một nhân vật nói tiếng Sài Gòn, sinh ra tại Sài Gòn, nhà văn Nguyễn Công Hoan cho biết, cái khó nhất không phải nghĩ ra tình tiết, cốt truyện mà chính là phải đặt cái tên ra làm sao. Nếu nhân vật nổi tiếng nhất của Nam Cao là Chí Phèo, của Vũ Trọng Phụng là Xuân Tóc Đỏ, của Ngô Tất Tố là chị Dậu… thì của Nguyễn Công Hoan vẫn là Kép Tư Bền. Hãy nghe ông kể vì sao “khai sinh” ra cái tên độc đáo này: “Đến cái tên Kép Tư Bền, tôi phải nghĩ kỹ hơn mới tìm ra. Đây là anh kép hát người Sài Gòn. Tên Sài Gòn, thường đặt dưới thứ bậc như hai, ba, tư vân vân. Kép ở rạp Quảng Lạc thời bấy giờ, tôi đã thuộc những cái tên như Sáu Phú, Bảy Nhã, Tám Hương. Sáu, bảy, tám thì cố nhiên mang màu sắc Sài Gòn rồi, nhưng Phú, Nhã, Hương thì người Hà Nội cũng được, người Huế cũng được. Tôi nhớ Sài Gòn hay nói Phước, Thạnh chứ không nói Phúc, Thịnh. Nhưng chưa đặc biệt bằng cái tên gì nó nôm na. Ngày ấy, có ông hội đồng quản hạt là Trương Văn Bền. Thấy tiếng Bền nó Sài Gòn quá, không thể lẫn với Hà Nội, với Huế được, tôi mối đặt cho vai chính của truyện là Kép Tư Bền”.

Dù rằng, Bền là cái tên “Sài Gòn quá” nhưng nếu Kép Tư Bền chỉ chạy cờ trong rạp hát, không có tài năng: “nổi tiếng về cái tài bông lơn, lắm lúc ra sân khấu, chẳng cần nói một câu khôi hài nào, nhưng chỉ nhìn một cái điệu bộ cỏn con của anh ta, các khán quan cũng đủ phải ôm bụng mà cười, vỗ tay đôm đốp”; nếu ông Trương Văn Bền chỉ có chân trong hội đồng quản hat, không sáng chế ra Xà bông Cô Ba thì sao? Thì chẳng một ai buốn nhớ đến nữa.

Đúng là thế. Ngay từ lúc lọt lòng mẹ, đời mỗi người, cái tên mỗi người chỉ có thể là một bình hoa. Bình hoa nào cũng “bình đẳng” ngang ngửa như nhau. Làm nên tiếng tăm về sau, là cái bình hoa ấy đã cắm vào những hoa gì? Hoa tươi thắm? Hoa héo khô? Hoa mơn mỡn xuân xanh? Hoa héo rủ? Thậm chí, chẳng có cành hoa gì sất. Nghĩ thế, bèn viết: “Mỗi người sinh ra là đã một bình hoa/ Chịu trách nhiệm đã gắn gì vào đó/ Cuộc đời tôi tự ý thức thế nào?/ Hỡi sắc hoa những gam màu rực rỡ?”. Viết tặng cho chính y? Không, xem như là lời dặn dò bé nhóc đầu lòng, vừa đầy tháng.

Đôi khi cha mẹ đặt tên thế này, nhưng rồi khi sáng tác người ta lại bỏ đi một chữ. Chẳng hạn, Phạm Duy Cẩn (nhạc sĩ Phạm Duy), Nguyễn Duy Nhuệ (nhà thơ Nguyễn Duy)… Hãy dừng lại với Đinh Văn Cường. Rõ ràng, một cái tên lạ hoắc lạ huơ chẳng mấy tiếng tăm gì, nhưng Đinh Cường thì thiên hạ biết đến. Đinh Cường tên thật Đinh Văn Cường, sinh năm 1939 tại Thủ Dầu Một, học ở trường Pétrus Ký niên khóa 1951-1957. Ông là một trong những họa sĩ rất nổi tiếng của miền Nam.

