LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 10.7.2018

dao_hoc_ngay_nay_da_chan_roi_1R

 

Chừng hơn hai mươi năm trước, lúc mới chân ướt chân ra ra Hà Nội, có đồng nghiệp cắc cớ: “Đố Q ở Thủ đô một năm có mấy mùa?”. Tréo ngoe chưa? Thế mà cũng hỏi. Bèn trả lời. Trật lấc. Thật ra, có đến 5 mùa. Có thêm cả… mùa chạy giải thưởng, kết nạp hội. Bạn của y, tạm gọi nhà văn A, vốn nổi tiếng trong lãnh vực viết truyện thiếu nhi, uy tín sáng láng nên được mời vào hội đồng chấm giải chuyên ngành. Ban đầu, anh hào hứng vì thỉnh thoảng được mời ra thủ đô họp bàn, bỏ phiếu chung khảo… Cuối cùng, anh tự nguyện xin rút lui. Hỏi, tại sao? Anh cười mà rằng, đại khái do không thể chịu nổi áp lực phải nhận quà cáp, mời mọc bia bọt của nhiều đồng nghiệp bởi họ cần ở anh lá phiếu bình chọn. Ngồi cái ghế có quyền “ban phát” nọ kia, lại được nhiều người săn đón, điếu đóm, cầu cạnh nhưng anh A vẫn rút lui, há chẳng phải người có tư cách đó sao?  

Mà, thật lạ, từ nhiều năm nay, hễ khi công bố kết quả giải thưởng văn chương, phong tặng danh hiệu nghệ sĩ, nhà giáo nhân dân, phong chức danh giáo sư, phó giáo sư v.v…. lập tức lại ầm ĩ dư luận không đồng thuận. Gần đây nhất, báo chí lại “dậy sóng” với việc phong danh hiệu sĩ. Có hai điều lạ: một là, không chỉ không công khai số phiếu, không công khai danh sách Hội đồng cấp nhà nước xét duyệt hồ sơ nghệ sĩ; hai là, theo quy định thì nghệ sĩ phải làm đơn xin phong tặng danh hiệu! Đã “xin” thì mối quan hệ qua lại thuộc cơ chế “xin-cho”, chứ nào còn phải tặng, phong tặng nhằm tôn vinh tài năng của người nghệ sĩ?

Ông Nghè, ông Thám vô mây khói

Đứng lại đời sau một Tú tài

Sử sách còn ghi rành rành, cứ tưởng đùa, có những người dù không đậu Trạng nguyên, nhưng do có “công trạng đặc biệt” nên cũng được dân phong là “trạng”. Trạng dân phong có sức sống lâu bền, thậm chí còn hơn cả trạng do nhà nước phong. Bởi vì rằng, một khi những gì đã thuộc về dân, dân chấp nhận, dân tôn vinh thì sức sống ấy có thể vượt qua bụi mờ thời gian. Vấn đề đặt ra ở đây không phải đã thi đậu, đã học hàm, học vị gì mà họ đã làm được cái gì?

Về các ông trạng do dân phong tặng, có thể ghi nhận là một chuyên đề lý thú trong Folklore học Việt Nam, chắc chắn sẽ có các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian đi sâu tìm hiểu và lý giải vấn đề này. Trước mắt, có thể kể đến: Trạng Ăn (Lê Như Hổ), Trạng Quét (Lê Quát), Trạng Gióng (Đặng Công Chất), Trạng Bùng (Phùng Khắc Khoan), Trạng Vật (Võ Phong), Trạng Cờ (Vũ Huyên), Trạng Quỳnh (Nguyễn Quỳnh), Trạng Lợn (Dương Chung Nhi), Trạng Tả Ao (Vũ Đức Huyền), Trạng Ngộ (Nguyễn Xiển, còn gọi là Xiển Bột) Trạng Ngọt (Hứa Tam Tỉnh)... và một số trạng không rõ tên như Trạng Gạt, Trạng Độn, Trạng Khiếu...

Có một số ông trạng, dân gian không gọi tên thật mà kính trọng gọi bằng cái tên khác - với nhiều lý do như trạng có sở trường về chuyên môn đó; hoặc có công truyền nghề cho dân; hoặc gắn liền với địa danh sinh ra Trạng. Chẳng hạn, Trạng Trình (Nguyễn Bỉnh Khiêm) - do được vua nhà Mạc phong tước Trình Tuyền Hầu, ngụ ý đề cao ông có  công khơi nguồn Lý học như anh em Trình Di và Trình Hạo ở Trung Quốc...; rồi ông lại được thăng tước Trình Quốc Công; Trạng Me (Nguyễn Giản Thanh) - do sinh ở làng Hương Mạc, tên nôm là Me, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc; Trạng Lường (Lương Thế Vinh) - do giỏi về tính toán, có để lại đời sau bộ sách Đại thành toán pháp; Trạng Chiếu (Phạm Đôn Lễ) - do có công dạy dân nghề làm chiếu; Trạng Bịu (Nguyễn Đăng Đạo) - do sinh ở làng Hoài Bảo, tên nôm là Bịu, huyện Tiên Du, Hà Bắc... Có Trạng do đi sứ có tài biện bác, ứng đối thông minh nên được vua Trung Quốc phong là “Lưỡng quốc Trạng nguyên” như trường hợp Mạc Đĩnh Chi, Phùng Khắc Khoan - dù ông Phùng không đậu Trạng, chỉ đậu Hoàng giáp...

Dù không đậu Trạng nguyên, chỉ mới Tú tài, trong số đó, còn có Tú Xương. Đời sau đã ca ngợi một thi sĩ tài hoa bậc nhất đất Nam Định, dù rằng thuở sinh thời, nhiều lần lều chõng đều trợt vỏ chuối. Âu cũng là… cái may cho nền văn học nước nhà. Nếu thí sinh Tú Xương thi đâu đậu đó thì sức mấy: “Kìa ai chín suối Xương không nát/ Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn”. Tú tài mà làm thơ cỡ như Tú Xương kể ra hiếm lắm. Một khi đọc kỹ thơ của anh chàng tự trào: “Vị Xuyên có Tú Xương/ Dở dở lại ương ương:/ Cao lâu thường ăn quịt/ Thổ đĩ lại chơi lường” ắt nhận ra rằng đó là… một nhà báo chuyên nghiệp. Có điều, ông viết phóng sự bằng… thơ trào phúng! Do tài năng tót vời, một khi thời sự đi qua nhưng các câu thơ ấy vẫn “đứng lại”, vẫn tạo thành một bức tranh chính trị-xã hội của một thời quá vãng. Trong cõi trường văn trận bút trùng trùng điệp văn tài chữ nghĩa, vàng thau lẫn lộn ấy; trong chốn quan trường nhộn nhạo mua quan bán chức lẫn có thực tài ấy, điều gì sẽ khiến đời sau còn nhớ đến họ?

Về thơ trào phúng, đồ đệ của Tú Xương nhiều lắm, thí dụ Tú Mỡ. Khi ta gọi Tú Mỡ,  đó chỉ là bút danh của Hồ Trọng Hiếu; nhưng gọi Tú Xương thì nó vừa bút danh, vừa phản ánh cả học vị của Trần Tế Xương. Thế thì sao lại không lẩn thẩn tìm hiểu một vài nhà thơ đã có bút danh gắn với học vị? Âu cũng là một cách tìm hiểu về khoa cử của ngày xưa. Lý thú quá đi chứ? Chẳng rõ, có thể nhàm chán với người này nhưng hữu ích với người kia, mà thôi, tranh cãi làm chi, ít ra đọc và ghi chép cũng là một cách học đó thôi.

“Rớt Tú tài anh đi trung sĩ/ Em ở nhà lấy Mỹ nuôi con/ Bao giờ xong nợ nước non/ Anh về anh có Mỹ con, anh bồng”. Câu đùa tếu táo của một thời vẫn còn trong trí nhớ của nhiều người. Thế thì, Tú tài ra đời từ lúc nào nhỉ?

Xưa nay, các nhà cầm quyền muốn tìm nhân tài ra giúp nước, thông thường phải thông qua con đường khoa cử. Do sử sách không ghi chép hoặc tài liệu đã thất lạc, tiêu hủy trong binh đao nên khoa cử Việt Nam từ đời nhà Đinh, nhà Lê trở về trước rất khó khảo cứu. Ngay cả trong Lịch triều hiến chương loại chí, nhà bác học Phan Huy Chú (1782-1840) cũng chỉ viết: “Khoa cử bấy giờ còn thiếu, triều đình dùng người không câu nệ, không theo phép tắc cụ thể nào, sự cân nhắc còn rộng rãi, mà thực ra nội quy thi cử cũng chưa được tường. Điều này cũng dễ hiểu vì bắt đầu xây dựng, sự thể cũng phải như vậy”. Trải qua các triều đại, qua từng khoa thi có khác, nhưng đại thể như sau:

Từ năm 1396, vua Trần Thuận Tông quy định lại phép thi cử đặt ra thi Hương để chọn lấy cử nhân: cứ năm trước thi Hương thì năm sau thi Hội, ai đậu thì được tiếp tục thi Đình, do chính nhà vua ra đề để phân cấp bậc, thứ tự cao thấp. Thi Hương là do các địa phương tổ chức. Thi Hội là cấp thi Trung ương do triều đình tổ chức. Thế nhưng trước khi vào thi Hương, các thí sinh phải qua kỳ thi khảo hạch ở địa phương. Năm 1915, nhà văn Ngô Tất Tố đỗ đầu kỳ khảo hạch toàn tỉnh Bắc Ninh nên còn được gọi Đầu xứ Tố. Sau khi khảo hạch, những thí sinh đủ tiêu chuẩn mới được dự thi Hương gọi là Cống sĩ. Những người chỉ thi đậu qua ba trường (trường nhất, trường nhì, trường ba) hay còn gọi là ba kỳ thi Hương thì được gọi Sinh đồ, nhưng nếu có ông cha làm quan viên tử hoặc quan viên tôn thì được gọi Nho sinh; thi đậu bốn trường gọi là Hương cống, còn gọi Hương tiến. Đời nhà Nguyễn, những người thi đậu qua ba trường (trường nhất, trường nhì, trường ba) gọi là Tú tài (tương đương Sinh đồ đời Lê); đến trường tư, các Tú tài vào thi, người nào đậu thì xếp hạng Cử nhân (tương đương Hương cống đời Lê), số còn lại đều gọi là Tú tài. Nếu đậu đầu thi Hương được gọi là Giải nguyên, khi đi thi Hội được gọi là Cống sinh.

Đọc sử sách thấy có những người là Tú Đơn, Tú Kép, Tú Mền, Tú Đụp - nghĩa là sao? Tú Kép là những người hai lần thi Hương đều đậu Tú tài - như trường hợp nhà thơ trào phúng Hoàng Thụy Phương, thường gọi Trà, hai lần thi Hương tại trường thi Nam Định, khoa 1897 và 1909 chỉ đậu Tú tài nên người đời gọi là Kép Trà; Tú Mềm là những người ba lần thi Hương đều đậu Tú Tài - như trường hợp cụ Nguyễn Tông Khởi, bố của Tam nguyên Yên Đỗ, ba lần đậu Tú tài trong các khoa thi năm 1825,1841 và 1852 nên được gọi là cụ Mềm Khởi; Tú Đụp là những người bốn lần thi Hương thì bốn lần đậu Tú tài. Nhà thơ trào phúng tài hoa Tú Xương 8 lần lều chỏng đi thi nhưng cũng chỉ mỗi một lần đậu tới... Tú tài! Những người chỉ đậu như thế còn được gọi là Tú Đơn để phân biệt với các ông Tú khác.

Trong thi ca trào phúng miền Nam, ở Vĩnh Long có nhà thơ Nhiêu Tâm, do đâu? Để tìm nhân tài, thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613 - 1635) ở Đàng Trong đã mở những khoa thi tuyển gọi là “Xuân thiên quận thí”- chỉ diễn ra một ngày ở các trấn, quận - người thi đậu gọi là Nhiêu học. Khoa thi này thật ra chỉ tương đương với các kỳ khảo hạch trước khi thi Hương của vua Lê chúa Trịnh. Họ được miễn phu phen tạp dịch để có thời gian đèn sách trước khi dự thi Hương. Ông Đỗ Minh Tâm được gọi là Nhiêu Tâm là vậy. Nhà thơ Nguyễn Văn Lạc, quê ở Mỹ Tho sao lại gọi Học Lạc? Theo Theo nhà nghiên cứu Trịnh Vân Thanh: “Ông có trí thông minh từ nhỏ, nhưng nhờ học giỏi nên ông được tuyển thẳng vào ngạch học sinh, ngạch do triều đình nhà Nguyễn đặt ra, được cấp lương và được học tại trường của quan Đốc học. Do đó, người ta gọi ông là "học sinh Lạc", dần dần bỏ mất chữ "sinh", còn lại hai chữ "Học Lạc” (Thành ngữ điển tích danh nhân tự điển, in năm 1965 tại Sài Gòn, tr.501).

Đạo học ngày nay, có gì khác trước?

Không dám lạm bàn, chỉ xin nêu hai ý kiến nhận xét chung về lối học ngày trước, nhà Hán học uyên thâm Phan Kế Bính có ý kiến: “Cách học của ta chẳng nói thì ai cũng biết là trái phép sư phạm. Tự lúc nhỏ cho đến lúc lớn, chẳng qua chỉ học trong hai khoa luân lý với văn chương. Mà luân lý lại theo nghĩa hẹp hòi, bó mình vào trong lễ phép quá, làm cho người ta không thể theo được, văn chương thì cũng phù phiếm, người nước Nam mà bàn việc Nguyên, Minh, chuyện Đường Tống, ngồi xó nhà mà tả những cảnh Hoàng Hà, Thái Sơn, thực là “ngồi cầu Đơ mà nói quán Mọc”... Ngoài khoa văn chương luân lý thì không còn khoa gì nữa, thể thao chẳng có, kỹ nghệ cũng không. Ai học rộng ra đến thiên văn, địa lý, y khoa lý số một chút đã cho là “vạn sự xuất ư nho”, mà rút lại thì chẳng nghề gì là học cho đến nơi đến chốn. Học thuật của ta hủ bại như thế, trách nào mà trí thức của ta chẳng mờ mịt, văn minh của ta chẳng kém xa các nước” (Việt Nam phong tục, NXB TP.HCM tái bản 1990- tr. 158- 159).

Nhà giáo Phạm Thế Ngũ cũng có ý kiến tương tự: “Về kết quả đào tạo thì chương trình giáo dục ấy chỉ tạo nên một người trí thức tinh luyện về đạo đức, văn chương, lịch sử, triết lý, trong phạm vi hiểu biết của thế giới Trung Hoa xưa. Nó thiếu hẳn về phần chuyên nghệ. Nhưng cổ nhân có câu “Sĩ khả bách vi” hay “Vạn sự xuất ư nho”. Một khi thi đậu ra làm quan trị nước rồi mới tìm coi thêm những sách về pháp luật, binh bị, toán số, về chế độ, phong tục, lịch sử, địa dư nước mình. Đó là cái học trực tiếp thực hành coi làm phần phụ sau cái nồng cốt về văn hóa và lý thuyết ở trên kia” (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên –NXB Quốc học tùng thư in năm 1961- tr.79).

Ý kiến về “cái học trực tiếp thực hành” rất đáng suy nghĩ, bởi lẽ cái học ngày nay có hướng theo xu thế đó không?


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 7.7.2018


Thay_giao

Thời tiết nóng. Một ngày trôi qua nhanh chóng. Há miệng ra ngáp, chưa kịp khép lại đã trôi tuột một ngày. Ngay cả các sự kiện chính trị, xã hội vừa mới rôm rã, ồn ào, vài ngày sau đã lặn sâu; nổi lên trên bề mặt lại là thông tin khác. Cứ thế. Chẳng mấy chốc, hết một ngày. Thời buổi này, chẳng rõ, có còn ai kiên nhẫn chọn lọc, ghi nhận lại sự kiện mỗi ngày như trước kia ông Đoàn Thêm đã tẩn mẩn, tỉ mỉ ghi chép để có được các tập Việc từng ngày suốt nhiều năm liền? Khó lắm. Mỗi ngày còn phải lo toan biết bao nhiêu chuyện vặt vảnh, còn đâu thời gian? Mấy hôm nay, dự định sẽ ghi lại những gì liên quan đến ký thi tốt nghiệp trung học phổ thông vừa diễn ra từ ngày 25.6 đến 27.6, nhưng rồi cũng bỏ khuấy luôn. Có chăng chỉ là vài con số, chẳng hạn, hơn 925.000 thí sinh đăng ký dự thi; 45.000 là con số giảng viên từ các trường đại học sẽ tỏa đi 63 tỉnh, thành tham gia công tác coi thi. Thôi thì, lực bất tòng tâm. Đành chịu. Hãy quay về với chuyện thi cử ngày xưa.

Trước kia, cứ nghĩ, nhà văn Ngô Tất Tố vẫn là cây bút phóng sự lỗi lạc, từng trải chuyên viết về đề tài nông thôn ở miền Bắc. Nói cách khác, muốn tìm hiểu ngóc ngách thân phận đời thường của người nông dân thuở ấy, đọc gì thì đọc nhưng không thể bỏ sót tác giả Tắt đèn. Nào ngờ khi đọc Lều chõng, lại thấy một Ngô Tất Tố khác, đó là lúc ông dựng lại không khí thi cử ngày ấy. Có những sự việc, nếu đọc sách nghiên cứu ắt cảm thấy nặng nề, dù cần thiết, dù khoa học, dù chính xác nhưng vẫn không hấp dẫn bằng các trang viết mà nhà văn đã lồng vào tình tiết thông qua các nhân vật. Đọc Lều chõng với các nhân vật Vân Hạc, Đức Chinh, Đoàn Bằng, Đốc Cung…; hoặc Bút nghiêng của Chu Thiên, ta vẫn cảm thấy hấp dẫn hơn, dễ nhớ hơn.