Thuở nhỏ, y rất thích tìm mua những tập nhạc của Trịnh Công Sơn do NXB Nhân Bản, An Tiêm ấn hành cũng một phần vì thich bìa, phụ bản của Đinh Cường. Rồi gần đây, trong quá trình sắp xếp lại báo chí Sài Gòn cũ đã sưu tập, tình cờ y được đọc bài tập làm văn của Đinh Cường năm học đệ Tứ (lớp 9 hiện nay). Qua đó, ít nhiều ta có thể thấy được thiên hướng của một người về sau không chỉ họa sĩ mà còn làm thơ.

Thập niên 1950 tại Sài Gòn, Đời mới - một tuần báo chuyên về xã hội, văn hóa, nghị luận - tòa soạn tại “117 đại lộ Trần Hưng Đạo, Chợ Lớn; điện thoại: 793” có tổ chức cuộc thi “Bài luận văn hay nhứt lớp” nhằm chọn in các bài của học sinh trung học - ngoài số điểm cao, còn có lời phê của thầy cô giáo. Bài được đăng, tòa soạn gửi biếu 2 tờ báo, không có nhuận bút. Trên số báo 159 (tuần lễ từ 20.3 đến 27.3.1955), Đời Mới đã chọn in bài dự thi số 12: “Của Đinh Văn Cường, Đệ tứ D, trường Pétrusky. Lời phê của giáo sư: Lý luận khá, lời văn dồi dào”. Số điểm: 13 trên 20”.

Đề bài luận văn như sau: “Trong Việt ngữ, có cái gì đáng quý hơn cả?”. Cậu học trò lớp đệ Tứ là Đinh Cường đã chọn thơ, vì: “Thơ không phải là một bài văn xuôi, một lá truyền đơn, một tờ quảng cáo… Thơ chỉ là một thoáng rung cảm. Nguồn rung cảm trước ngoại giới ngày nay ghi lên mặt giấy, không phải là mây, gió mà là bác phu xe, thằng cu Tý, em bán bánh mì, sự chua xót quằn quại của xã hội. Nguồn rung cảm được ghi lên mặt giấy bằng âm điệu và sự nhịp nhàng. Đành rằng nguồn rung cảm của giai cấp bình dân khác xa nguồn rung cảm của trí thức. Nhưng xét qua ca dao, tôi vẫn thấy có những câu thâm thúy lạ thường. Phải chăng ca dao là tiếng nói của giai cấp bình dân phản ánh trung thành tâm hồn mộc mạc và bình dị”.

Đáng ngạc nhiên, ở trình độ lớp 9 mà đã có được những nhận xét chỉn chu ấy. Sau lập luận đó, tác giả đi vào phân tích các câu ca dao mà mình yêu thích. Chẳng hạn, “Còn gì vui thích hơn khi đi ngang qua một thửa ruộng, được nghe những dân quê vừa cấy vừa hò: “Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”.  Tạm dừng lại ở đây để nói thêm rằng, không riêng gì Đinh Cường thuở ấy mà ngay cả thời điểm này, nhiều người vẫn còn nhầm lẫn, vì hai câu đó chính là thơ của thi sĩ Bàng Bá Lân.   

Từ tháng 7.1967, trên nội san Trường Bưởi của Hội Ái hữu cựu học sinh Trường Bưởi (nay trường Chu Văn An - Hà Nội) in tại Sài Gòn, Bàng Bá Lân có viết rõ sự việc nhà theo yêu cầu của nhà văn Lãng Nhân. Theo đó, đây là 2 câu thơ này trích từ bài Tiếng hát trong trăng in trong tập thơ Tiếng thông reo (in năm 1934). Năm 1957, chọn in lại trong tập Thơ Bàng Bá Lân, bài thơ trên đổi tựa là Trăng quê: “Trời cao, mây bạc, trăng tròn/ Dế than hiu quạnh, tre buồn nỉ non/ Diều ai gọi gió véo von/ Cành xoan dìu ánh trăng suông dịu dàng/ - Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi”. Có một điều thú vị, khi đi trở thành ca dao, câu cuối lại phổ biến thành: “Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”. Sở dĩ “lái” qua chuyện Bàng Bá Lân là do hiện nay, sự tranh luận về câu “ca dao” trên vẫn chưa kết thúc, có thể kiểm chứng từ Goolge.

Ta hãy trở lại với bài luận của Đinh Cường. Sau khi trích dẫn ca dao trên, tác giả đề cập đến thơ: “Thơ là nguồn an ủi đối với tôi. Giúp sức đấu tranh cho tôi khi bị những hình ảnh yếu mềm xâm chiếm. Khi nghe: “Phất ngọn cờ lên tung bước lên/ Với kho hùng khí của thanh niên/ Vang lừng trăm trận, rang trăm trống…”. Những hình ảnh mềm yếu đã tan mất và thơ đem lại cho tôi một sức tranh đấu mạnh mẽ hơn. Những lúc nhớ quê nhà tôi lại đọc: “Ai về với quê hương ta tha thiết/ Sông Hương, Bến Hải, Cửa Tùng”.

Những câu thơ này của ai?

Điều khiến ta kinh ngạc, đó chính là thơ của Tố Hữu, trích từ các bài Đứng dậy thanh niên, Ta đi tới! Vấn đề đặt ra là Đinh Cường đã tìm đọc từ đâu; hay do các thầy cô đã giảng dạy trong nhà trường? Điều này, ít cho thấy thuở ấy, thơ của tác giả Từ ấy đã bí mật len lỏi vào tầng lớp thanh thiếu niên ở Sai Gòn. Và thật bất ngờ, Đinh Cường viết ở phần kết luận: “Trong một nước, một xã hội, tinh thần của dân chúng mạnh mẽ là nhờ nền văn hóa cao, mà thơ chiếm một phần trong nền văn hóa ấy”. Có ai dám tin một cậu học trò đệ nhất cấp đã có được suy nghĩ ấy, nếu không nhìn thấy rõ ràng trên giấy trắng mực đen?

Tóm lại, làm nên cái tên của một người, trước hết phải là tài năng của người đó. Chứ nào phải hễ đến nơi danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử - văn hóa viết bậy bạ, ghi lảm nhảm, ngớ ngẫn cái tên mình tại đó. Cái tên đó xuất hiện trong ngữ cảnh đó, chẳng khác gì ai đó xuẩn ngốc vén quần tè vào bình rượu ngon trong buổi đại tiệc. Nếu bị phát hiện thì sao? Ắt bị thiến ngay. Có phải thế không?

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 1.11.2018

mu-coi-quoc-phong-chat-luong-cao-qua-tang-1m4G3-6CIxDs_simg_ab1f47_350x350_maxb

Vừa khảo sát lại tài liệu để xem thời bé, các nhà văn nổi tiếng đã học văn thế nào? Họ học ra làm sao để về sau trở thành người giỏi tiếng Việt? Trong khi đó, hiện nay môn Ngữ Văn đã và đang khiến các em chê ỏng chê eo. Có một điều nhận ra, hầu hết đều có mẫu số chung là họ đã được làm quen với vần điệu du dương từ ca dao, tục ngữ, từ Nhị độ mai, Thạch Sanh - Lý Thông, Trần Minh khố chuối… đến Truyện Kiều qua lời ru của mẹ, ông bà, cô, dì, chú, bác. Kỳ lạ ghê, dù đang còn nằm nôi hay mới vừa chập chững, lẫm chẫm tập đi thì những lời ru ấy, về sau họ vẫn nhớ như in trong óc. Nó thâm nhập vào óc, vào tim, vào máu như một dưỡng chất để nuôi dưỡng tâm hồn. Lúc cầm bút viết, họ lại nghe vọng lại sự nhịp nhàng, réo rắt. Bất kỳ đứa trẻ nào cũng vậy. Không gì khác. Y cũng thế thôi. Sực nhớ lời mẹ ru:

Vô duyên dầu mặc hoa

Áo ra đàng áo, người ra đàng người

Có duyên dầu mặc áo tơi

Đầu đội nón cời duyên vẫn còn duyên

Đã nghe tự bao giờ, sao nay còn nhớ? Lại nhớ đến bài học thuộc lòng cực hay, có nhắc đến một loại nón, nay đố ai nhìn thấy:

Ai bảo chăn trâu khổ nào

Chăn trâu sướng lắm dạt dào niềm vui

Bãi xa, sân rộng, chân đồi

Lưng trâu ngất nghểu, rong chơi khắp làng

Nón mê chẳng khác tàn vàng

Roi tre vung vẫy nghênh ngang một vùng

Nón mê là nón cũ, rách nát. Mà nón rách cũng gọi nón cời. “Ông già ông đội nón cời/ Ông ve con nít, ông trời đánh ông”. Đánh là phải rồi. Già mà không nên nết. Lại nhớ lúc lên trung học, học bài văn tế của cụ Đồ Chiểu, có câu: “Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi; trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ”. Thế, nón gõ là nón gì? À, loại nón làm bằng tre ghép, vừa vặn cái đầu mà binh lính thời xưa thường đội. Trước đó nữa, người lính nước Nam đội nón dấu. Dấu vết ấy, còn lưu lại trong câu ca dao: “Ngang lưng thì thắt bao vàng/ Ðầu đội nón dấu vai mang súng dài” - một loại nón cũng bằng tre nhưng trên đỉnh có chóp. Lại nhớ, nhà văn Khái Hưng tập truyện ngắn Đội mũ lệch. Cái mũ, hiện nay đã quá quen thuộc, thế nhưng từ bao giờ người Việt… đội mũ?

Câu hỏi nghiêm túc cứ nghe như đùa. Đã lâu lắm rồi, mua được bộ Công nghệ mới Việt Nam (4 tập) của Tòa Tu thư Phủ Thống sứ Bắc Kỳ do Phượng Nam soạn thập niên 1930, trong đó có đoạn: “Đầu thế kỷ XX, khi sang giao thương làm ăn tại Việt Nam, người ngoại quốc vẫn đội thứ mũ làm vải mềm. Loại mũ này gọn, nhẹ và mát. Trong khi đó, người Việt Nam ta dù mặc Âu phục hoặc khăn đóng áo dài thì vẫn đội khăn xếp hoặc che dù hoặc đội nón. Nhận thấy loại mũ này nhiều ưu điểm nên ta dần dần sử dụng theo, nhưng phải mua của người nước ngoài, dù vậy hàng vẫn không đủ bán. Khoảng từ năm 1912, ông Crévost là Chánh Viện Bảo tàng Maurice Long đã truyền nghề làm mũ bằng vải cho ông Nguyễn Như Khuê tại Hà Nội. Ông Khuê sau khi học được nghề đã truyền lại cho nhiều người khác và mở cơ sở sản xuất tại Hà Nội”. Thông tin chỉ có thế.

Thế thì, câu thành ngữ Mũ ni che tai ra đời từ lúc nào? Khỏi cần dài dòng, ai cũng hiểu rõ nghĩa bóng, đại khái chỉ thái độ cầu an, giả điếc làm ngơ hoặc không quan tâm những sự việc xảy ra xung quanh, nói cách khác là không can thiệp, không ý kiến ý cò, không tọc mạch, không thèm quan tâm tìm hiểu chuyện thiên hạ, ai nói/ làm gì cũng mặc, cứ “phớt tỉnh Ăng lê”. Mũ ni có phải là loại “mũ làm bằng len, sợi, có diềm che kín tai, thường dùng cho người già” như Đại từ điển tiếng Việt giải thích? Đúng thế, nó còn là loại mũ dành cho người xuất gia, tu hành, truyện thơ Nôm Nhị độ mai có câu: “Gác ngoài phú quí một tràng/ Mũ ni, tràng hạt, quyết đàng xuất gia”.