Thi cử ngày xưa ra làm sao? Từ những gì đã đọc của  nhà văn Ngô Tất Tố, Chu Thiên và vài tài liệu khác, y ghi chép lại đôi dòng - dành cho những ai cần tìm hiểu nhưng không có thời gian ngốn vài trăm trang sách. Này, thử nêu vài nét khái quát chung về việc học tập của đứa trẻ thuở xưa? Rằng, hầu như làng nào cũng có những trường học dành cho trẻ em. Không phải là trường công lập của nhà nước; hoặc cũng không phải trường tư như quan niệm hiện nay. Mà phổ biến nhất là trường thiết lập tại nhà riêng của một người giàu có trong làng, tự nguyện đài thọ cho thầy để dạy dỗ con em trong nhà. Những người hàng xóm cũng đưa con đến học, họ xin góp chung tiền với chủ nhà để cùng lo cho thầy - với quan niệm “đạo thánh là đạo rộng” nên chủ nhà chẳng hẹp hòi gì. Nhưng trường cũng có thể là của bậc thức giả trong làng, không phải lo chạy gạo hằng ngày, ngồi dạy trẻ trong nhà rồi nhân tiện dạy luôn trẻ nhà người.

Thầy có thể là người giỏi chữ từ xa đến; hoặc người trong làng có học kinh sử nhưng chưa đỗ đạt, ngồi dạy học để chờ lúc triều đình mở khoa thi thì tiếp tục lều chõng, thường gọi là thầy đồ, thầy khóa. Trong thời gian dạy học, thầy ở luôn trong nhà người ta, mọi cơm bưng nước rót đều có người lo chu tất. Trong bài Phú đồ ngông, cụ Nguyễn Khuyến dẫu có viết những câu giễu cợt, nhưng đúng với “phong thái” của ông thầy ngày xưa: “Bốn cóng kê giường; vài chồng cặp sách/ Cơm trắng canh ngon; ghế cao chiếu sạch/ Chữ “thánh phù”/ Câu “thiên tích”/ Chậu thau rửa mặt tầm váo tầm vênh/ Điếu sứ long đờm, cóc ca cóc cách/ Thần Kiêu Kỵ xôi gà tùy thích, ông đã nên ông/ Bụt Nam Xang oản tẻ chẳng từ, khách thời mặc khách”. Chỗ ngồi dạy của thầy thường là gian nhà ba gian, kê cái giường cho thầy nằm ngủ, một cái sạp để tiếp khách, một cái phản để thầy dạy học, chấm bài... Học trò dù lớn nhỏ cũng đều trải chiếu ngồi dưới đất, hoặc ngồi trên giường thấp hơn phản ngồi của thầy.

Đứa trẻ muốn thọ giáo với thầy thì cha mẹ phải làm lễ “khai tâm”. Lựa ngày lành tháng tốt cha mẹ đứa trẻ đem xôi gà, rượu... đến thưa với thầy và chủ nhà cho con em mình nhập học. Thầy mặc áo dài, đầu chít khăn đen khi khấn lễ khai tâm, còn đứa trẻ cũng lễ ba vái bốn lạy. Sau đó, mọi người cùng ăn lễ, đứa trẻ ưu tiên được ăn mắt gà với ngụ ý mắt sáng để tiếp thu nhanh chữ của thánh hiền, không cho ăn chân gà sợ khi viết run tay... Nếu gia đình khá giả hơn thì họ làm cỗ cúng, cáo yết gia tiên mời thầy và bà con xóm giềng đến nhà chứng kiến lễ khai tâm cho con em mình. Ăn uống xong, nếu trong làng có nơi thờ Đức Khổng Tử thì thầy dẫn trò ra đó ân cần giảng cho trò nghe về đạo Thánh hiền để trò ý thức về việc học của mình sau này.

Buổi sáng, nghe tiếng gà gáy đầu thôn, thầy đã dậy, khăn áo chỉnh tề, uống trà và cũng là lúc học trò lũ lượt kéo đến trường. Trước tiên đứa trẻ được thầy dạy tập viết, nhưng nó chưa được cầm bút lông mà cầm que tre vạt nhọn một đầu. Thầy cầm tay trò lấy cây que thấm nước viết những chữ ít nét trên tấm ván gỗ cho quen tay; hoặc chỉ cho nó viết trên mảnh gỗ có khắc nét chữ sâu xuống, đầu “bút” dựa theo những đường rãnh đó mà không chệch ra ngoài... Tập dần cho quen tay để nó thuần thục trước khi cầm bút lông để viết.

Dần dần, thầy viết bút son cho trò cầm bút lông tô nét mực lên trên, khi viết phải tập kéo bút chỉ một lượt mà tô kín nét son của thầy. Rồi thầy lại viết chữ trên một tờ giấy, đặt xuống dưới trang giấy của trò, bảo nó nhìn theo đó mà “đồ” theo bóng chữ của thầy. Trong quá trình tập viết, thầy dạy cho trò biết nét nào viết trước, nét nào viết sau, chữ nào viết trước chữ viết nào sau. Chẳng hạn, chữ Minh, ghép bởi chữ Nhật bên trái và chữ Nguyệt bên phải; nếu viết ngược lại là “trái cựa”, đứa trẻ bị thầy lấy bút khuyên tròn miệng gọi là phạt “vòng mép” suốt ngày không cho rửa; nếu viết chữ như gà bươi thì thầy lấy roi ghè vào tay.

Học xong lớp học của thầy trong làng, các học trò mới đến tập làm văn, nghe giảng sách ở trường của các ông Nghè, ông Bảng là những bậc cao; hoặc lên huyện, lên tỉnh học tiếp. Học để làm gì? Đi thi. Biết bao giờ này mới thay đổi? Ngày xưa, sĩ tử bước vào trường thi bị ràng buộc bởi những luật lệ nghiêm ngặt, hà khắc của “trường quy” - những quy định trong việc làm bài! Có thể kể đến một vài quy định:

“Trọng húy” là không được dùng bất cứ chữ gì có dính dáng đến tên nhà vua; “khinh húy” là tên những bà vua, mẹ vua, hay tiên tổ lâu đời của nhà vua.  “Khinh húy” khi làm bài nếu dùng chữ đó thì phải viết bớt đi một nét, nhưng “trọng húy” thì tuyệt đối cấm. Nếu thí sinh phạm “khinh húy” thì bị đóng gông phơi nắng suốt mấy ngày liền và suốt đời cấm thi; phạm “trọng húy” thì chẳng những thí sinh bị tù tội mà đến cả những ông huấn, giáo, đốc học dạy dỗ họ cũng bị khiển trách giáng cấp.

Nếu lỡ viết rồi thì có xóa đi được không ? Không! Theo quy định, muốn xóa bỏ một chữ nào thì, chỉ cần chấm ba cái vào mặt chữ để quan trường còn nhìn rõ chữ đó; nếu bôi đen không ai đọc ra thì phạm vào tội “đồ bất thành tự”. Vậy cách tốt nhất là xé bỏ tờ giấy đã viết, nếu trang đó không có đóng dấu “giáp phùng”, còn không thì phải thay nguyên cả quyển bài thi! Dấu "giáp phùng" là gì? Thí sinh phải làm bài bằng quyển thi nhận từ tay ban tổ chức trước khi vào trường thi, trong đó có đóng dấu “giáp phùng” - để thí sinh không thể tráo những tờ khác vào và phải viết đè lên chỗ đóng dấu. Nếu thí sinh viết sai, muốn xé bỏ một tờ trong đó thì phải lấy giấy đóng thành quyển thi khác và xin quan trường đóng lại dấu “giáp phùng”. Dù phải viết đè lên dấu “giáp phùng” và ngay cả trong bài thi tuyệt đối cấm “đồ, di, câu, cải” tức là tẩy xóa, sửa chữa... nếu không sẽ bị tội “thiệp tích” vì bị nghi ngờ là có ý đồ đánh dấu thông đồng với quan chấm thi.

Tròng thời gian làm bài, lúc trời gần đứng bóng thì có tiếng trống báo hiệu cho họ cầm bài thi chạy nhanh ra nhà Thập đạo để lấy dấu "nhật trung”. Đây là chứng cớ bài làm tại trường thi chứ không phải viết sẵn ở ngoài đưa vào và thí sinh không được viết đè lên dấu này. Lúc trời về chiều thì có tiếng trống “thu quyển” - tức nộp quyển thi. Bấy giờ, trước khi đem nộp, thí sinh phải cộng các chỗ mà mình đã “đồ, di, câu, cải” và viết dưới chữ “cộng quyển nội” - để phòng quan trường gian lận chữa thêm vào. Nhưng nếu thí sinh nào để quá mười lỗi “đồ, di, câu, cải” thì cũng bị tội “thiệp tích”. Những thí sinh không được nộp bài trong trường hợp này gọi là “ngoại hàm”. Xong, hòm đựng bài được khiêng vào nhà Thập đạo.

Thông thường, trước mỗi kỳ thi, quan trường cho dán trước cửa trường thi bảng chữ húy. Trong đó, có cho biết những chữ “trọng húy dĩ hạ”. Thậm chí, khi viết bản thông báo như thế, nhưng người ta cũng không dám viết rõ chữ trọng húy. Vì viết rõ ra thì người viết cũng phạm tội “trọng húy”! Do đó, khi viết người ta phải giải thích làm sao đó để đạt đến nội dung cần thiết để thông báo. Chẳng hạn, khi đọc thấy câu như “Nhất tự tả tòng nhân, hữu tòng nhâm” thì phải biết đó là chữ “nhậm” (tên thật của vua Tự Đức: Nguyễn Phúc Hồng Nhậm) - vì bên trái chữ “nhân”, bên phải chữ “nhâm”, có nghĩa là “nhậm”. Hoặc đọc thấy câu “Nhất tự tả tòng nhật, hữu tòng ương” thì phải biết đó là chữ “ánh” (tên thật của vua Gia Long: Nguyễn Phúc Ánh) v.v...

Ngoài ra, còn có quy định “kính khuyết nhất bút” nghĩa là vì húy nhẹ của nhà vua mà cung kính bỏ đi một nét. Trong tờ làm bài thi, dòng trên cùng gọi là “du cách”, dưới là hàng thứ nhất, dưới nữa là hàng thứ hai và kế đến là hàng thứ ba. Thí sinh phải biết rõ như thế để khi gặp những chữ như thiên địa, giao miếu thì viết lên hàng “du cách”; gặp những chữ như hoàng đế, thánh thượng, long nhan... nghĩa là những chữ chỉ bản thân nhà vua thì phải viết vào hàng thứ nhất; nếu gặp những chữ tả đức tính, hành vi của nhà vua thì phải viết vào hàng thứ hai. Còn những chữ khác thuộc về văn bài thì thí sinh cứ việc viết ở hàng thứ ba. Quy định này gọi là “lệ đài”. Nếu “khiếm đài” là cho dù bài làm văn hay chữ tốt đến cỡ nào thì dứt khoát cũng bị đánh hỏng.

Còn nếu “khiếm trang” - là thiếu sự kính trọng với nhà vua thì không những bị đánh hỏng mà thí sinh còn phải chịu tù tội. Chẳng hạn, dùng những chữ như hôn (tối), bạo (dữ), sát (giết)... vô tình đặt trên những chữ có nghĩa là vua như quân, vương, đế thì không thể tha thứ được. Ví dụ, câu văn: “Thần vũ bất sát, đế đức quảng phu” (Oai vũ thiêng liêng không cần giết ai, đức nhà vua vẫn cứ lan rộng) - là câu ca ngợi công đức nhà vua. Nhưng do chữ “sát” đặt cạnh chữ “đế” nên có thể hiểu là “giết vua”- như thế là vi phạm vào lệ “khiếm trang”! Hoặc câu “Tam bách niên xã tắc chi trường, ninh phi lại ư thử tai” (Xã tắc nhà Đường dài đến ba trăm năm, há chẳng phải nhờ đến điều đó  hay sao!) thì hai chữ “trường ninh” đi cạnh nhau, khiến người ta liên tưởng đến cung của bà hoàng thái hậu thì cũng phạm húy!

Hoặc câu “Xuân sinh thu sái, đế đạo dữ thiên đạo nhi tịnh hành” (Mùa xuân sinh ra, mùa thu lại, việc đời của vua cũng đi đôi với việc của ông trời). Câu này thoáng đọc qua thấy bình thường, nhưng nó lại phạm vào tội “khiếm trang”! Đó là ở hai chữ “sái” và “đế”. Vì chữ “sái” nguyên là chữ “sát” (giết) mà chuyển âm, tuy đọc khác nhau nhưng mặt chữ cũng vẫn là một. Nó lại được đặt liền với chữ “đế” thì ta có thể đọc là “sát đế”! Hơn nữa, cho dù trong bài thi, thí sinh không chỉ rõ vào một ông vua cụ thể nào, hoặc phê phán ông vua Kiệt, vua Trụ vô đạo đâu đâu xa tít tận bên Tàu thì cũng bị ghép vào tội “khiếm trang”!

Trong quá trình viết bài, thí sinh phải tỉnh táo, cân nhắc từng chữ, chẳng hạn, chữ “sĩ” trong bài thi Hương nộp cho quan trường xem, cũng giống như chữ “thần” trong bài thi Đình nộp cho nhà vua ngự lãm - có nghĩa là “tôi” thì những chữ ấy phải viết nhỏ hơn các chữ khác, nếu viết lớn là phạm trường quy. Trong khi đó, oái oăm sao, các chữ “sĩ” khác trong bài thì vẫn viết bình thường, chỉ khi nào tự xưng mình thì mới viết nhỏ! Hoặc chữ “văn” (nghe) nhưng khi viết mình nghe thì viết bình thường, còn viết vua nghe thì dứt khoát phải “đài” lên, nghĩa là viết nhô cao hơn các chữ khác nếu không thì phạm tội bất kính với nhà vua.

Với quy định khắc nghiệt như thế nên không ít người văn hay chữ tốt, chỉ sơ sẩy một chút là hỏng! Đến nỗi nhà thơ tài hoa Tú Xương từng than “Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy”. Và ông từng hào hứng reo lên: “Phúc nhà nay được sạch trường quy”! Hai chữ “phúc nhà” nghe mới mỉa mai, cay đắng làm sao. Ấm sinh Nguyễn Hữu Chu dù nổi tiếng hay chữ, nhưng cũng không lấy nỗi Cử nhân vì thường phạm quy nên mới có câu đối chua chát:

Đã kinh luân, thi thố gì đâu, khi đắc ý, lúc rung đùi, nghĩ đỗ đến nọ nọ kia kia những...

Lọ khoáng đạt, phong lưu chi cả, kẻ tri âm, người nối khố, biết nhau ra đây đây đấy đấy thì...

Những chữ “nọ nọ kia kia”, “đây đây đấy đấy” và cuối mỗi vế đều bỏ lửng... cũng nhằm nỗi đến nỗi khổ của mình.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 24.6.2018


trang_bguyen_tr5ang_dabn_giabn_1R


Một khi đã không thể trình bày cặn kẽ suy nghĩ về một vấn đề nào đó, cách tốt nhất là hãy im lặng. Đã đọc đâu đó, ở trang sách nào đó, đại khái có người lên núi tu tập, một hôm xuống núi, thiên hạ hỏi: “30 mươi năm qua, ngài đã học được những gì?”. Ông ta đáp: “Tôi học cách im lặng”. Im lặng khó đến thế ư? Thời trẻ, hễ thấy gì trái trai gai mắt, thông thường con người ta há mồm ra xoèn xoẹt. Nhưng rồi, đến một lúc nào đó, họ lại chọn cách im lặng. Ấy cũng là lúc tuổi già đã đến; nếu chưa già, chỉ có thể là sự vô cảm.

Thời buổi này, chọn lấy thái độ nào cũng thấy khó. Thôi thì, hãy tự nhủ bằng câu thơ: “Khạc chẳng ra cho nuốt chẳng vào/ Miếng tình nghẹn lắm biết làm sao/ Muốn kêu một tiếng cho to lắm/ Rằng ối ai ôi, nó thế nào?”. Thơ Nguyễn Gia Thiều. Vấn đề là kêu lên với ai? Hay lại chọn cách như Tản Đà tiên sinh: “Bóng ơi mời bóng vào nhà/ Ngọn đèn khơi tỏ, đôi ta cùng ngồi/ Cùng nhau rãi một đôi nhời/ Ta ngồi ta nói, bóng ngồi bóng nghe”. Xét ra, tâm thế này cô đơn, não nùng quá đi mất.

Sao không chọn lấy cách nói với vợ? Thế lại hay. Y sẽ nói gì? Chớ dại nói năng, tâm sự, kể lể, chuyện trò về “miếng tình” đã qua. Dễ chịu nhất và khôn ngoan nhất vẫn là nói với nhau về “miếng ăn”. Nói rằng, thời buổi này, không khéo sẽ chết đói nếu học theo cách ăn của ngài Khổng Tử. Nghe lạ tai quá phải không? Tục ngữ Việt Nam có câu: “Đói ăn rau, đau uống thuốc”. Dễ dàng lắm. Dễ như lật bàn tay.

Thế mà, ừ, Khổng Tử có khác, ông ta bảo: “Cơm càng trắng tinh càng tốt, (càng thích), gỏi thái còn nhỏ càng tốt. Cơm hẩm và thiu, cá ươn mà thịt đã nhão thì không ăn. (Thức ăn mà) sắc đã biến, hư rồi, không ăn; mùi hôi cũng không ăn. (Có sách dịch là những vật trái mùa). Cắt không ngay ngắn (hoặc không đúng cách), không ăn. Nước chấm không thích hợp, không ăn. Dù có thịt, cũng ăn ít thịt hơn cơm. Duy có rượu là không hạn chế, nhưng không uống tới say. Rượu bán ở cửa hàng, không uống; thịt mua ở chợ, không ăn. Bữa nào cũng ăn gừng. Không ăn tới quá no. Tế ở công miếu rồi, được phần thịt thì phân phát ngay, không để cách đêm. (Vì thịt tế vào buổi sáng thì làm vào hôm trước, nếu để cách đêm nữa, qua ngày hôm sau là ba ngày, thịt ôi đi). Thịt cúng tổ tiên, không để quá ba ngày, quá ba ngày thì không ăn. Khi ăn, không đàm luận, khi ngủ không nói chuyện. Tuy là cơm thô, canh rau, mà trước khi ăn cũng cung kính cúng vái như lúc trai giới”. Đoạn này trích từ thiên Hương đảng của sách Luận ngữ, bản dịch Nguyễn Hiến Lê.

Bây giờ, mỗi ngày ra chợ, vào siêu thị ùa vào trong mắt không thiếu một thứ gì nhưng rồi vẫn nghi ngại, không dám mua bởi tự hỏi: “Có an toàn thực phẩm?”. Ước gì trở lại cái ngày mới chân ướt chân ráo vào Sài Gòn trọ học, dù thiếu thốn nhưng lúc được ăn là hoàn toàn yên tâm về chất lượng. Vẫn còn nhớ hoài dãy quán cơm bình dân dành cho sinh viên ở hẽm bên hông Trường Đại học Sư phạm ở đường Lê Văn Sỹ, ngay dưới dốc cầu Trương Minh Giảng. Nay hoàn toàn không con dấu tích. Con hẻm chật chội đã mở đường rộng, xuyên thẳng qua đường Nam Kỳ khởi Nghĩa. Mỗi thời mỗi khác.

Vừa rồi, tìm đọc lại quyển Hà Nội cũ in năm 1943 của Sở Bảo Doãn Kế Thiện (1891-1965), trong đó có kể về “xóm học trò” xưa. Đại khái, gần đến ngày thi, thí sinh các nơi tề tựu về Thăng Long. Tất nhiên họ phải ở trọ nơi gần Trường thi để thuận tiện việc đi lại và đỡ tốn kém, dần dần nơi ấy có tên gọi là “Xóm học trò”- tương tự như Xóm La-tinh ở Paris. Vị trí ấy khoảng đầu vườn hoa Cửa Nam cho tới ngõ Hội Vũ ở Hà Nội bây giờ. Cứ những năm Tí, Ngọ, Mão, Dậu có thi Hương thì hàng quán nơi này mọc lên, đón các thí  sinh đến ăn ở trở thành nơi đông đúc vui vẽ. Khoa thi càng đông thì các cô bán cơm, cho thuê phòng trọ ở Xóm học trò lại phát tài.

Các o Hà Nội đáo để, hóm hỉnh lắm, họ còn biết đặt ra bài vè để chào mời thí sinh. Nội dung như sau: “Ba gian nhà khách/ Chiếu sạch giường cao/ Mời các thầy vào/ Muốn sao được thế/ Mắm Nghệ lòng dòn/ Rượu ngon cơm trắng”. Sau khi “tiếp thị” hàng quán của mình, các o còn khôn khéo biết “đánh đòn tâm lý” vào những người đi thi: “Các thầy dù chẳng sá vào/ Hãy dừng chân lại em chào cái nao/ Đêm qua em mới chiêm bao/ Có năm ông Cử mới vào nhà em/ Cau non bổ, trầu cay têm/ Đựng trong đĩa sứ em đem kính mời/ Năm thầy tốt số hơn người/ Khoa này tất đỗ nhớ lời em đây”. Nghe thế, thí sinh nào mà không sướng phổng mũi? Dù mua bán nhưng lời mời chào lại thanh lịch, văn minh. Khác hẳn với thời buổi của phở quát, bún mắng, cháo chửi... cũng lên sóng truyền hình CNN (Cable News Network).

Có giai thoại cực hay mà ông Doãn Kế Thiện đã kể trong tập sách này. Thú lắm. Hãy ghi lại như một tài liệu cho những ai cần tham khảo vậy. Rằng, trong số các cô bán cơm có quán của cô Thanh. Ngày nọ, quán bên cạnh ồn ào tiếng đọc thơ, loạn xạ bình luận văn chương, thi phú của các sĩ tử. Ai đều cho thơ của mình là nhất, cãi nhau ỏm tỏi, ồn ào hơn cái chợ. Bấy giờ, ngồi chung quán có chàng trẻ tuổi tự xưng học trò nhưng chẳng hề thấy béng mảng vào trường thi, suốt ngày chỉ tì tì nốc rượu. Lúc nghe đám học trò cãi nhau rác cả tai, chàng bèn cất tiếng ngâm như cọp rống: “Thôi đừng đọc nữa, khổ tai tôi/ Cho cả nhà hàng bịt mắm thôi/ Tiếng súng bên thành kêu dậy đất/ Thần thi thánh phú ích cho ai?”. Từ "mắm" khiến ta nhớ đến câu thơ của Cao Bá Quát: "Ngán thay cái mũi vô duyên/ Câu thơ Thi xã, con thuyền Nghệ An". Thuyền Nghệ An thời ấy chuyên chở mắm bán xa gần. Ngon thì ngon nhưng so sánh câu thơ với mùi mắm thì éo le lắm lắm.

Biết bị chửi xéo, lũ cậu học trò nổi giận, lại đang say nên hùa nhau dạy cho kẻ lếu láo ấy bài học nên thân. Chẳng hề sợ hãi, chàng đứng dậy, lạ thay, chỉ với đôi đũa tre nhưng lại thừa sức gạt phăng các gậy, gộc đằng đằng sát khí. Lũ học trò hoảng sợ chạy tán loạn như vịt. Sau cuộc ẩu đả, chủ quán đuổi tất và buộc chàng phải trả hết tiền cơm rượu. Không nói, không rằng, chàng trả tiền nhưng lại thiếu 5 quan, bị cô chủ quán đòi lột áo. Quan sát nhìn nẫy giờ, cô Thanh tủm tỉm cười, bèn sai người mang tiền qua trả giúp. Về sau, có câu vần vè trêu chọc: “Cô kia kén cá chọn canh/ Đem tiền chực rước cái anh lạc loài/ Thực là đáng bực tài giai/ Có tài ăn bửa một hai đâm liều”. Cô Thanh cũng chẳng thèm “thanh minh thanh nga”, bỏ mặc ngoài tai lời đàm tiếu ấy.

Ít lâu sau, thiên hạ ngạc nhiên khi thấy cô kết duyên cùng lãnh binh Trần Thiện Minh - chính là anh chàng “lạc loài “ kia. Thì ra, lúc nước mất nhà tan, nghĩ rằng, cái học cử nghiệp chẳng hữu ích gì, chàng chuyên tâm theo võ nghệ, gia nhập quân đội và được danh tướng Nguyễn Tri Phương phong chức lãnh binh. Như vậy, giai thoại này diễn ra vào năm 1873 - năm giặc Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất.

“Có tài ăn bửa một hai đâm liều”. Nhân đây giải thích luôn vài từ có lên quan đến ăn, chẳng hạn, ăn bửa là ăn quỵt; ăn chõm là ăn chực; ăn gọ là ăn ghé - ăn của người khác, đồng nghĩa với ăn bòn, ăn khín, Nam bộ có câu “Ăn khín bà chín bẻ răng”; ăn mót là ăn nhặt - lượm đồ rơi rớt mà ăn, theo tự điển Việt-Bồ-La (1651) thì thuở ấy, ăn mót đồng nghĩa với ăn mày; ăn vả là ăn nhờ, ăn bám; ăn vã (dấu ngã) là ăn đồ ăn không v.v… Đủ kiểu ăn nhưng “ăn đất/ ăn bom/ ăn bùn” chắc chắn là ngủm củ tỏi; “ăn xôi nghe kèn” cũng là mặc áo sơ mi gỗ: “Giàu thì thịt cá cơm canh/ Khó thì lưng rau dĩa muối, cúng anh tôi đi lấy chồng/ Hỡi anh chồng cũ tôi ơi/ Anh có khôn thiêng thì anh trở dậy ăn xôi nghe kèn...". Kèn đây là kèn đưa đám. Đã thế, còn ăn cái nỗi gì?.

Thời trước, khoái chí nhất vẫn lúc được ăn yến tiệc do vua ban. Muốn thế, ngay từ trẻ nhỏ phải lo dùi mài kinh sử, rồi lều chõng, thi đậu, ra làm quan ắt có cơ hội. Mà thi cử ngày trước cũng không ít trường hợp oái oăm. Chẳng hạn, có trường hợp ngoại lệ dù không qua khảo hạch mà vẫn được thi Hương. Trong quyển Nam thiên trân dị tập của Vũ Xuân Tiên in năm 1917 cho biết: “Nguyễn Toàn An, người xã Thời Cử, huyện Đường An, sung làm lánh bính (lính coi  giữ và dọn cỏ ở cung điện) vào đầu niên hiệu Hồng Đức (1470- 1497). Nhân đêm trung thu, các quan vào triều chầu hầu. Bấy giờ ánh trăng mờ tối, vua ra đầu đề Trung thu vô nguyệt (Đêm trung thu không trăng) để các quan làm thơ vịnh. Vua nóng lòng chờ đợi mà chưa thấy ai lên tiếng.

Chợt thấy Toàn An quỳ dâng một bài thơ Đường luật. Mọi người cười ồ: “Lánh binh mà vẫn làm được thơ à?”. Vua sai xem lấy. Bài thơ làm bằng chữ Nôm, với câu kết như sau: “Chớ thấy phen này mà rẻ nguyệt/ Thu sau trông nguyệt, nguyệt càng cao”. Ai nấy đều thán phục, nhân đấy xin vua cho Toàn An được giải chức lánh binh để về quê đi thi. Sau đó, ông thi đậu Hương thí. Đến khoa Nhâm Thìn (1472), Toàn An đậu Bảng nhãn, lúc này ông mới 23 tuổi. Vinh quy được ít lâu thì cha mất.

Thời bấy giờ luật pháp rất nghiêm. Người nào trong khi để tang cha mà vợ có mang thì bị coi là vô đạo. Ông vì vậy thủ chế suốt ba năm, không dám gần vợ. Đến khi mãn tang thì ông mất, không có con nối dõi. Vua được tin này, lấy làm thương xót. Từ đấy mới bỏ lệ cấm sinh đẻ trong lúc cư tang” (Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam - tập II, , tr.1064, Viện Nghiên cứu Hán Nôm - NXB Thế Giới - 1997).

Mà giai thoại thú vị liên quan đến chuyện thi cử ngày xưa, kể ra cũng nhiều. Phạm Đình Hổ chép trong Vũ trung tùy bút, đọc lại, cứ như đùa: “Đầu đời Cảnh Hưng (1740-1786) có ông Ngô Thì Sĩ nổi tiếng là bậc hay chữ, bị bọn quan đương thời ghen ghét, khi đến thi Hội các khảo quan dò xét hễ thấy quyển nào giọng văn hơi giống thì bảo nhau: “Quyển này hẳn là khẩu khí Ngô Thì Sĩ”, thế là họ hết sức bới móc đánh hỏng đi. Trịnh chúa Nghị Tổ (Trịnh Doanh) biết có thói tệ ấy nên khi thi cử xong rồi, truyền đem quyển hỏng của Ngô Thì Sĩ ra duyệt lại. Các khảo quan bấy giờ, nhiều người bị truất phạt, nhưng vẫn không cấm chỉ được cái tệ ấy. Khoa Bính Tuất (1766), Ngô công bị bệnh tả, vào trường đệ tứ, cố làm qua loa cho xong quyển. Khảo quan chấm quyển bảo nhau: “Quyển này làm văn thì luyện đạt lắm, đáng là văn Hội nguyên, nhưng văn khí hơi yếu, không phải giọng văn Ngô Thì Sĩ”. Chấm đến quyển của ông Nguyễn Bá Dương lại bảo nhau: “Quyển này văn khí khác thường, giống giọng văn Ngô Thì Sĩ nhưng làm văn lại kém, Thì Sĩ tất không làm như thế”. Vì họ hồ đồ không biết định quyển nào là văn Ngô Thì Sĩ mà đánh hỏng nên Thì Sĩ mới đỗ hội nguyên”.

Về sau, ông Ngô Thì Sĩ để lại một sự nghiệp đồ sộ về văn chương, có tài kinh bang tế thế. Trong quyển Việt sử tiêu án, ông đã giải thích rõ ràng những từ thuộc khoa cử nước nhà mà nay không phải ai cũng tường tận. Về trạng nguyên, ai cũng rõ nhưng tại sao có lúc sử chép “Kinh trạng nguyên/ Trại trạng nguyên”? Ngô Thì Sĩ cho biết: “Đời nhà Trần thi cử có chia ra Kinh- Trại cũng như đời Thanh (Trung Quốc) chia ra Mãn - Hán. Vì đời Trần lấy Hoan - Ái (tức Thanh Hóa - Nghệ An) làm các châu ở xa, giáo dục chưa được thấm nhuần, nhân tài không nhiều bằng các kinh trấn, cho nên mỗi khoa thi lấy người giỏi nhất về bên Trại gọi là Trại trạng nguyên, cho ngang tài với Kinh trạng nguyên để tỏ ý khuyến khích”. Qua đó ta thấy sự phân biệt này là chính sách nhằm khuyến khích việc học, việc thi ở các vùng cao, vùng xa, không gần kinh đô.

À, lan man từ chuyện ăn qua chuyện thi cử, có chán không? Tất nhiên là không. Tại làm sao thế? Bởi vì rằng, đọc sách nhẩn nha rồi ghi chép đôi điều dù lộn xộn, lộn lạo cũng là một cách "Ta ngồi ta nói, bóng ngồi bóng nghe" đấy thôi.

 

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 21.6.2018

 

ban_ba_dao_sap_bao

Đến một lúc nào đó, thỉnh thoảng, con người ta lại nằm nhớ lại thời trai trẻ. Có phải cái thời “Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư” như chàng Huy Cận lúc ngạc nhiên, tự nhủ: “Vậy đó, bỗng nhiên mà họ lớn”? Không, với y, trước đó nữa. Ấy là khoảng thời gian còn mới tiểu học. Có những buổi trưa, cả nhà đang ăn cơm, nghe lanh lanh tiếng trẻ rao bán báo, ba của y liền sai ra mua. Tiếng rao báo, bây giờ đã thuộc về dĩ vãng xa lắc xa lơ. Đã xa cái thời, tờ báo không chỉ nằm trên sạp đợi người đến mua, nó còn được giao cho người bán dạo để phổ biến rộng rãi đến tay người đọc.

Từ  đầu thế kỷ trước, có lẽ người đầu tiên nghĩ đến cách rao báo để bán  là nhà báo, nhà cách mạng Nguyễn An Ninh - chủ bút tờ báo nổi tiếng La Cloche Fêlée (Tiếng chuông rè) - số đầu tiên ra ngày 10.12.1923. Dân Nam kỳ thuở ấy rất ngạc nhiên khi bắt gặp hình ảnh: một thanh niên học giỏi  từ Pháp về, mặc áo dài đen đạo mạo, tóc bềnh bồng rất... bụi đời, đôi mắt sáng quắc, người thấp, chắc da chắc thịt đã ôm chồng báo bằng tiếng Pháp chạy trên đường Catinat (nay Đồng Khởi), Bonard (nay Lê Lợi), d’Espagne (nay Lê Thánh Tôn)... cất tiếng rao lanh lảnh với giọng Parisien: “Tiếng chuông rè đây! Xin mời quý ông, quý bà! Tiếng chuông rè đây!”.

Có thể nói, hình ảnh cậu bé bán báo quá quen thuộc trong đời sống đô thị xưa nay. Từ thập niên 30 của thế kỷ XX, nhà thơ trào phúng Tú Mỡ có bài thơ miêu tả tâm trạng “người phát hành” đắc lực của các tòa báo: “Cất tiếng ra lanh lảnh vang đường/ Tôi đem những món văn chương chào khách/ Này tạp chí, nào tân văn tôi cắp nách/ Đón mời chư mặc khách tao nhân”. Có lẽ, đây là bài thơ hiếm hoi nói về người bán báo dạo - một bộ phận không thể tách rời khỏi hệ thống phát hành báo chí nước nhà. Thời ấy, cách rao báo chỉ đơn giản là “Báo mới đây! Báo X, báo Y đây!”.

Trải theo năm tháng cách rao cũng thay đổi dần. Người bán báo không chỉ cất giọng rao lanh lảnh mà họ còn nhờ đến “hệ thống âm thanh” khác. Đó là soạn trước lời rao, ghi âm lại và mở máy cho máy phát ra với âm thanh... điếc tai! Áp dụng “khoa học kỹ thuật” vào cách rao báo là điều bình thường, nhưng điều bất thường là nội dung rao thường thêm thắt, bịa đặt mà người nghe cũng... nổi da gà rợn tóc gáy! Không phải ngẫu nhiên mà trên tờ Người làm báo - Tạp chí lý luận nghiệp vụ của Trung ương Hội Nhà báo Việt Nam - số ra tháng 2.2000 có bài thơ nhắc nhở, nếu không muốn nói là phê phán một cách rao báo của tác giả Nguyễn Đình Quảng: “Lời rao không nêu tốt/ Chỉ toàn kể xấu thôi/ Dù xấu, rao chẳng nhỏ/ The thé thét vang trời:/“Cô gái tạt a-xít”/ “Chàng trai thiêu bốn người”/ “Con lại treo cổ mẹ”/ Cháu đâm ông, ruột lòi!” /Hẳn là người rao nghĩ:/ Càng kinh khủng, rụng rời/Hàng mình càng bán chạy/ Đắt như là tôm tươi/ - Hàng nào mà khiếp vậy?/ Có lời rao lạ đời?/ Xin thưa: - Hàng báo đấy!/ - Sao ghê thế, báo ơi!”. Cách rao này, phê phán là đúng rồi. Có điều đáng tiếc nhất, với nhiều người là hiện nay không còn nghe tiếng rao bán báo nữa. Ngay cả sạp báo bán lẻ cũng ngày một ít đi. Ngay tại Sài Gòn, Hà Nội muốn tìm mua tờ báo cũng khó, không còn dễ dàng như trước, chứ đừng nói ở các địa phương khác.

Mấy hôm nay, tự dưng lại nghĩ về cái nghề đã đeo đuổi từ thời trai trẻ. Quả thật,nhà báo đã khó sống hơn trước nhiều lắm. Nhiều tờ báo đã cáo chung. Lý do căn bản nhất vẫn là người đọc không còn náo nức tìm mua, cầm tờ báo như các thập kỷ trước. Đã qua rồi cái thời Nếu phải chọn lấy một nhà báo chân chính, không riêng gì y, với  nhiều người vẫn là… chàng Tintin của họa sĩ Bỉ Georges Remi (1907-1983).