Với y, một điều đáng ngạc nhiên, có thể liệt kê ra thêm nhiều loại mũ nhưng tại sao từ điển nước nhà lại không ghi nhận nón mũ cối/ nón cối? Trước năm 1975, nếu từ điển in ấn trong Nam không ghi nhận đã đành nhưng từ điển ngoài Bắc cũng chẳng khác gì. Thậm chí,  bộ Đại từ diển tiếng Việt (1999) của Trung tâm Ngôn ngữ và văn hóa Viêt Nam thuộc Bộ Giáo dục và đào tạo không quên nốt. Có thật không đấy?

Hãy xem ở phần mũ, chỉ có: mũ bạc, mũ biên phòng, mũ bê-rê/ mũ nồi, mũ bình thiên, mũ bịt tai, mũ cánh chuồn, mũ cát-két/ mũ lưỡi trai, mũ chào mào/ mũ ca lô, mũ mãng, mũ mấn, mũ miên, mũ phớt, mũ tai bèo, mũ trụ; phần nón chỉ có: nón bài thơ, nón chân tượng, nón chóp, nón cời, nón cụt, nón dấu, nón dứa, nón gõ, nón lá nón mê, nón ngựa, nón quai thao, nón thúng, nón tu lờ. Rõ ràng, không chỉ mũ cối/ nón cối mà còn nhiều loại khác cũng đã bị bỏ sót. Về cái nón cối/ mũ cối ấy đã đồng hành trong cuộc chiến tranh dài đằng đẵng, do đó quên loại nào không sao chứ nếu quên nó thì e khó chấp nhận.

Sau khi đã mày mò, mọt sách qua nhiều quyển từ điển vẫn không tìm thấy, may quá, gần đây Phương ngữ Nam Bộ (2015) của nhà nghiên cứu Nam Chi Bùi Thanh Kiên có ghi nhận: “Nón cối: a. Loại nón cứng trũng lòng, đáy tròn làm bằng cây mướp sác bào mỏng dán lại, ngoài phất vải kaki dày; b. làm bằng nhựa cứng, phất kaki xanh chế tạo ở miền Bắc”. Cách giải thích này, ta bàn sau nhưng đáng quý là đã được nhắc tới nón cối.

Nhân đây, nói luôn, một khi ai ai cũng gọi nón cối/ mũ cối thì Bách khoa từ điển quân sự Việt Nam (NXB Quân đội nhân dân-2004) do Bộ Quốc phòng biên soạn lại gọi “nón cứng”. Đọc và hiểu rằng, nó có hình dáng gọn, quả mũ hình bán cầu, xòe ra ở phần tán, đại khái thời “chín năm” được làm bằng phương pháp thủ công, đan bằng nan tre, ngoài lợp vải dù, quai bằng sợi dâu dù, còn gọi “mũ nan”. Sau năm 1975, ở miền Bắc đã có xưởng sản xuất, cốt  mũ làm bằng gỗ xốp nhẹ hoặc bằng bột giấy ép định hình trên khuôn nhôm, bên ngoài cốt lợp vải chéo, trong lòng được sơn và và gắn cố định vành cầu bằng cốt tre đan có bọc bên ngoài. Tất nhiên có quai bằng da hoặc vải giả da. Về sau nữa, nó lại cải tiến công nghệ là làm bằng bột gỗ, có keo tổng hợp chống thấm…