Thời nhỏ, khi say mê đọc truyện tranh về các cuộc phiêu lưu của chàng ký giả tài ba này, y ước ao sau này sẽ được nối nghiệp. Muốn trở thành một nhà báo chuyên nghiệp phải được trang bị rất nhiều khả năng, có lúc phải là người có biệt tài điều tra cỡ Sherlock Holmes, phải có sức khỏe dẽo dai, có khi phải biết sử dụng nhiều phương tiện như biết lái máy bay, cỡi lạc đà, phóng xe hơi v.v… Rồi cần phải có sự dũng cảm, giỏi võ thuật, dám đương đầu với bọn xấu trong mọi tình huống. Nói cách khác đó là mẫu người sử dụng ngòi bút lẫn tấm lòng quả cảm, trung thực nhằm “trừ gian diệt bạo, cứu khổn phò nguy”.

Đủ chưa? Vẫn chưa đủ.

Thế thì, nhà báo còn phải trang bị thêm đức tính gì nữa?

Dám quả quyết rằng, từ đứa trẻ lên 9 đến cụ già 99 xuân xanh mỗi khi đã đọc Luky Luke đều mê “chàng hiệp sĩ bắn súng nhanh hơn cái bóng của minh”. Tại sao mê? Trả lời câu hỏi này, đã có lần y viết: “chàng làm gì? làm tấu hài? làm kịch?/ vạn lần không! chàng chỉ làm người/ giúp mọi người bằng tấm lòng hào hiệp/ rồi ra đi thăm thẳm phía chân trời/ chưa ngày nào chàng thư thả nghĩ ngơi/ rong ruổi đường xa cũng vì điều Thiện/ chàng không chết vì biết sống quên mình/ đơn giản vậy - chàng trở nên nổi tiếng”. Vâng một đức tính cần thiết cho nghề báo còn có thể nhìn qua chàng Luky Luke vẫn là “biết sống quên mình”. Thì hãy cứ xem, hễ hoàn thành bất kỳ nhiệm vụ nào, trong lúc thiên hạ bày tỏ lòng cám ơn bằng cách tổ chức chào đón linh đình, tuyên dương ầm ĩ thì chàng “cao bồi ròm” lại lặng lẽ, đơn độc, rong ruổi lên đường. Chàng Tintin cũng chọn lấy thái độ đó. Đó là sự chọn lựa của mẫu người phụng sự cộng đồng hoàn toàn không vì danh/ háo danh.

Từ ngày internet phổ biến toàn cầu - tín hiệu đáng mừng này cho thấy nghề báo không còn là “độc quyền” của một lớp người. Vai trò đó đã thuộc về cá nhân khi họ tham gia vào mạng xã hội với vài trò tìm kiếm, chia sẻ thông tin. Những thông tin nhanh nhậy đó, có lúc đã hỗ trợ cho các nhà báo chuyên nghiệp. Tuy nhiên, không loại trừ ai đó vì háo danh hoặc mục đích nào đó đã tung tin giả. Khôn khéo hơn vẫn là tin “nửa thật nửa giả” cứ như thật nhằm tung hỏa mù theo nghĩa “định hướng người đọc”. Phải chăng chỉ những ai tham gia mạng xã hội mới sử dụng chiêu này? Không. Không loại trừ, ngay cả có những người kiếm sống bằng nghề, đang hành nghề có giấy chứng nhận hẳn hòi cũng vậy thôi. Thế thì, y nghĩ rằng, điều cốt lõi làm nên uy tín của một nhà báo vẫn là bản thân họ, chứ không phải từ phương tiện “hành nghề”.

Hơn bao giờ hết, chúng ta đang sống trong năm tháng mà các nhà báo viết báo/ làm báo theo kiểu truyền thống đang âu lo, hoảng hốt thật sự hoay loay tìm cách níu kéo bạn đọc. Bạn đọc đang ở đâu? Họ đã ở trên các trang mạng xã hội, các nhà báo đang mất dần thị phần. Có phải thói quen tiếp nhận thông tin của bạn đọc đã thay đổi, đã khác trước? Đúng nhưng vẫn chưa đủ. Yếu tố thói quen ấy, không quen trọng. Có một điều cốt tử, quyết định sự tồn vong của nghề báo từ ngày báo chí ra đời đến nay vẫn là tính trung thực của người làm nghề.

Có trung thực với chính mình thì thông tin ấy ấy mới phản ánh đúng như sự thật vốn có. Bằng không đã là nguồn tin bị bóp méo, tô hồng thì dù công bố trên mạng xã hội hoặc theo lối báo chí truyền thống xưa nay cũng không thể níu giữ được bạn đọc. Bạn đọc thời buổi nào cũng thông minh, tỉnh táo và họ thừa trình độ, bản lĩnh nhận ra: “Một nửa cái bánh mì vẫn là cái bánh mì. Nhưng một nửa sự thật thì không còn là sự thật”.
 

Đến với nghề báo, y biết có những nhà báo không ngồi chờ những lời chúc tụng, biểu dương, ca ngợi. Với họ, lời cảm ơn ấy dù đáng quý, chỉ xin ghi nhận trong lòng. Mà điều cần thiết nhất, đây vẫn là khoảnh khắc mà chính họ soi rọi lại lòng mình. Liệu chừng thời gian qua, anh em nhà báo chúng ta có làm tròn trọng trách của một nhà báo Tintin, một hiệp sĩ Luky Luke mà đã công chúng tin cậy, gửi gắm lòng tin yêu?

Hiện nay tiện ích công nghệ đã cho phép “người người làm báo”, “nhà nhà làm báo”- thậm chí, trong chừng mực nào đó, họ còn có thể công bố thông tin nhanh hơn cách làm báo thời ông trùm báo chí Mỹ Pulitzer (1847-1911) đang “cực đỉnh”. Từ suy nghĩ này, y lại liên tưởng về sự đời dễ dàng của các tờ báo trước 1945. khi viết quyển hồi ức văn học Văn thi sĩ tiền chiến do Khai Trí in năm 1970 tại Sài Gòn, sau này NXB Hội Nhà văn tái bản (1994), nhà văn Nguyễn Vỹ có kể lại một câu chuyện, rồi kết luận: “Hầu hết những tờ báo của nhà văn, nhà thơ thời tiền chiến ở Hà Nội đều ra đời trong những trường hợp bất ngờ và lý thú đại khái như thế. Ấy là thời tự do lãng mạn, kỳ thú nhất trong văn học sử Việt Nam”.

Đại khái, thuở ấy, thập niên 1930 của thế kỷ XX có hai chàng trai trẻ đang nung nấu nhiều khát vọng, vào hôm tối chủ nhật, đi chơi về khuya, họ ngẫu hứng muốn ra tờ báo. Việc đầu tiên họ viết tay lá đơn bằng tiếng Pháp để sáng mai gửi ông Biện lý ở Tòa án đường Gambetta, trong đó nêu rõ: “Trân trọng báo cho ông biết rằng, trong 48 tiếng đồng hồ sau, chúng tôi sẽ ra một tờ báo bằng tiếng Pháp và Việt văn, tên là… chuyên về chính trị, xã hội và văn học. Tòa soạn đặt trên gác trọ sô nhà… phố Khâm Thiên, ngoại ô Hà Nội. Hai chúng tôi đều là chủ nhiệm”. Viết đơn xong, họ phân công viết bài, vẽ maquette để kịp sáng mai đưa nhà in. Không có tiền, họ xin nhà in cho in chịu 3 số. Và mượn thêm ít tiền để lo vài thứ lặt vặt như làm bãn kẽm tên báo, mua tem gửi báo... Chỉ có thế, đúng 8 giờ sáng ngày thứ Tư, tờ báo mới toanh ra lò. “Này tạp chí, nào tân văn tôi cắp nách/ Đón mời chư mặc khách tao nhân” vẫn là các đứa trẻ bán báo dạo, cất tiếng ra khắp Hà thành.

Nếu không là nhà văn Nguyễn Vỹ kể lại, ai dám tin có một thời như thế? Nhân đây nhắc lại, mới đây ngày 30.10.2017, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Ngãi, Trường Đại học KHXH và Nhân văn - ĐH Quốc gia TP.HCM đã tổ chức Hội thảo Nguyễn Vỹ - cuộc đời và sự nghiệp. Ban Tổ chức Hội thảo đã nhận được tất cả 36 tham luận của 35 nhà nghiên cứu, trong đó có: 29 nhà nghiên cứu ngoài tỉnh; 06 nhà nghiên cứu trong tỉnh và 9 người có báo cáo là thân nhân gia đình Nguyễn Vỹ. Điều ấy cho thấy tình cảm và sự đánh giá rất cao của giới nghiên cứu, phê bình văn học dành cho Nguyễn Vỹ. Các tham luận này, đánh giá tác giả Tuấn, chàng trai nước Việt ở lãnh vực nhà báo, nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo… Thế mới thấy tầm vóc Nguyễn Vỹ không nhỏ.

Với riêng y, dù chưa gặp mặt nhưng bao giờ trong lòng cũng dành cho Nguyễn Vỹ nhiều thiện cảm. Đơn giản chỉ vì, ông là là người sáng lập, điều hành tạp chí Phổ Thông. Thuở sinh thời, ba của y là độc giả thường xuyên. Tủ sách gia đình dày thêm dần các số báo Phổ thông. Trong đời ai cũng có “người ơn” đấy chứ, chẳng hạn, Nguyễn Vỹ là một trong những người đó, vì bằng tài năng làm báo, cụ thể tờ qua Phổ thông, y đã học tập được trong đó nhiều, nhiều lắm. Thế thì, một khi yêu mến tờ báoo nào đó, ngoài các nhà báo “nung nấu tâm can, vò võ trán” như con tằm rút ruột mà viết, y còn nghĩ đến các ông chủ biên, chủ bút, chủ nhiệm nữa.

Còn nhớ ngày 14.12.1971, Nguyễn Vỹ bị tai nạn giao thông trên đường đi từ Mỹ Tho về Sài Gòn, thọ 61 tuổi. Bấy giờ, tờ Thằng Bờm do ông sáng lập, các cộng sự có thực hiện số báo tưởng niệm ông. Số 86, tuần lễ từ 19 đến 26.1.1972. Trong số báo này, có in tứ tuyệt thủ bút Vũ Hoàng Chương khóc nhà văn đã viết câu thơ cực kỳ nổi tiếng: “Nhà văn An Nam khổ như chó”. Dù đọc đã lâu, nay y vẫn còn nhớ bài thơ Chuyến xe định mệnh: “Hàng cây xõa tóc chạy đâm nhào/ Ngược với chiều xe chúi mũi lao/ Trước mặt có gì nguy? Hẳn thế/ Không dừng lại được biết làm sao!”.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 28.5.2018

trantrungsang


Mỗi ngày, dành bao nhiêu thời gian cho facebook? Câu hỏi này, không thừa. Ngày kia, một đồng nghiệp bảo: “Vấn đề là làm sao kéo độc giả rời khỏi các trang mạng xã hội. Nếu không, báo giấy ngủm củ tỏi, ngay cả báo điện tử cũng lắc lư con tàu đi. Vậy lấy gì mà ăn?”.

Nhắc đến từ ăn, ngay lập tức trong trí nhớ của con người ta lại nhớ về những món ăn của thời hoa niên. Ngày ấy, mẹ nấu cho ăn. Rồi, sau này, vợ nấu. Ông Vũ Bằng may mắn có được bà Quỳ - người vợ nấu ăn ngon nên trong những trang Thương nhớ mười hai, phần hay nhất vẫn là lúc nhớ về món ăn. Viết tựa cho quyển Ngày đi trên chữ, nhà văn Nguyễn Nhật Ánh nói đúng, “đã là nhà văn thì sớm muộn gì cũng động bút đến đề tài ẩm thực, từ Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Bằng đến Võ Phiến, Nguyễn Văn Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lê Giang, Đoàn Thạch Biền... Món ăn vật chất như vậy có liên quan mật thiết đến món ăn tinh thần, vì nó là một sự tích lũy, gửi gắm của văn hóa rồi nghiễm nhiên trở thành biểu tượng của văn hóa”.

Có phải trong tiếng Việt, đồng âm dị nghĩa xuất hiện nhiều nhất vẫn là từ ăn? Vừa đọc trên facebook của người nọ, có liệt kê: “Ăn đi: Không có nghĩa là vừa ăn vừa đi, chỉ nhắc nhở ai đó ăn mạnh vào; Ăn mặc: Không có ăn gì cả, chỉ có mặc không thôi; Ăn nói: Cũng không ăn gì cả, chỉ nói không thôi; Ăn học: chủ yếu là học, quá trình học tập của một người, ăn không đáng kể”. Còn có thể đưa ra nhiều, rất nhiều thí dụ khác nữa.

Với y, đoạn văn viết về ăn ấn tượng nhất vẫn thuộc về Tản Đà. Ai đời, lại có câu văn như thế này: “Đồ ăn ngon, giờ ăn không ngon, chỗ ngồi ăn không ngon, không được người cùng ăn cho ngon: không ngon. Giờ ăn ngon; đồ ăn không ngon, chỗ ngồi ăn không ngon, không được người cùng ăn cho ngon: không ngon; Chỗ ngồi ăn ngon; đồ ăn không ngon, giờ ăn không ngon, không được người cùng ăn cho ngon: không ngon. Được người cùng ăn cho ngon, đồ ăn không ngon, giờ ăn không ngon, chỗ ngồi không ngon: không ngon”. Âu cũng là cách diễn đạt của một người lúc đã có hơi men chăng? Trong quyển Nghệ thuật chơi chữ trong văn chương người Việt (NXB Giáo Dục - 2004), nhà nghiên cứu Triều Nguyên cho rằng, “chỉ cần viết lại một câu như sau là đủ: “Ăn sẽ không ngon miệng, khi chỉ một trong bốn yêu cầu sau không ngon (hay không phù hợp): đồ ăn, giờ ăn, chỗ ngồi ăn, người cùng ngồi ăn” (tr.119). Nếu thế, còn gì Tản Đà?

Cá tính, bản lĩnh của nhà văn thể hiện ở văn phong, từ chọn chữ đến cách diễn đạt. Đọc văn bản đã ra đời từ thuở xa xăm, phải đặt vào trong bối cảnh chính trị - xã hội đương thời, mới có thể nắm bắt hồn vía về sự ra đời của nó trong thời điểm đó. Chẳng hạn, “Từ độ sầu đến nay, ngày cũng có lúc sầu, đêm cũng có lúc sầu. Mưa dầm lá rụng mà sầu, trăng trong gió mát mà càng sầu; một mình tĩnh mịch mà sầu, đông người cười nói mà càng sầu; nằm vắt tay lên trán mà sầu, đem thơ văn ngâm vịnh mà càng sầu. Sầu không có mối, chém sao cho đứt; sầu không có khối, đập sao cho tan…”. Đoạn văn này, Tản Đà viết đâu khoảng năm 1918, cứ nghe như thơ, như phú bởi điệu văn/ câu văn du dương biền ngẫu. Văn xuôi hiện  đại Việt Nam đã đi những bước đầu như thế.

Người ta bảo, muốn bình văn phải biết cảm. Đúng nhưng chưa đủ. Phải đọc nhiều nữa. Với đoạn văn trên, nhà thơ Xuân Diệu đã liên tưởng đến một bài vọng cổ cùng chủ đề cũng ra đời cùng thời điểm. Không rõ ông chép từ đâu, hay từ trí nhớ đã từng nghe? Dù không biết ca, chỉ đọc nhưng lạ cho câu chữ bởi nó tạo ra một xao xuyến đến lạ thường: “Đêm trường, tôi đứng ngồi sầu thảm/ Không biết tôi thương nhớ ai mà tôi ra ngẩn vào ngơ/ Có phải là tôi đây, thương mây, thương gió hay thương ai cuối bãi đầu ghành?/ Hay là tôi đây thương cây, thương cỏ, thương bông rồi lại những thương nhành/ Cái chữ “thương” tuy không ai giựt với ai giành/ Nhưng sao nó khiến cho người vơ vẩn đứng ngồi không an!”. Tâm trạng này, cách kể lể này, biết đâu nay có người cho là “sến như con hến” nhưng y lại không. Bởi các từ nối theo nhau nhịp nhàng vần điệu, cứ quấn quít, níu kéo nhau dằng dặc mãi…

“Vậy thì ai xin tôi cũng cho, ai mua tôi cũng bán, bán mắc, bán rẻ, tiền xu, tiền nhỏ, đây tôi cũng bán phứt chữ “thương” này/ Cũng vì thế mà thân tôi đây như gió dạn, như sương dày/ Chữ “thương” này không biết gốc rễ tại nơi đâu?/ Vậy tôi xin hỏi người tâm trí cao sâu/ Tỏ khúc nôi cho tôi được rõ đuôi đầu/ Để mà tôi dứt một mối mối sầu gây bởi chữ ‘thương’”. Nếu tác giả bài vọng cổ này, muốn “bán phứt chữ thương”, về sau thi nhân Ưng Bình Thúc Giạ Thị lại có tập thơ Bán buồn mua vui. Có phải thi nhân xứ Huế ảnh hưởng từ câu ca đao: “Bây giờ đôi ngả xa xôi/ Có thương thì phải mua vui bán sầu”. Xét ra, đây cũng là cũng là người biết sống. Sống phải vui. Tội gì phải chuốc lấy nỗi buồn rầu thăm thẳm? Nghĩ là thế. Nhưng rồi phải chất liệu của cuộc sống thời buổi nào cũng nhiều gam màu khác nhau.

À, câu “Sầu không có mối, chém sao cho đứt; sầu không có khối, đập sao cho tan…”, nay lại nghe na ná như… lời dạo đầu trong phim Bao Thanh Thiên đã phát sóng từ năm 1997, sau Tản Đà những gần 80 năm: “Rút gươm chém xuống nước, nước chảy càng mạnh/ Nâng chén tiêu sầu càng sầu thêm”. Mới đây nhất, ông nhạc sĩ Vũ Thành An lại có ca từ: “Ta lần mò leo mãi không qua được vách sầu”. Ra là vậy, với mối sầu riêng tư thì thời nào cũng chẳng khác gì. Mà dù có sầu đến cỡ nào đi nữa cũng phải ăn. Tội nghiệp nhất vẫn là những là ai tương tư: “Sầu tình cơm chẳng muốn ăn/ Đã bưng lấy bát lại dằn xuống mâm”. Ăn làm sao được mà ăn: “Bữa cơm có cá có canh/ Anh không mát dạ bằng anh thấy nàng”.

Ai lại cũng từng trải qua năm tháng này? Y cũng thế thôi, từ cái thuở Tôi chạy theo thơ (2003) đã: “mắt nhắm lại đợi chờ/ em sẽ đến bằng bước chân rón rén/ nếu ban ngày không gặp được nhau/ thì chiêm bao sẽ là nơi hò hẹn...”. Rồi sau đó, có lúc: “Có những giấc chiêm bao/ Đi qua trong giấc ngủ/ Vẫn còn nghĩ về nhau/ Là ngàn năm sóng vỗ/ Vẫn hiện hữu trong đời/ Sớm mai hoa vẫn nở/ Ngoài chân trời có trời/ Hai người chung hơi thở”. Những câu thơ đã viết lại quên. Quên rồi lại nhớ. Một vết xước nhỏ nhoi trong lồng ngực bền theo năm tháng. Nhưng rồi, dù muốn gì thì muốn, con người ta cũng phải ăn.

Ăn ảnh nhé? Thế mới là tiếng Việt thần sầu quỷ khốc. Một người xem tấm ảnh thốt lên: “Chà, ăn ảnh quá ta”. Thế thì khen hay chê? Cả hai đấy chứ. Phải ngầm hiểu dù chàng ta/ cô ta bề ngoài chỉ “thường thường bậc trung” nhưng lúc chụp ảnh lại đẹp hẳn lên. Đó là ăn ảnh. Ăn tạp nhé? Nghe bảo thế, có người sẽ giận. Ăn tạp là ăn hầm bà lằng xắn cấu, ăn món ngon lẫn món xoàng, ăn tả pín lù, món quen lẫn món lạ, miễn có là ăn, cốt nhồi nhét cho đầy bao tử. Thế nhưng, đừng nói đâu cho xa, chỉ khoảng chừng 300 năm trước đậy thôi, khi nghe “ăn tạp” không ít người reo lên mừng rỡ. Cứ theo như Từ điển Việt-Bồ-La (1651) thì ăn tạp là “ăn thịt. Ngày ăn tạp: Ngày được phép ăn thịt”. Vậy thích nhé. Còn ăn táp là “ăn thịt nướng dối hầu như còn sống”. Trải theo năm tháng ngữ nghĩa tiếng Việt đã có sự thay đổi.

“Ngồi ăn chạo rạo/ Uống rượu bằng tô/ Xương xóc mút vô/ Thịt thà cả rổ/ Kẻ thì ăn tộ/ Người lại gặm xương/ Kẻ nhai be sườn/ Người gặm khu lẳng/ Vừa đi vừa cắn/ Cái miệng chèm nhèm/ Té xuống đứng lên/ Lại còn nói bướng/ Xưng hùng xưng tướng/ Chẳng đứa nào say”. Đích thị là những kẻ ăn thịt chó. Nhân vật của ông Nam Cao bảo: “Trẻ con không biết ăn thịt chó”, chỉ cách ngụy biện của ông bố  đãi bợm nhậu tham ăn tham uống, ăn hết cả phần của vợ con. Ăn thì phải uống. Uống rượu. Rượu vào lời ra. Tất nhiên rồi. Nhưng cũng phải hỏi ngay câu này, chứ chút nữa say tít cung mây lại quên. Những lời “bán trời không mời thiên lôi” phát ngôn trong lúc say bí tỉ thường bị đánh giá “ba xi đế/ ba xích đế” hoặc “ba hoa xích đế”. Hiểu như thế nào cho đúng? Thành ngữ này chỉ có ở Nam bộ.

Trong quyển Nói có sách (1971), nhà văn Vũ Bằng giải thích: “Khi muốn chỉ một câu chuyện gì đó không chính xác hoặc phù phiếm, hão huyền ta thường gán cho nó một câu “Chuyện ba xích đế”. Nếu đem chiết tự mà xét “ba xích đế” chẳng có một nghĩa gì hết. Nhưng nói như vậy, không phải nó không có xuất xứ. “Ba xích đế” không bắt nguồn từ Tam hoàng, Ngũ đế, mà rất đơn giản, từ “ba xích đế”. “Đế” là một thứ rượu lậu, ta thường uống, nấu bằng cỏ “đế”.

Trước đây, vì độc quyền nấu rượu ở trong tay người Pháp, nên ở miền Nam, muốn có một thứ rượu vừa rẻ, vừa ngon do nông dân ta lấy gạo nếp làm ra, cũng phải nấu “lậu”. Muốn nấu “lậu” thì phải ra “biền” (ruộng) mà nấu. Ngoài biền không có sẵn củi, nên phải nấu rượu bằng cỏ đế. Vì thế mà ta gọi “rượu đế”, tức rượu “lậu” đun bằng cỏ đế. Uống trung bình chỉ ba xị (ve nhỏ) là say. Một lẽ nữa là ở miền Nam thường hay có lối nói ăn ba miếng chơi, uống ba chén chơi, nói ba câu chuyện chơi tiêu khiển. Thành ra có từ “ba xích đế”. Sau ba xị đế rồi, người ta bắt đầu “tửu nhập ngôn xuất’, nói có chất say, không kiểm soát được nữa.

“Chuyện ba xích đế” tức là “chuyện ba xị đế”. “Tào lao ba xích đế” là nói chuyện tào lao sau khi đã uống ba xị đế rồi” (bản in năm 1996 của NXB Đồng Tháp, tr.73-74). Rõ ràng, ban đầu câu nói quen miệng là “ba xị đế”, sau trở thành “ba xi đế” hoặc “ba xích đế”. Mà “ba” rất gần với “ba hoa” nên trại qua “ba hoa xích đế” cũng lẽ thường tình. Còn có những cụm từ tương tự như ba hoa thiên địa, ba hoa chích chòe… tức là “nổ” cho sướng miệng, “ba la bô lô/ bô lô ba la”, tự vống những gì có liên quan đến khả năng, tài năng của mình nhưng thực chất “ba voi không được bát nước xáo”. Gần đây lại có cụm từ “tào lao bí đao” cũng gần đồng nghĩa, là nói chẳng trúng trật vào đâu cả. Cách nói này, còn có những cụm từ tương tự như ba hoa thiên địa, ba hoa chích chòe…Ấy là cách nói/ phát ngôn của kẻ say, còn hình dáng thế nào? Thành ngữ miền Nam lại có câu “Ba chùm ba chán”, Việt Nam tự điển (1971) giải thích: “Chệnh choạng, dáng người say, say rượu hoa cả mắt thấy một thành ba”.

Ông Bùi Giáng có câu thơ cà rỡn: “Một lần thấy một ra ba/ Một lần thấy một mà ra bốn lần”. Sao lại bốn lần? Nói lái thử xem. Trong câu đối tiếng Việt, đôi khi mượn cách nói lái để có những câu đối ngộ nghĩnh. Thử lục trong trí nhớ, ghi lại xem sao. Ừ rằng, thì, là, mà, đây nè: Con cò lửa đứng trước cửa lò; Con cá đối nằm trong cối đá; Mèo cụt đuôi nằm mút đuôi kèo; Con mèo cái nằm trên mái kèo; Chim vàng lông đậu trên vồng lang; Cống cả đá, cá cả đống; Cỏ đầu Cầu Đỏ xanh biêng biếc/ Cò lửa Cửa Lò Trắng phau phau (Cầu Đỏ ở Đà Nẵng, Cửa Lò ở Nghệ An); Cá có đâu mà anh ngồi câu đó?/ Biết có không mà công khó anh ơi v.v… Nhân đây ghi lại luôn câu hò đối đáp cực hay. Nữ vênh mặt mà rằng: “Con công con rùa, con cua con rồng/ Anh mà đối đặng được nằm chồng lên bụng em”. Táo tợn thật. Tưởng bắt bí, nào ngờ chàng trai thông minh, tinh quái ra phết: “Con cóc con sáo, con cáo con sóc/ Anh đà đối đặng, nhảy phóc lên bụng em anh nằm”.

Còn dăm câu nói lái khác nhưng cái tâm người đặt ra ác quá, chẳng hạn, Mài kéo cắt đuôi mèo cái; Lòn cưa cứa cổ lừa con… thoạt đọc qua đã rợn tóc gáy. Không phải ngẫu nhiên thời xưa các thầy đồ thường ra câu đối và buộc học trò đối lại, vì qua đó, có thể biết tính nết của từng người mà uốn nắn, dạy dỗ.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 23.5.2018

 

que-huongbnloc


Mới vừa rồi, đọc đâu đó bài viết của cô gái nọ mắt xanh mũi lõ, từ phương Tây đến sống và làm việc tại Hà Nội, tên là Blossom. Sau một thời gian “nhất lân la, nhì trà trộn” với bà con bản xứ, cô đã đúc kết sáu điều kỳ lạ tại Việt Nam. Thật ra không chỉ có sáu, còn có nhiều rất nhiều điều kỳ cục khác mà cô chưa nhận ra tỷ như sự méo mó tiếng Việt. Chẳng hạn, sự ra đời của từ “thu giá” nhằm thay thế cho “thu phí” - vừa mới ló mặt ra đã bị thiên hạ ầm ầm phản ứng. Cuối cùng “mèo lại hoàn mèo”.

 

Chẳng rõ, tự bao giờ, xuất hiện từ mèo/ mèo mỡ được sử dụng nhằm chỉ tình nhân của người đàn ông? “Anh có thương em thì mần giấy giao kèo/ Ngày sau mới chắc em là mèo của anh”. Cô gái này, khôn ngoan, tỉnh táo, chín chắc cũng tựa như “Thương anh đâu quản hiểm nghèo/ Ngặt vì một nỗi anh có mèo theo sau”.  Sao lại con mèo, chứ không con gì khác? Một khi có câu “sư tử Hà Đông” trông dáng vẻ bề ngoài hầm hố, dữ tợn thì “đối trọng” lại phải là con vật hiền lành, nhỏ nhắn? Vì thế, thiên hạ chọn con mèo, do liên tưởng đến hình dáng tựa như con hổ thu nhỏ chăng? Quái thật, cùng lông đen nhưng phải gọi mèo mun, gà ô, chó mực…

 

Trở lại với ý kiến Blossom, khi cô đã quan sát, nhận thấy tỏ tường: “Thực phẩm kỳ lạ: Người Việt nổi tiếng với những món ăn lạ lùng, thường gây tranh cãi như thịt chó, thịt mèo, trứng vịt lộn, rùa, chuột, thậm chí, tôi xin được nói, là cả nhím nữa. Rồi bạn sẽ thấy mọi thứ, từ những con sâu vẫn còn ngọ nguậy tới đầu chó treo lủng lẳng tới những loại côn trùng trườn bò trông sởn da gà; những con rắn còn sống bị rạch bụng giữa phố để lấy máu, trái tim hẵn còn đập bị người ta thả vào cốc bia rồi nốc cạn một hơi, tới những loài côn trùng, như dế được chiên lên làm đồ nhắm với bia, cùng với sâu hoặc nhộng. Ấu trùng dừa (đuông dừa) được ăn khi sống và nó cứ quằn quại trong miệng”.

 

Thật ra trong nghệ thuật ẩm thực của năm châu bốn biển, khó có thể nói đâu là kỳ cục và không kỳ cục. Thời trẻ còn trong quân ngũ, lúc sang Kampuchia, ban đầu anh em bộ đội nhà mình chê ỏng chê eo mắm bò-hóc (prohôk) của xứ Chùa Tháp nhưng sau khi đã quen mùi lại mê tít thò lò. Đọc Món lạ miền Nam của Vũ Bằng, y khoái được dịp thưởng thức món thịt bò có tên gọi “bò kiến”. Nếu tra từ điển thì bí rị bà rì, đơn giản, “bò kiến” ở đây là cách nói tắt của sự kết hợp giữa con bò và con kiến.

 

Đại khái, “Ấy là vì cái bí quyết làm thịt bò kiến này không được chạm đến lửa: lửa nó làm khô mất huyết, nhưng phải dùng một thứ khác để làm cho thịt tái đi. Đó là giống kiến vàng. Thịt lựa chỗ nào ngon, nhất là cái thăn hay bắp vế, đem treo lên chỗ mát rồi giăng dây cho kiến vàng bu lại đen kịt như thể ong quân vây lấy ong chúa không để cho tổ hở một chỗ nào. Để như thế độ vài tiếng đồng hồ - muốn để từ sáng đến trưa càng tốt - miếng thịt vẫn cứ tươi như thường, không teo, trái lại vẫn cứ mịn màng thêm lên, đậm đà hơn lên và ngọt hơn lên”. Miếng thịt mềm đi, nói một cách nôm na là nhờ… nước đái kiến!”. Nghe ra ngộ nghĩnh lắm. Nào đã mấy ai thấy được nước đái kiến? Thành ngữ có câu: “Dai như bò đái” tức nó “xả” tưởng chừng liên tu bất tận, con kiến sức mấy “có cửa”. Vì lẽ đó, nhân vật trong tạp bút trên bèn hỏi một câu thành thật: “Nước đái nó ra sao?”.

 

Câu trả lời rằng: “Nước đái kiến vào mắt mình, nó “the thé” kỳ lắm, không tả được. Thoạt đầu, tôi tưởng đến mù, nhưng chỉ độ mươi năm phút thì hết, nhưng kiến nó đã vớ được mình thì “bám riết” không chịu rời ra. Tôi đành phải nhảy từ trên cây xuống dưới sông để họa may kiến có buông tha chăng: vô ích. Sau mãi có người bảo mới biết là giống kiến vàng sợ nhất tro, muốn đuổi chúng đi chỗ khác, cứ lấy tro mà rắc lên đường chúng đi, chỉ một lát là biến hết - có phần còn tốt hơn cả thuốc xịt côn trùng Fly Tox, My Tox nữa! Phải rồi! Đuổi chúng đi chớ đừng có giết kiến làm gì, tội nghiệp! Là vì cái giống kiến vàng này quí lắm, có nhiều khi phải đi mua từng giỏ để đem về nuôi trên các cây có trái”.

 

Câu cuối ở đoạn văn của Vũ Bằng, có ai ngập ngừng, dừng lại không?

 

Với y, ắt có. Không sinh sống nhiều năm ở nông thôn, nhất là tại miền Nam nên không thể biết thêm lợi ích của “giống kiến vàng này quí lắm, có nhiều khi phải đi mua từng giỏ để đem về”. Rồi tại sao lại đi mua “đem về nuôi trên các cây có trái”? Trả lời chi tiết này, cách dễ chịu nhất vẫn tìm hỏi các ông kỹ sư canh nông. Nhưng thôi, trước mắt, ta hãy khảo sát từ… văn chương cho nó hợp với mạch chuyện đang ngon trớn. Chẳng hạn, thử đọc lại truyện ngắn Trộm của lạ của nhà văn Bình Nguyên Lộc.

 

Trước hết, phải dài dòng một chút, rằng, trước đây, ở miền Nam có tạp chí Hương quê dành tặng cho bà con nông dân, không bán. Hai nhà văn Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam thay phiên nhau viết các truyện ngắn theo chủ đề “hương đồng gió nội”. Lúc NXB Trẻ mua bản quyền toàn bộ sáng tác của Sơn Nam, chính y đã tìm từ Hương quê các truyện ngắn của ông đã in để có được sự nối dài của Hương rừng Cà Mau. Và nay, tới phiên Bình Nguyên Lộc với tập truyện ngắn cùng tên Hương quê (NXB Trẻ - 2018) cũng chọn từ tạp chí trên. Người cung cấp nguồn tài liệu lần này là TS Nguyễn Văn Đông - giảng viên Trường Đại học Thủ Dầu Một.

 

Truyện ngắn Trộm của lạ, viết về cách trị loại kiến hôi đã khiến “cả cam lẫn quýt đều chua, nếu không èo, không chai cứng, không khô rom”. Trị bằng cách nào? Hãy nghe nhân viên sở Canh nông trả lời: “Nếu vậy thì rất dễ cứu vãn cây trái của quý ông. Đây là một phát minh của người Việt Nam ta của cụ Trương Vĩnh Ký”. Chi tiết này, không rõ Bình Nguyên Lộc đọc từ đâu, khó kiểm chứng, nhưng trong thực tế: “Thả kiến vàng lên những cây có ổ kiến hôi. Hai loài kiến này thù nhau “bất cộng đái thiên” và chúng sẽ giết nhau, và rốt cuộc kiến vàng thắng. Chúng nó thắng rồi chiếm luôn những cây đó, kiến hôi sẽ không bao giờ dám trở lại nữa hết. Ông không tin, cứ làm thử thì biết”. Quả nhiên mọi việc diễn ra trúng chóc, đúng y chang.

 

A, ai nghĩ ra cách sử dụng kiến vàng để “sáng tạo” ra món “bò kiến” số dzách ở miền Nam nước Việt? Chỉ có thể đệ tử của Lưu Linh? Hay do các bà nội trợ luôn đau đáu nghĩ ra cách cải thiện thức ăn, nâng cấp chế biến cho chồng con ngon miệng? Cũng có thể do kinh nghiệm tình cờ chăng? Vừa rồi đi về Bến Tre, gần Bãi Ngao, được chủ nhà đãi món khô cá đuối chấm với nước me chua dằm. Lúc trà dư tửu hậu, chủ bật mí: “Ngon quá phải không? Miếng khô mềm lừ, không cứng, chỉ sừng sực mát cả chan6t răng, thơm cả miệng. Có biết bí quyết là gì không?”. Y lắc đầu. Thì ra: “Dễ lắm, cá nướng xong, ra vườn hái tàu lá chuối xanh, gói lại”. Đơn giản mà hiệu quả. Trong khi đó, dân thành phố phải dùng búa/ chày nện mãi mà miếng khô cá có mềm ra đâu.