Những ai đã từng đi bộ đội ắt có tình cảm, cảm nhận về cái mũ cối/ nón cối này. Cụ thể ra làm sao? Hãy nghe nhà kịch Đoàn Tuấn tâm tình vài kỷ niệm của người lính thời chiến tranh Tây Nam: “Khi qua suối qua sông, lính vục mũ, múc nước, ngửa cổ uống ngon lành. Có thể chuyền tay nhau uống nữa. Khi đi cải thiện, hái rau rừng, mũ biến thành cái rổ. Nhỏ xinh. Khi đi tắm, mũ biến thành cái chậu đựng đồ. Tuy không có xà phòng, nhưng áo quần vẫn thơm phức mùi mồ hôi dầu của lính. Đang hành quân, dừng nghỉ, ngay lập tức, lính ngả mình trên đất, ngửa mũ ra, làm thành cái gối. Mái đầu nằm gọn phía trong, lại có vành mũ như tấm rèm che nắng, kém chi giấc ngủ nơi thiên đường. Cũng có người úp mũ xuống đất, gối đầu lên. Giấc ngủ kéo đến liền. Lạ thay, anh ta cứ ngủ vậy. Không trở mình sang phải hay trái.

Ở An Lungvieng, khi trung đội vận tải không còn xoong lấy cơm (vì khi đi truy quét, đêm ngủ, nước lũ tràn về, xoong chậu trôi đi hết), lính phải mang mũ cối đi lấy cơm. Có sao đâu! Nhưng đôi lúc, mũ biến thành vũ khí. Khi ở Choăm Sre, thấy hai lính uýnh nhau, cầm mũ cối xông vào, đập loạn xạ. Đại trưởng cầm AK, lia một loạt lên trời, cả mới tạm ngưng chiến. Nhưng đến tối lại ôm cái mũ vào lòng và uống... hà thủ ô bên nhau. Lính là thế!

Có điều mũ cối của ta tồi, không bền. Mới dùng mấy tháng, vải đã sờn, mép đã quăn, rạn vỡ. Minh sứt xé hết vành, còn lại cái chỏm, chụp lên đỉnh đầu. Đính vài cái lông con công lên. Trông như nhà ảo thuật. Hành quân qua phum, dân trố mắt. Trẻ con cởi truồng chạy theo, cười reo. Minh sứt gườm gườm nhìn. Trợn mắt. Lũ trẻ khóc thét. Minh lại nhe răng cười. Đùa tí cho vui. Có lính mới về. Hôm trước đến đơn vị. Hôm sau đã hy sinh. Kiểm nghiệm di vật tử sỹ. Ba lô, quần áo thì gửi về gia đình. Mũ thì giữ lại. Anh em không có mũ tranh nhau. Đời lính ngắn hơn đời mũ.

Hôm đi với C7, lính vướng mìn. Y tá Vương nhăn mặt. Nhặt nhạnh những mảnh thịt bay tứ tung, trộn đầy đất cát, bỏ vào mũ cối. Về nấu nước nóng, rửa sạch, chôn cùng tử sỹ. Sau đó, mới rửa mũ. Không có xà phòng, lấy cỏ và lá rừng chùi cho đỡ mùi tanh. Đội tiếp. Có thấy gì đâu! Mũ lính, một hình dạng, mà có đủ thứ mùi. Mùi nào cũng thân thương”. Nghe bạn nhắc lại, chao ôi, lại nhớ về một thời đã xa. Rưng rưng. Nhớ lại những câu thơ của một thời đã viết: “Câu thơ nào ghi nguệch ngoạc/ Trong trang nhật ký đường rừng/ Sau phút giải lao vội vã/ Xốc ba lô lại hành quân/ Câu thơ nào ghi vành mũ/ Đỏ ngời trận đánh đầu tiên/ Đâu cần biết ngày nhớ tháng/ Kỷ niệm đã có tên riêng”. Tiếc thời ấy, y chẳng có điều kiện chụp tấm hình đội nón cối thiệt oách xà lách, nay có thể khoe chơi. Cũng tiếc nốt khi đã không còn giữ lại cái nón cời của mẹ, sau ngày mẹ mất. Thôi thì, hãy đọc lại câu ca dao:

Có duyên dầu mặc áo tơi

Đầu đội nón cời duyên vẫn còn duyên

Thú thật, y cũng cực kỳ có tình cảm với chiếc nón cời. Một phần biết đến nó do từ lời ru của mẹ, mà cũng do sau này đọc tập phóng sự Tôi kéo xe của nhà văn Tam Lang. Lâu quá rồi, sách không tái bản. Hôm nọ đồng nghiệp ở NXB Văn Học có điện thoại nhờ y bằng mọi cách liên hệ với gia đình nhà văn để bàn về bản quyền tái bản. Chịu chết. Không thể mày mò ra manh mối. Trong quyển này, Tam Lang đã liệt kê ra tám cái lợi ích từ chiếc nón cời của giới phu xe. Càng đọc càng thương hạng người nghèo. Cái khó ló cái khôn. Họ đã tận dụng được biết bao lợi ích, nay, chắc gì ai có thể hình dung ra nổi:

“Ghé vào túp lều bán nước của bà lão phố Hàng Chuối, tôi làm một trinh nước chè tươi. Nước vừa vào khỏi cổ đã toát ngay ra lỗ chân lông rồi, tôi cởi áo, phanh ngực ra, cầm một vạt mà... phẩy.

- Bỏ nón ra mà quạt có làm sao, để làm gì trên đầu ấy!

Chẳng để ai đáp, cũng chẳng chờ ai hỏi, một anh phu xe khác cũng ngồi hàng nước với tôi lúc ấy, nói ba hoa về chuyện cái nón, một thôi dài:

-... Cái nón cu li xe có ba đồng xu mà dùng được nhiều việc hơn cái ô trắng đồng hai. Nó là lá mà nó tốt bằng mười vải ấy chứ lại! Mùa nắng thì chụp lên đầu, có gió thì che diêm để hút thuốc lào, mỏi thì lót xuống đít mà ngồi, khát không có hàng nước thì hứng nước máy. Lại còn lúc ngồi ngủ ở xe thì úp lên mặt cho khỏi ruồi nó bu lại; lúc nóng thì làm quạt, quạt; quần áo không kịp về nhà giặt, giặt ở đường, vắt áo thật ráo nước rồi tãi lên đầu vừa đi vừa phơi; mà túng nữa lại còn làm cả cái rổ đựng đồ mua chợ cho mẹ đĩ.

Bốn giờ rưỡi chiều.

Bỏ mặc anh chàng vui chuyện, tôi đánh xe sang vỉa hè bên kia.

Gác hai càng xe lên bờ, tôi úp nón lên lòng, nằm dựa lưng vào sân xe, mơ màng nghĩ...

Trên cành cây, tiếng xé vải của những con ve kêu hạ”.

Đọc lại lần nữa đi. Tự dưng rưng rưng. Hạng người nghèo thời nào cũng tội nghiệp. Nghèo quá mà yêu lấy nhau thì sao? Có tội nghiệp không? Không hề, lại cảm thấy vui vui nếu như họ hạnh phúc, chan chứa tình cảm thủy chung. Trải qua hàng ngăn năm trên đồng cạn dưới đồng sâu,  sau lũy tre làng đã hình thành nên những cuộc tình bình dị như ca dao, như lời ru của mẹ: “Thân em như cái nón cời/ Như cái áo rách vá thời chưa may/ Chẳng lo gì áo rách tay/ Trời kia ngó lại vá may lại thường/ Áo rách có cách anh thương/ Nón cời có nghĩa anh thương nón cời”. Đọc lại lần nữa đi. Tự dưng bùi ngùi.

Thương quá.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 2 trong tổng số 57

trinhduyson