 

Mà này, trong món bò kiến, con kiến vàng này đã đi vào ca dao huê tình, lúc chàng ỡm ờ: “Ước gì anh hóa được con kiến vàng/ Bò ngang quai nón hun nàng cái chơi; nàng lúng liếng: “Ước gì em hóa được con kiến hôi/ Bò ngang quai nón đái trôi kiến vàng”. Căn cứ vào cách trị kiến vừa nêu trên, trong trường hợp éo le này, cô nàng thua là cái chắc. Thích nhất vẫn là bài vè về các loại kiến, đọc nghe du dương, vui tai, ngộ nghĩnh: “Kiến lửa tập đoàn/ kiến vàng ở ổ/ Cao đầu lớn cổ/ thiệt là kiến hùm/ Cắn chúng la um:/ kiến kim, kiến nhọt/ Nhỏ như con mọt/ thiệt là kiến hôi/ Động trời nó sôi:/ kiến cánh, kiến lửa/ Bò ngang, bò ngửa:/ kiến riện đơn chai/ Bò dông, bò dài/ bò qua, bò lại/ Kiến đực nói phải/ kiến cái làm khôn/ Rủ nhau lên cồn/ xoi hang lạch cạch/ Thuở xưa, trong sách/ Bàn Cổ sở phân/ Sanh ra chúng dân/ đỏ đen như kiến…”.

 

Có ai ăn kiến không? Chắc không. Nhưng chăn kiến thì có. Bằng chứng là NXB Trẻ đã ấn hành tập truyện ngắn Người chăn kiến của Bùi Ngọc Tấn. Tìm đọc lại, phải mua lấy sách. Chi bằng đọc từ trang web của Hội Nhà văn TP.HCM đã post, trong đó, có đoạn: “Hôm ấy đi làm vệ sinh về, tay B trưởng bắt ra 4 con kiến đỏ bé xíu đựng trong cái vỏ bao thuốc lá. Hắn cầm mẩu gạch non khoanh 4 vòng tròn xuống nền xi măng. 12 anh tù được hắn chỉ định chia thành 3 ca chăn 4 con kiến nhỏ. Ông M không ngờ mình lại mê chăn kiến đến như thế. Công việc kì dị ngày càng hấp dẫn ông. Nó làm ông khao khát đến bồn chồn. Cho dù đó là khổ ải. Phải giữ kiến luôn ở trong vòng tròn. Trong ấy có bánh bích qui, có đường, có thịt, kiến ăn nhưng không chịu ngủ, kiến vẫn bò tìm tổ. Phải luôn tay chặn kiến lại và không được làm sứt một cái chân của kiến. Chính những điều ấy khiến ông thèm khát. Nó sẽ giúp ông quên thời gian, quên những thiên thu tại ngoại”. Người chăn kiến còn là tiếng lóng nhằm chỉ kẻ gỡ lịch/ nằm nhà pha/ nằm nhà đá/ nằm hộp/ xộ khám…

 

Viết đến đây lại nhớ mẩu chuyện nhỏ, bấy giờ nhà thơ Nguyễn Thái Dương đang làm Thư ký tòa soạn của báo Mực Tìm. Ngày kia, đọc các bản thảo để chọn in, bắt gặp bài thơ có câu: “Ngồi buồn bắt giết kiến chơi”, anh rùng mình. Và từ đó, anh không còn dám quan hệ với tác giả câu thơ đó, dù trước đây đã là bè bạn. Chắc chắn y cũng vậy thôi. Hành động đó là biểu hiện của cái ác. Vậy mà bây giờ lại phổ biến “Game giết kiến - Trò chơi giết kiến online miễn phí cho Andorid, Iphone”. Thử hỏi, có phải đó là mầm mống tạo ra cái ác? Còn nhớ, thuở bé thường mê mẩn đọc tạp chí Phổ thông do nhà thơ Nguyễn Vỹ chủ biên, có lần đọc bài viết bàn về thơ Haiku. Đọc lâu quá rồi, chỉ nhớ đại ý, có nhà thơ cóc keng nọ làm bài thơ: “Con chuồn chuồn/ Ngắt hai cánh/ Trái ớt”. Anh ta thích lắm, đọc oang oang đầu làng  cuối xóm, thiên hạ khen rùm trời, duy chỉ có vị thiền sư nghiêm mặt bảo: “Đó là cái ác”; và sửa lại: “Trái ớt/ Chắp hai cánh/ Con chuồn chuồn”. Ôi chao, tâm thế nào thì thơ thế ấy.

 

Cái tâm của y ra làm sao?  Không rõ. Chỉ có điều y không còn ăn thịt chó nữa. Chỉ ăn thời đi bộ đội ở rừng, xa tít bên quê hương Chùa Tháp. Tuy không còn ăn nhưng vẫn chép lại bài vè này, ít ra cũng cho thấy cách chế biến trong Nam khác hẵn ngoài Bắc. “Nghe vẻ nghe ve/ Nghe vè thịt chó/ Thằng nào chịu khó/ Bắt nước cạo lông/ Thằng nào ở không/ Rang mè rang đậu/ Anh nào chịu khó/ Thì đi mua tương/ Cái việc tầm thường/ Ai ai cũng biết/ Muốn cho tươm tất/ Đậu phụng, đậu nành/ Củ sả, củ hành/ Mua ba tiền bún/ Một tiền rau húng/ Một trái dừa khô/ Bỏ tiền hùn vô/ Mua ba chai rượu/ Anh nào háo tửu/ Thì hùn thêm tiền/ Xách rổ đi liền/ Đi mau tới chợ/ Đừng có sớ rớ/ Gấp gấp mà về”.

 

Rõ ràng, không hề có mắm tôm, lá mơ, củ riềng… Chỉ mấy câu vần vè, nhưng ta cũng thấy được cái “không khí” rất ồn ào, tấp nập, nhộn nhịp khi chuẩn bị… nhậu! Đã ăn thì phải uống. Dám quả quyết, trong các thức uống nhằm đạt đến thú vui tao nhã (lẫn thô tục) ở đời, chỉ có rượu được… đi vào thơ văn, nhạc họa, ca dao, hò vè với tần số cao nhất. Nhưng rồi nếu chọn lấy một, y chỉ chọn lấy bài này: “Uống một ly nâm nhi tình bạn/ Uống hai ly giải hạn cơn sầu/ Uống ba ly mũi chảy đầy râu/Uống bốn ly ngồi đâu nói đó/ Uống năm ly cho chó ăn chè/ Uống sáu ly ai nói nấy nghe/ Uống bảy ly làm xe lội nước/ Uống tám ly chân bước, chân quỳ/Uống chín ly còn gì mà kể/ Uống mười ly khiêng để xuống xuồng!”.

 

Khiêng một kẻ say quắc cần câu xuống xuồng, không khéo hắn ta té nhào xuống sông, kênh, rạch thì khốn. Vậy lúc ấy, phải làm sao giải rượu cấp kỳ cho kẻ đó? Dễ ợt, cứ việc kề tai hắn ta, nói khẽ: “Này, hiện nay, trong tiếng Việt đã xuất hiện từ “thu giá” - nhằm thay thế cho “thu phí”, nhớ chửa?”. Ngay lập tức, hắn ta sẽ bật người dậy, tỉnh táo, tỉnh queo như chưa hề uống giọt nào rồi kinh ngạc thốt lên một cách bình tỉnh bằng ngữ điệu cực kỳ nghiêm trọng: “Thế à? Thế à?”.

 

Thì đúng là thế.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 19.5.2018



Vietnamese_xam_artists

 

Đọc tác phẩm văn chương, còn có cái thú là qua đó, có thể tìm thấy dấu vết sinh hoạt của một thời. Chẳng hạn, hát xẩm - cũng là một cách ăn mày thiên hạ. Đem giọng hát ra kiếm cơm qua ngày. Đáng thương lắm. Đi ra nước ngoài, ở nơi chốn đông người qua lại thỉnh thoảng lại thấy có người ăn mặc, trang điểm kỳ quái, lạ mắt cứ ngồi sững như tượng, chẳng thèm hé răng nói nửa lời, cứ ngồi yên, ai thương tình thì ném vài xu vào cái mũ đặt dưới chân.

Sực nhớ đến một truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan viết về anh xẩm: “Hát hết bài xẩm chợ, anh xoay ra cải lương... Anh ngửa đầu, dúm gân mặt, há mồm ra mà hát. Tiếng đàn tưng tưng hòa theo, lúc khoan lúc nhặt: “Nào, các ông các bà cho nhà cháu kiếm bữa”. Anh xẩm này cứ hát và trời cứ mưa gió, cuối cùng: “Và khi đã hiến hết tất cả các bài hát anh thuộc, anh ngồi im lặng để chờ và để nghe. Sau hết sờ tay vào lòng thau không để vét. Rồi anh run cầm cập, xếp thau, ôm đàn, cuốn chiếu, cầm gậy, đứng dậy, thong thả lần lối đi...”.

Nói một cách vắn tắt, hát xẩm là một loại ca nhạc của người khiếm thị, họ đem ngón nghề của mình phục vụ bà con cô bác từ thành thị đến nông thôn để kiếm miếng cơm manh áo. Ngoài giọng hát, dụng cụ hành nghề còn có gì? Nhà văn Nguyễn Công Hoan miêu tả: “Anh ngồi trên manh chiếu, trước cái xoong sắt tây thủng, một đùi ghếch lên mặt đàn. Tay nắm cần, tay bật dây, anh uốn cung đàn trầm bổng theo tiếng hát khàn khàn. Cái mũ dạ, trơn từ đỉnh đến rìa, mềm oặt theo khuôn đầu, che cho anh khỏi lạnh gáy. Nhưng cái áo tây vàng rộng thùng thình không giữ nổi hơi rét cắt da. Mặt anh xám lại”.

Thế nhưng đừng có khinh thường họ. Bởi ông tổ của nghề là hoàng tử Trần Quốc Đỉnh, con của... vua Trần Thánh Tôn đấy! Ai tin thì tin, không tin thì thôi. Với truyền thuyết này rõ ràng họ cũng thuộc “danh gia vọng tộc” chứ không phải phường “khố rách áo ôm”! Với thế hệ chúng ta, họ là những người đã có công sáng tạo và lưu hành một lối hát độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc. Người hát xẩm cuối cùng của thời đại computer này là cụ Hà Thị Cầu lừng danh.

Cái hay của hát xẩm từ giọng hát, tất nhiên, nhưng không chỉ là những câu tầm phào mà “có tích có tuồng” hẳn hòi. Ngày kia, đã lâu, ra chơi Hà Nội, y có sưu tầm một bài hát xẩm. Và nhận rằng, phố phường Hà Nội của đầu thế kỷ XX hiện lên đa dạng, phong phú và “hoạt náo” hơn trong những bài ca dao mà ta đã biết. Thật tài tình, khi một “nghệ sĩ nhân dân” mở đầu: “Bắc kỳ vui nhất Hà thành/ Phố phường sầm uất, văn minh rợp trời/ Thanh tao lịch sự đủ mùi/ Cao lâu, rạp hát vui chơi đủ đầy... Vui nhất là ở đâu? Thưa: “Nhất vui là cảnh Bờ Hồ/ Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Đào, Hàng Ngang/ Mã Mây, phố Mới, Hàng Vàng/ Đồng Xuân, Hàng Giấy, Hàng Buồm vui thay/ Bán buôn tấp nập đêm ngày/ Ô tô đi lại như bay ngoài đường...”. Xem ra hoạt náo, nhộn nhịp lắm chứ! Ta hãy nghe tiếp: “Ấy là kể những phố to/ Còn như Hàng Quạt, Hàng Lờ, Hàng Da/ Cửa Nam, Hàng Lọng, phố Ga/ Hà Trung, Ngõ Trạm, Hàng Gà, cửa Đông/ Hàng Cân, Hàng Cót, Hàng Đồng/ Hàng Men, Hàng Bát, Hàng Bông, Hàng Bài/ Hàng Cau, Hàng Bột, Hàng Khoai/ Hàng Nâu, Hàng Trứng, Hàng Gai, Hàng Mành/ Hàng Tre, Hàng Sủ, Hàng Hành/ Phúc Châu, Cầu Gỗ, Bắc Ninh, Hàng Hòm”.

Chẳng lẽ chỉ có thế thôi sao? Còn nữa: “Còn như đường lớn phố Tây/ Tràng Tiền, Đồng Khánh, Hàng Khây, Nhà Thờ/ Nhất vui là hiệu Gô Đa/ Ra vào nhộn nhịp ai mà chẳng hay/ Tràng Tiền có rạp hát Tây/ Bên kia Đồn Thủy, bên này Nhà Đoan/ Vườn hoa Con Cóc trông sang/ Là dinh Thống sứ Xâm (Châtel) càng tránh xa/ Tượng Tây đứng giữa vừa hoa/ Bên này Đốc - lý trông ra Bờ Hồ/ Kể từ phố xá bây giờ/ Phồn hoa đệ nhất kinh đô Bắc kỳ”. Nhưng đã nói đến Hà Nội, mà không nhắc gì đến chợ Đồng Xuân là một thiếu sót, tựa như ăn cày tơ mà thiếu đi mắm tôm rất “quốc hồn quốc túy”. Chợ Đồng Xuân được người Pháp xây dựng từ năm 1889. Thì đây: “Ai ơi đứng lại mà trông/ Hàng vóc, hàng nhiễu thong dong rườm rà/ Ngoài chợ có chị hàng hoa/ Có người đổi bạc đi ra đi vào/ Nào hàng bún nấu bán rao/ Nào hàng kẹo đạn (?), phở xào, ngô bung/ Lại thêm bánh rán, kẹo vừng/ Rau, dưa đủ cả chè thung, chả giò/ Ồn ào chuyện nhỏ chuyện to/ Líu lo chú khách bánh bò bán rao”.

Còn gì nữa không? Thưa: “Nức nở là chị hàng na/ Chua chát hàng khế, ngọt ra hàng đườn/ Thơm tho là chị hàng hương/ Tanh ngắt hàng cá, phô trương hàng vàng/ Lôi thôi như chị hàng giang/Vừa đan vừa bán cả sàn lẫn nia/ Trề môi như chị hàng thìa/ Hàng bán bát đĩa phân chia đàng hoàng/ Lồng cồng như chị hàng thùng/ Thượng vàng hạ cám đủ cùng thiếu chi/ Cải hoa, cải bắp, cải thìa/ Thơm, mùi, húng láng, thứ gì cũng bán mua/ Hay cắp như chị hàng cua/ Nhảy nhót hàng ếch ai mua được rày/ Có người bán dép, bán giầy/ Có người cạo mặt, ngoáy tai đông đầy/ Có người xem tướng xem tay/ Chầu văn đồng bóng ốp ngay tức thời/ Thôi thì đủ thứ, đủ người/ Ồn ào nhộn nhịp, nói cười chen vai/ Có anh bán thuốc cũng hay/ Mồm rao liến láu, bệnh khỏi ngay tức thì”. Giỏi thật! Chợt nhớ đến Xuân Tóc Đỏ cũng từng bán thuốc cảm mạo thương hàn ở chợ này!

Thật tuyệt, các “nghệ sĩ nhân dân” đặt bài hát xẩm này trên không chỉ phản ánh hiện thực mà còn... phê phán hiện thực nữa! Thật cảm động khi kết thúc là một tiếng thở dài: “Văn minh đèn điện sáng lòe/ Thông thương kỹ nghệ mọi nghề chấn hưng/ Chỉ cánh áo ngắn khốn cùng/ Làm lụng suốt tháng mà không đủ dùng/ Bữa cơm, bữa cháo nhạt nhùng/ Thôi đành nheo nhóc bọc đùm lấy nhau”. Thì ra, người nghèo thời nào cũng khổ.  

Từ hát xẩm lại lan man nghĩ đến các điệu nói thơ ở trong Nam - nhất là nói thơ quân phường có liên quan gì đến hát xẩm?

“Quân phường” là gì?  Thời xa xưa ở Nam bộ. những người ăn xin được gọi chung là “quân phường”. Muốn người ta cho ăn phải biết há mồm ra mà kêu mà gào, có câu có kệ nhịp nhàng du dương: “Cao lương, cao lễ, ba để, ba đào”, Đại Nam quấc âm tự vị (1895) của Huình Tịnh Paulus Của giải thích: “Tiếng ăn mày chúc cho chủ bố thí sang giàu có dư”. Tiếng kêu ấy, gọi là tiếng “kêu cơm”: “Đi rảo ngoài đàng mà kêu nghèo, kêu đói cho người ta động lòng bố thí, ấy là công chuyện quân phường”. Dấu vết của từ quân phường, còn có thể tìm thấy trong Cổ Gia Định phong cảnh vịnh, từ ấn bản năm 1882 do nhà bác học Trương Vĩnh Ký sưu tầm đã cho thấy: Dãy thầy bói nhóm bên đường, thấy gieo tiền hào sách hào đơn, lời kỳ cục quẻ rằng linh quẻ/ Bọn quân phường ngồi dưới cội, nghe đổ sứa hồi khoan hồi nhặt, giọng oan ương hơi thiệt tốt hơi”.

Trương Vĩnh Ký giải thích: “Bọn quân phường là quân ăn mày nghề, bị 9 quai, hay ngồi dưới bóng cây mát, nhịp sứa mà nói thơ cho người đi đường thấy mà cho tiền”. Câu trên còn có từ khó hiểu: “đổ sứa/ phịp sứa”, vậy sứa là gì? Đọc một văn bản cũ gặp từ cũ, nếu không hiểu, còn gì thích thú? Bèn tra tự điển. Ông Huình Tịnh Paulus Của cho biết: “Sứa: Đồ nhịp làm bằng hai miếng cây khum khum. Sanh sứa: Đồ gõ nhịp trong khi ca hát”. Hai miếng gỗ ấy không chỉ tạo ra âm thanh khiến người ta chú ý, còn là một cách để bắt/ giữ nhịp. “Ăn mày là ai, ăn mày là ta/ Đói cơm rách áo hóa ra ăn mày”.  Theo Từ điển Việt - Bồ-La (in năm 1651) của A. de Rhodes thì mấy trăm năm trước ăn mày/ ăn mót cùng một nghĩa.

Trở lại với bài hát xẩm đã từng phổ biến ở Hà Nội, ấy là một cách miêu tả thời người Tây mới sang. Vậy, ở Sài Gòn trong giai đoạn ấy có gì khác. Thât tuyệt cho các “nghệ sĩ nhân dân”, sau khi đã viết Cổ Gia Định phong cảnh vịnh, lại có Kim Gia Định phong cảnh vịnh. Đã có xưa ắt phải có nay. Ta hãy khảo sát tiếng rao bán buôn của một thời: “Đêm thì tiệc khách lao xao/ Đứa rao ngưu nại, đứa rao hạnh trà/ Đứa thì cháo vịt, cháo gà/ Cùng là công bính cùng là hoa sanh/ Những là đậu chúc, liên canh/ Sa lê quân tử ngồi quanh các đàng/ Đèn chong ghế sắp hai hàng/ Dễ mê con mắt, dễ hoan tâm tình”. Hãy nghe ông Trương Vĩnh Ký giải thích: “Ngưu nại là sữa bò, hạnh trà là nước bột hạnh nhân có bỏ đường. Công bính là “màng công phiến”, là thứ bánh nói làm bằng cơm cháy. Hoa sanh là “lạc hoa sanh” là tiếng chữ, nghĩa là đậu phọng, ngoài Bắc kêu phọng là lạc. Đậu chúc, chệc nó rao “lộc tào chúc” là chè đậu xanh với đường. Liên canh là cháo hạt sen bỏ đường, nó rao “liềng chi cấn”. Sa lê là trái lê, ăn dòn rạo rạo như cát”. 

Ối dào, thuở ấy, sao mà nhiều âm thanh đến thế? “Dưới Bến Nghé hát lẳng lơ, giọng con đò, con rỗi/ Trên tàu voi ca khủng khỉnh, tiếng con mục, thằng nài”. Lại nữa, “Trọ trẹ dưới sông, quân Huế, kéo neo hò hụi/ Xi xô ỉnh đường cái/ Khách già rao kẹo ối chao ôi”. Hãy nghe ông Trương Vĩnh Ký “diễn nôm” cho dễ hiểu: “Dưới sông Bến Nghé, ghe đò, ghe rỗi lên xuống hát dằng dai dằng dãi, thuyền con con bán bánh, bán trái vởn vơ qua lại rao túi bụi tùng bùng, ấy là dưới sông. Còn trên bờ thì ghe quân thằng mục, thằng chăn trâu bò ngựa voi ca hát dong dỏi nghe ỉnh tai”.

Những tiếng rao này làm nên hồn của phố thị đó thôi. Nay đố ai còn nghe nữa?

Nếu Hà Nội có chợ Đồng Xuân, Sài Gòn có chợ Bến Thành. Về lai lịch  hai cái chợ nổi tiếng này, chỉ cần vào Google là rõ. Về chợ Bến Thành, đại khái, ban đầu nằm ở bờ sông Bến Nghé, cạnh thành Bát Quái (thành Gia Định) nên gọi chợ Bến Thành. Năm 1870 bị cháy lớn và được xây dựng lại. Năm 1912, thị trưởng Sài Gòn Eugène Cuniac cho xây lại ngôi chợ mới vị trí hiện nay. Thế thì, ngày xây dựng chợ mới như thế nào? Khó có thể hình dung ra. Mà này, ca dào hò vè có ghi lại không? Chưa khảo sát chu đáo nên không dám có câu trả lời, chỉ biết rằng do sự thay đổi vị trí nên mới có câu: “Chợ Bến Thành dời đổi/ Người sao khỏi hợp tan/ Xa gần giữ nghĩa tào khang/  Chớ tham quyền quý, phụ phàng nghĩa xưa”.

Mới đây khi đọc Hà Hương phong nguyệt của nhà văn Lệ Hoằng Mưu viết năm 1912, y có tìm một đoạn viết về ngày khánh thành chợ. Xin trích lại cho những ai muốn có thêm tài liệu về ngôi chợ lừng danh này. Xin lưu ý, câu văn thuở ấy biền ngẫu, du dương như thơ, càng dễ nhớ: “Tới dịp Sài Gòn ăn lễ, người con đông như thể hội Tần, đàng dập dìu xe ngựa rần rần, hỏi mới biết lễ mầng tân thị. Trong chợ dọn coi huê mỹ. ngoài đèn giăng cờ xí huyên thiên, tối bữa đầu có diễu binh đèn, người ngựa chật như nêm khó bước. Kìa dạ nhạc thổi kèn đi trước, lính cỡi lừa xông lướt theo sau, ngọn đèn lồng chói rỡ tợ sao, đèn cua, rùa, trạnh, kình, ngao, tôm, cá bắt từ thành Sơn Đá thẳng ngã Ba Hình, lộn vào Tổng thống dinh, pháo liên thinh đua nổ…”.

Những âm thanh này đã mất dần theo năm tháng. Nếu có cỗ máy quay ngược lại thời gian như chú mèo máy Doremon thì tuyệt quá nhỉ? Thôi thì, ta hãy tìm qua tác phẩm văn chương. Mà văn chương cũng là một cách vun đắp cho người đọc tình yêu non sông đất nước. Nhiều người bảo, trong đó có nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, anh cho biết thuở bé đọc tác phẩm của Tô Hoài đã có ước ao được một lần đến thăm làng Nghĩa Đô, quê của tác giả Dế mèn phiêu lưu ký. “Con sông dùng dằng con sông không chảy/ Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”, câu thơ của Thu Bồn đã khiến bao người muốn được tận mắt nhìn lấy sông Hương? Và y, cứ ám ảnh mãi bởi câu thơ dung dị lạ thường của Quang Dũng: “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”. Đọc xong câu thơ, những muốn tắt máy tính,  xách va li làm một chuyến viễn du, bỏ lại sau lưng tháng ngày công chức đã chai lì cảm xúc để đến nơi ấy tìm một nguồn năng lượng mới.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 16.5.2018

Le-Hoang-Muu-Ha-Huong-Phong-Nguyet-bia-5

 

Nói láo mà chơi nghe láo chơi

Giàn dưa lún phún hạt mưa rơi

Chuyện đời chán hẳn, không thèm nhắc

Thơ thẩn nghe ma đọc mấy lời

Tứ tuyệt của Vương Ngư Dương đề từ Liêu trai chí dị; bản dịch Tản Đà. Đôi lúc cũng nên như thế, phải là thế. Bồ Tùng Linh viết chuyện ma, âu cũng bàn về chuyện đời. Những ngày này, lật qua trang báo, leo lên mạng xã hội đã thấy những gì? Trả lời câu hỏi ấy, đôi lúc nín lặng rồi buông ra tiếng thở dài. Chẳng lẽ, cứ mãi đứng phía bên ngoài thời cuộc? Chẳng biết trả lời ra làm sao. Thôi thì nằm đọc sách.

Mấy hôm nay đọc Hà Hương phong nguyệt của nhà văn Lê Hoằng Mưu. Rồi nghĩ rằng: Trước đây, các nhà nghiên cứu đã chọn Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách là quyển tiểu thuyết đầu tiên của Việt Nam. Gần đây, cái nhìn đó đã có xu hướng thay đổi, thí dụ, nên chăng chọn Truyện thầy Larazo Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản thì hợp lý hơn? Rồi lại có ý kiến nên chọn Hà Hương phong nguyệt? Từ tháng 7.1912, Lê Hoằng Mưu đã cho đã in từng kỳ trên báo Nông cổ mín đàm, mãi đến năm 1914 mới lần đầu in thành sách. Lập tức, tác phẩm này gây chấn động dư luận. Cứ theo như tài liệu viết về cuộc tranh luận thì nó bị nhà cầm quyền thu hồi vì “dâm thư”, “góp phần làm hư thuần phong mỹ tục nước nhà”. Từ các cuộc bút chiến trên Công luận báoLục tỉnh tân văn từ năm 1923, trở về sau, khi bàn đến Hà Hương phong nguyệt, các nhà nghiên cứu đều xác định đó là lý do chính. 

Những ngày này, một trong những vấn đề thuộc về văn bản học đáng lưu ý, theo y vẫn là lần đầu tiên công bố trọn vẹn tác phẩm Hà Hương phong nguyệt (NXB Văn hóa Văn nghệ - 2018). Người có công tìm tòi ấy chính là nhà nghiên cứu Võ Văn Nhơn, đã tìm ra văn bản in cách đây đúng 105 năm. Tập sách dày gần 500 trang in, cứ mỗi ngày đọc nhẩn nha để lý giải xem vì sao thời ấy, nó đã bị thu hồi?

Ơ này, một quyển sách đã ra đời từ đầu thế kỷ trước, nay ngồi bàn vì lý do nó bị thu hồi há chẳng phải là kẻ ngớ ngẫn ư? Nghĩ thế, y bèn lảng qua chuyện khác. Chuyện gì? Rằng, nếu Hà Hương phong nguyệt bị thu hồi vì lý do “dâm thư”, vậy hãy xem nhà văn Lê Hoằng Mưu đã miêu tả các pha hấp dẫn ấy như thế nào? Hay đấy! Thú vị đấy! Ít ra cũng có thể biết, cái chuyện phòng the kín đáo này đã được diễn tả bằng ngôn từ văn chương ra làm sao. Diễn ra làm sao mà dư luận đương thời lên án dữ dội?

Muốn có một ý kiến gì về quyển sách nào, hãy đọc, chứ không thể ăn theo nói leo, nghe hơi nồi chõ. Thí dụ lúc đêm thanh vắng, vợ chồng gặp lại nhau sau những ngày xa cách: “Hà Hương thêm núng má hồng, Nghĩa Hữu càng trông càng khoái. Thương quá nên hóa dại, Hữu không nói được một lời, ôm vợ mà hun như bướm lại với hoa, nhan sắc thiệt mặn mà! Hữu uống nước lao canh mà càng khát”. Chỉ có thế. Liệu có là “dâm thư”?

Lúc thầy Đề lẻn vào phòng Nguyệt Ba: “Dong mây mưa cho phỉ khát khao, xắn tay vô mở cửa động đào, cho bướm bạc liệng vào nút nhụy. Tội nghiệp cho Nguyệt Ba! Mấy đêm chẵn mắt không ngưng lụy, thêm đàng dài nghỉ mệt mê man, bởi vậy cho nên, bướm ong bay đáo lại nghinh ngang, nào khác vườn hoang hoa bạ. Quả là nồi nhỏ khôn vừa vung cả, tiểu thuyền mà thả ra khơi, gió dập sóng dồi ắt rã. Vừa tỉnh giấc thấy đâu người lạ, kề bên mình thân đã lõa lồ, Nguyệt Ba hổ mặt muốn hô, chợt nhìn lại mình cô cũng vậy”. Cô sẽ khóc? Tất nhiên. “Thầy Đề liền bước lại gần kề, vói níu nhành huê mà bẻ. Miệng nói tợ kiết ma đọc kệ, tay lần như thầy bói lần song, nguyệt hoa hoa nguyệt não nồng, đêm xuân khó cầm lòng cha chả”. Chỉ có thế. Liệu có là “dâm thư”?

Và đây nữa, lúc chú Bảy người Chà Và chung chạ với Hà Hương: “Chú Bảy làm tợ như cửu hạn phùng cam vũ, khác nào bằng điểu ngộ lam phong, Hương thì khổ như thuyền bị sóng giữa dòng, chặc lưỡi rên là dường như sấm”. Chỉ có thế. Liệu có là “dâm thư”?

Nhìn chung, những cảnh giường chiếu chỉ táo bạo đến cỡ đó là cùng, thế nhưng thời ấy, thiên hạ đã phản ứng ầm ầm, liệu có đúng như các bài báo bút chiến thời ấy đã phê phán?

Lý do thu hồi, nhà nghiên cứu Võ Văn Nhơn phân tích chuẩn xác hơn: “Việc đưa một nhân vật phản diện làm nhân vật chính, tô đậm những sắc thái của một thứ tình yêu quay lưng với đạo lý, chạy theo những hấp dẫn của xác thịt thuần túy, là nguyên nhân chính khiến cho Hà Hương phong nguyệt bị dư luận lên án mạnh mẽ. Nàng Hà Hương xinh đẹp, còn biết làm thơ nhưng không phải là nhân vật lý tưởng như trong truyền thống mà lại mang rất nhiều tính xấu: đua đòi, cờ bạc, lợi dụng nhan sắc của mình để quyến rũ đàn ông. Kiểu nhân vật biểu tượng cho sự cám dỗ của sắc dục này chưa hề có trong văn học truyền thống. Tác phẩm của ông bị lên án vì đã chuyển tải một quan niệm không truyền thống về tình yêu, luân lý trong thời điểm nhân dân Nam bộ cần cổ súy cho đạo đức truyền thống, cho tình yêu nước để có sức mạnh chiến đấu với giặc ngoại xâm hơn là những tình cảm cá nhân ngang trái, buông thả”.

Qua các pha hấp dẫn vừa nêu trên, cũng là phong cách nhất quán của của Lê Hoằng Mưu. Theo y, phong cách ấy, gọi chính xác nhất vẫn là truyện thơ, một sự nối dài của truyện thơ nôm khuyết danh Lâm tuyền kỳ ngộ, Phạm Công - Cúc Hoa, Chàng Chuối tân truyện, Thạch Sanh, Lưu nữ tướng… Có khác chăng, là hình thức biểu hiện của từng câu thơ không xuống dòng đấy thôi. Do lẽ đó, y không đồng ý khi cho rằng đây là tiểu thuyết đầu tiên của Việt Nam, có thể “soán ngôi” Tố Tâm như các ông Bằng Giang, Bình Nguyên Lộc, Võ Văn Nhơn… đã khẳng định.

Mà thôi, ấy là chuyện của các nhà nghiên cứu học, còn y, bất quá chỉ là người làm người ham đọc sách mà lộng ngôn đấy thôi. Chấp làm gì. Hãy cứ để y bàn tiếp tục bàn chuyện gối chăn như Hà Hương phong nguyệt, có phải tốt hơn không? Thì cứ tiếp tục đi. Nào ai có nói gì đâu. Được lời như cởi tấm lòng, y hứng chí và nhớ lại đã đọc mẩu chuyện này: Trong kháng chiến chống Pháp, có một lần đi thực tế lấy cảm hứng sáng tác, nhà thơ Xuân Diệu đã chứng kiến một pha đối đáp cực kỳ có văn hóa. Khoái quá! Về sau, nhà thơ có ghi lại trong một tập tiểu luận văn học của ông.

Lúc ấy, trời ngã về chiều, mọi người đang đứng bên bến đò để chờ đưa qua sông. Giây lát sau, cô lái đò cập thuyền vào bến. Vì cô có nhan sắc, dễ nhìn nên một câu học trò láu lĩnh đã buông lời trêu chọc: “Hoa kia tươi tốt rườm rà/ Tuy rằng tươi tốt nhưng mà ong châm”. Mọi người cười ồ lên. Nhà thơ Xuân Diệu cũng cười, nhưng ông lại hồi hộp vì không biết cô lái đò sẽ phản ứng ra sao? Vì “hoa tươi” mà bị “ong châm” ắt hoa héo, hương tàn, nhụy rữa! Đùa cợt với người phụ nữ như thế kể ra cũng hơi bị ác. Nhưng cứ thong thả như không, chờ cho mọi người lên thuyền, xong, cô lái đò đẩy sào ra khỏi bến và bắt đầu cất giọng... ngọt như mía lùi: “Hoa tàn nhưng nhụy không tàn/ Muốn xem chị vén bức màn cho xem”. Ba chữ “vén bức màn” quả đắc địa! Cậu học trò lúc ấy có lẽ phải... nhảy xuống sông cho đỡ thẹn chăng? Chi tiết này không nghe nhà thơ Xuân Diệu kể!

Cụ Vương Hồng Sển là người sưu tập đồ cổ rất nổi tiếng, không những thế, cụ còn viết khá nhiều sách khảo cứu rất có giá trị. Đọc sách của cụ, điều khiến ta thích thú là thỉnh thoảng bên cạnh những vấn đề cực kỳ nghiêm túc, cụ lại chêm vào những câu ba lơn rất dí dỏm, thú vị, giống như ăn bún bò Huế mà ớt cay xé lưỡi vậy!

Chẳng hạn, trong tập Tự vị tiếng Việt miền Nam (NXB Văn hóa Thông tin -1993), có một đoạn viết về “Câu hát xưa của vùng Ba Cụm, Chợ Đệm”: “Đệm sút vun, bàng vẫn là bàng/ Anh đi ghe ở bạn, chị ở nhà bịt cái răng vàng, đợi ai?”. Đó là câu hát của trai kia chọc gái, gái có chồng chèo ghe chài; gái ở nhà không thủ trinh. (“Vun” là cơi đắp lên, làm cho cái viền bao đệm thêm dày thêm; “bàng” là cọ bàng, dùng đan “đệm”, đan “bao” gọi  đệm bàng, bao bàng).

Câu này có nghĩa hay ho của nó, thế mà một hôm có một học giả quê ở Chợ Đệm, đi kháng chiến về là Bảy Trấn, đến đọc cho tôi nghe một câu như vầy, và bảo tôi nếu nhớ thì xin bổ túc: “Đệm ba đu, em còn chê chưa khéo”. Lúc đó tôi đành chịu bí, và nhớ đâu như vầy: “Đệm ba đu, em còn chê chưa khéo/ Chờ cho trăng lặn rồi, em đòi đắp xéo mới nghe”. Cố nhiên anh Trấn chưa chịu. Nay vỡ lẽ ra tôi mới rõ, có lẽ anh nghe thấp thố: “Đệm sút vun...” rồi người nào đó nói lái lại là “Đ... suốt đêm” nhớ ba chớp ba nháng thành ra “Đệm ba đu...” v.v... Ấy tiếng Việt ta ác ôn như thế, chứ danh từ “đu” là vô nghĩa và vẫn không có trong nghề đương dát. Câu này tôi chịu rằng tục, để hay không là quyền người in từ điển, còn tôi có nhiệm vụ lượm một tiếng xưa, thì phải ghi chép lại đây, vì có như vậy mới gọi là làm giàu cho tiếng nói” (tr.396).

Người Việt vốn thích đùa. Dầu là người của cửa Khổng sân Trình, đạo mạo là thế, nghiêm nghị là thế, nhưng các cụ nhà Nho cũng nghịch ra phết. Cụ Nguyễn Khuê (1825 - 1896) ở thôn Vân Sơn (Bình Định) vốn giỏi chữ nhất trong vùng, dạy dỗ bao nhiêu nhân tài cho xã hội. Cụ có làm bài thơ như sau: “Bốn phía trông chừng thấy chúng xa/ Hai tay khe khẽ trụt quần là// Gành ngao lún phún rêu mờ đá/ Bãi hạc lao xao sóng trổ hoa/ Kiến ngỡ mưa giông tha trứng chạy/ Cóc ngờ lụt ói cõng con ra/ Cũng vì méo mó nên che đậy/ Giữ nắng gìn mưa của mẹ cha”. Bài thơ tả... danh lam thắng cảnh nào đó hay tả mưa giông, lụt ói? Nhầm tất! Ấy là một sáng đẹp trời các văn nhân thi sĩ ngồi uống trà đàm đạo văn chương. Bỗng họ thấy từ hàng rào nhà hàng xóm có một yểu điệu thục nữ bước ra vườn, ngó quanh quất rồi ngồi xuống... tồ tồ! Chứng kiến cảnh ấy nên bậc túc nho Nguyễn Khuê ở thế kỷ XIX đã có bài thơ như trên!

Đã có “cái ấy” thì phải kể thêm “cái này” cho “hòa hợp âm dương vậy”. Đầu thế kỷ XX, thời Pháp thuộc, có viên Thừa phái và quan Thiếu bảo trong huyện Kiến Xương (Thái Bình) thích hát cô đầu, nhưng keo kiệt nên thường quên tiền “bo”. Để “sửa lưng” khách, một hôm cô đầu trẻ xin hát tặng một bài ‘hát nói”. Khi khách vừa nổi tiếng trống chầu rôm rã, cô đầu cất giọng”mưỡu” ngọt ngào: “Người ta đều gọi ông Thừa/ Mà em nhìn mãi chẳng thừa cái chi/ Cái thừa là cái chi chi/ Vứt đi là hết còn chi là thừa”.

“Tom chát tom...” vút lên như khen, như khích lệ giọng ca. Cô đầu chuyển qua “hát nói”: “Ông thừa gì thế?/ Bấy lâu nay ôm bế tiếng ông Thừa/ Em nhìn xem mặt mũi đều vừa/ Mà nhìn kỹ cái thừa đâu chẳng thấy/ Có phải cái thừa là “cái ấy”/ Thì đây này “cái thiếu” của em đây!/ Đem thừa kia bù với thiếu này/ Cho khít khịt từ nay vừa vặn cả”. Chỉ mới nghe đến đây, khách hứng chí “tom chát tom” và cười sảng khoái. Cô đầu bình tĩnh hát tiếp: “Ông Thừa vì vét tiền thiên hạ/ Cụ Thiếu càng ham của thế gian/ Thiếu Thừa âu cũng là quan”. Câu hát vừa dứt. Mặt khách đỏ bừng bừng nhưng cũng cố... nhoẻn một nụ cười!

Còn nhớ, năm xưa, y có mua được quyển Văn hóa làng Quỳ Chử (NXB Văn Học) của nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Trọng Miễn, chỉ in 500 bản. Làng này nằm cạnh quốc lộ 1 A và đường xe lửa Bắc Nam - cách thị xã Thanh Hóa 10 km về phía Bắc, có một bề dày văn hóa rất đáng nể. Xin chọn nhón một mẩu chuyện này đã in trong sách: Trong làng có tay lý trưởng hách dịch chẳng may bị đau răng, thường chửi quàng, chưởi bậy làm điếc tai làng xóm. Bữa ấy, cụ Cử Quỳ, đang tiếp khách văn nhân tao nhã mà cứ nghe những “lời có cánh” ấy, cụ bực mình lắm. Để dạy cho lý trưởng một bài học, cụ bèn viết câu đối, sai học trò sang dán trước nhà lý trưởng: “Thèm ăn, răng đã lung lay rụng/ Chán đ..., cu còn lủng lẳng đeo”. Chỉ có mấy chữ mà từ đó về sau, dù đau răng, nhức buốt nhưng tay lý trưởng đó cũng phải ngậm tăm, không dám há mồm chửi tục nữa!

Đấy! Ông cha ta cười cũng “độc”, phải không?


L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 2.5.2018

 

anh-nghia-pham-le-minh-quoc

Lê Minh Quốc - Nghĩa Phạm chụp khoảng năm 2000 tại nhà riêng


Lại vừa đi Đà Nẵng về. Lần đầu tiên lên chơi chùa Linh Ứng tại Sơn Chà. Ngày lễ, người đi như trẫy hội. Trưa nắng. Đứng trên núi nhìn về khơi xa. Tưởng chừng như còn nghe tiếng sóng vỗ. Sóng vỗ trong lòng. Kỷ niệm cũ ùa về. Tất cả đã cũ. Lãng quên. Chỉ còn lại “Bạch vân thiên tải không du du”? Ngàn năm mây trắng trên đầu còn bay. Không đâu. Những hình bóng đã qua dù gì đi nữa cũng đã là là một phần đời sống của dĩ vãng. Làm sao có thể phủ nhận? Làm sao có thể lãng quên đi một mùa son phấn trong một ngày lãng du? Ừ, cứ cho là thế. Nhưng rồi mỗi người lại có một mối quan tâm khác. Một đường đi. Một nẽo về. Phải vậy thôi.

Lại nhớ đến câu thơ ngẫu hứng của bạn thơ Trương Nam Hương đã đọc trong ngày họp mặt gia đình. Một tiếng thơ hòa tan trong sóng gió bên một bến sông, nơi ấy, y đã từng bơi lội thời còn đi học. “Tình yêu lộng lẫy sông Hàn/ Đêm nay trăng mật trên làn da nhau/ Trái tim hòa nhịp hồng cầu/ Một nhà thơ nữa bắt đầu hoài thai”. Thơ tặng cho nhau. Tình bạn. Làm sao quên? Câu thư tư đã ngụ ý gì? Lúc nghe thơ tặng, y đã nhớ lại câu thơ đã viết tặng bạn từ năm 1990, lúc nhìn bạn ru con: "...Như là vượt núi trèo non/ Ru con - tôi đã già hơn mấy lần/ Cảm thông là tiếng chim ngân/ Cùng ru con có một vầng trăng kia/ Ngủ đi con. Đêm đã khuya".

Những lúc về quê, một trong những điều thích thú nhất vẫn là món ăn. Món ăn quan trọng lắm. Tất nhiên rồi. Không cần phải dài dòng cà kê dê ngỗng làm gì. Chỉ xin nói thêm rằng, món ăn còn đóng vai trò nhịp cầu gắn kết của tình hữu nghị. Những ngày này, sự kiện về cuộc họp thương đỉnh liên Triều tại Bàn Môn Điếm đang được cả thế giới quan tâm. Tò mò hỏi rằng, dịp đó, họ sẽ ăn những món gì? Căn cứ vào nguồn tin của hãng thông tấn Reuters, báo Thanh Niên ngày 24.4.2018 cho biết: “Cụ thể, món rosti Thụy Sĩ (khoai tây bào chiên) sẽ xuất hiện trên bàn tiệc để phục vụ ông Kim. Theo Nhà Xanh, món ăn được chọn như một sự gợi nhớ về thời thơ ấu ông Kim từng sống tại Thụy Sĩ. Trên thực tế, Triều Tiên chưa bao giờ xác nhận thông tin lãnh đạo Kim từng học tập ở Thụy Sĩ, nhưng nhiều bạn học cũ và giáo viên khẳng định điều này. Cũng trong thực đơn, món John Dory nướng, làm từ cá Dory sẽ dành cho Tổng thống Moon nhớ về tuổi thơ ở thành phố cảng Busan.

Ngoài ra, món mì lạnh kiểu Bình Nhưỡng, hay còn gọi là naengmyeon, cũng được phục vụ trên bàn tiệc thượng đỉnh. Nhà Xanh cho biết đây Tổng thống Moon đã đề nghị món mì này từ tiệm Okryu Gwan, nhà hàng nổi tiếng của Triều Tiên, và phía Bình Nhưỡng đã đồng ý. Món ăn đặc biệt sẽ được đích thân bếp trưởng của Okryu Gwan tới Bàn Môn Điếm làm.

Hai nhà lãnh đạo cũng sẽ được thưởng thức rượu làm từ đỗ quyên. Bên cạnh đó, trên bàn tiệc cũng phục vụ rượu munbaeju truyền thống, vốn bắt nguồn từ miền Bắc nhưng giờ rất nổi tiếng ở Seoul”.

Nhân đây lại nhớ, vào khoảng tháng 11 năm 2017, khi Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in chủ trì đãi người đồng cấp Mỹ Donald Trump trong cuộc gặp chính thức tại Seoul, AFP cho biết, trong thực đơn có món sườn bò. Vấn đề thiên hạ quan tâm vẫn là ở chỗ miếng sườn bò ấy, có rưới nước sốt gì? Thưa, nước sốt làm từ món tương 360 năm tuổi. “Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét”. Không rõ, kỹ thuật làm tương Bần của nước Nam ta và Hàn Quốc trong tương đồng có gì dị biệt?  

Thử hỏi, vì sao lại Hàn Quốc đãi cả “món tương 360 năm tuổi”? Đơn giản chỉ vì rằng món tương này làm từ năm 1657, là năm sinh của một trong những vị cha già của nước Mỹ là Benjamin Franklin. Thế thì mọi việc không hề ngẫu nhiên mà đã khái quát được sự tinh tế trong nghệ thuật ngoại giao, từ thức ăn đấy chứ?

Với y, một trong những khoái trá của lúc về quê vẫn lên đèo Le, nơi ấy nổi tiếng với món gà luộc. “Quảng Nam ta có đèo Le/ Bà con ta nói cứ đè mà leo”. Lại nhớ, thời còn trai trẻ, chưa hết xí quách, còn sung, nhà thơ trào phúng Cung Văn lên chơi nơi này đã ngẫu hứng nghĩ ra vế đối cực kỳ ba trợn: “Lên đèo Le, đá đứng leo/ Xuống dốc Dựng, chưn đừng nới”. Chưn là chân, phát âm theo kiểu Quảng Nam hay cãi. Không chỉ hay cãi mà còn biết nói lái một cách tài tình nữa. Mà hầu như người dân vùng miền nào cũng biết nói lái.

Rằng, ở xứ Nghệ có anh chàng nọ làm nghề phá núi, lấy đá. Ngày nọ, cũng theo bạn bè đi hát ví, anh chàng mới thò mặt đến, có cô nàng trêu:

Đố ai đội đá vá trời

Ai chôn con nuôi mẹ, ai khóc trời cho măng lên?

Chữ nghĩa không bao nhiêu, lại không đọc Nhị thập tứ hiếu nên anh chàng ngắc ngứ. Không trả lời được. Cáu ba xương sườn, nhưng đành chịu. Trong lúc bí rị, sượng trân, anh chàng bực mình buột miệng:

Sự đâu có sự lạ đời

Đá em leo thì có, đá vá trời có đâu?

Ai nấy cười rần rần. Khen ngợi câu đối lại quá tài tình. Còn cô nàng đỏ bừng mặt vì ba chữ tuyệt hay “đá em leo” mới... ý vị làm sao! Đấy! Cười với chữ với nghĩa như thế mới thâm trầm!

Đá là đá. Nhưng đá đi chung với vàng trở thành “đá vàng” lại hàm nghĩa khác. Truyện thơ Nôm Ngọc Kiều Lê do Lý Văn Phức chuyển thể từ tiểu thuyết chương hồi cùng tên của Trung Quốc có câu: “Đá vàng đá tạc một lời/ Cầm bằng đá nát vàng phai cũng liều”.  Sực nhớ đến câu hát ví cũng ở xứ Nghệ, rằng, có một vị quan lớn về hưu, dù tuổi cao sức yếu nhưng còn ham vui, thường chỉ đứng sau “gà” cho các o phường vải. Ngày nọ, biết có đám bạn phường rèn kéo đến, ông ta “gà”:

Một lời vàng đá chi chi

Mặc ai thì thụt, thụt thì mặc ai

Câu này nói lên được động tác của nghề rèn. Biết vị quan lớn “gà” cho câu oái oăm quá, đám thợ rèn bèn “láu cá”:

Một quan thì vẫn chưa dài

Còn đây thì thụt kiếm vài ba quan!

Câu hát đối lại ác quá. Ác ở chỗ tráo nghĩa của chữ “quan” và “thì thụt”.

Hãy trở lại với món gà đèo Le khét tiếng là ngon. Dù món ăn quen thuộc nhưng cái ngon của nó chính là ở sự chế biến. Nghĩ thế, bởi từng tự tay làm bếp nhưng rồi chính y cũng phát ngấy lên. Không hề gợi lên một sự thèm thuồng nào. Tại sao? Y hoàn toàn không biết cách nấu nướng. Làm thơ cũng vậy thôi. Phải biết sử dụng các con chữ điêu luyện như tay đầu bếp lúc xử lý các nguyên liệu. Họ thừa sức biết, món gì sẽ cần các loại gia vị gì để cuối cùng đạt đến sự khoái khẩu. Nhà thơ cũng chẳng khác gì khi quan sát, tìm tòi từ các con chữ.

Mà các con chữ đôi lúc cũng oái ăm quá đi mất. Chẳng hạn, tục ngữ có câu: “Vắng chủ nhà, gà mọc đuôi tôm”; vế sau còn có dị bản “gà vọc niêu tôm/ gà vọc niêu cơm”. Lâu nay đã có nhiều tranh luận chán chê, mới đây nhất, khi bàn về tục ngữ này, nhà nghiên cứu An Chi cho rằng: “chuyện tranh cãi có vẻ như vẫn… chưa đến hồi kết” (Báo Thanh Niên ngày 22.4.2018). Xem ra, để hiểu lời ăn tiếng nói từ ngàn xưa để lại, quả không  dễ chút nào.

Trước hết, cần bàn về từ “vọc”, có phải đó là tính cách của “Con gà tục tác lá chanh?”. Theo Việt Nam từ điển (1931): “Vọc: Vầy, mó”. Hiểu theo nghĩa này, ta có các câu cửa miệng “Hoài hồng ngâm cho chuột vọc, hoài hạt ngọc cho ngâu vầy”. Động tác vọc, Tự điển Việt Nam (1971) bổ sung: “Đá động, thò tay vào, vầy mó, nặn bóp cho sướng tay”. ”. Phương ngữ Nam bộ (2014) của Nam Chi Bùi Thanh Kiên cũng giải thích: “Thò tay vào trong mà mằn mò rờ bóp cho sướng tay”. Lại nhớ đến câu ca dao: “Ngồi buồn vọc nước giỡn trăng/ Nước xao, trăng lặn buồn chăng hỡi buồn?”.

Động tác vọc là vậy. Đã bao giờ, có ai nghe đến gà vọc? Cũng nói về lúc chủ vắng nhà, ai lại không nhớ đến câu: “Vắng chủ nhà gà bươi bếp”?  Bươi là bới, là vạch ra, moi ra, lật, xáo từ dưới lên để tìm kiếm vật nào đó bị khuất ở dưới. Thời trẻ đi học, cô cậu nào chữ viết xấu quá, thầy cô thường chê: “Chữ viết như gà bươi”. Lại còn có câu vè nói ngược: “Gà cồ hay ủi/ Heo nái hay bươi/ Nước kém ba mươi/ Mồng mười nước dẫy”. Thế thì gà vọc là vọc ra làm sao?

Hơn nữa đâu phải lúc nào cái “niêu cơm/ niêu tôm” ấy, chủ nhà cũng để hớ hênh, quên đậy nắp khiến con gà có thể dễ dàng vọc? Ừ, cứ cho là gà có động tác vọc đi nữa nhưng cớ sao, con gà chỉ vọc “niêu cơm/ niêu tôm” chứ không vọc gì khác? Một câu thành ngữ/ tục ngữ ra đời thì nó phải có sức khái quát, phổ biến và hợp lý trong mọi tình huống.

Từ những dị bản nêu trên, y cho rằng cách ghi nhận của Việt Nam từ điển (1931) hợp lý hơn cả: “Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm”. Tại sao đuôi tôm? Bởi vì rằng, con tôm hay quẫy, búng, nhảy liên tục. Một khi nói “Hàng tôm hàng cá” ngoài nghĩa bóng “Nói năng hỗn xược, kích bác, kèn cựa nhau” (Thành ngữ tiếng Việt - NXB Khoa học Xã hội - 1978, tr.159), ta còn thấy rõ tính chất của sự quẫy động liên tục của tôm cá. Vì lẽ đó mới có câu so sánh “Mồm mép tép nhảy” là vậy. Mạnh ai nói, giành phần hơn về mình, nói không ráo mép, cái lưỡi liên tục cựa quậy đến… mỏi miệng. Thế thì, câu thành ngữ “Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm”, có thể hiểu có lúc vắng chủ nhà/ người đứng đầu thì kẻ dưới tự tung tự tác, ngang ngược, quậy đầu này, phá đầu kia, tự ý làm những việc không phải phép.

Có ý kiến cho rằng: “Tình trạng vắng chủ nhà (thì cũng giống như) gà (giai đoạn) mọc đuôi tôm; và hiểu: Trẻ con phá phách nghịch ngợm nhất là lúc bố mẹ vắng nhà; gà con hiếu động, quấy phá nhất là lúc mọc đuôi tôm, tách mẹ (Báo Người lao động ngày 14.11.2015). Đâu phải đợi đến lúc “gà (giai đoạn) mọc đuôi tôm” mà ngay cả lúc còn “chíp hoi chanh cốm” nó đã có tính cách “Vắng chủ nhà gà bươi bếp” rồi kia mà!

Trở lại với từ “vọc”, nhân đây xin nói luôn, với người miền Trung, vọc còn có thể hiểu là phá, quấy. Khi giải thích như vậy, trong Sổ tay lời ăn tiếng nói Quảng Bình, nhà nghiên cứu Nguyễn Tú nêu thí dụ: “Cụ thật tội nghiệp, được một thằng con trai, nó đi theo bọn cờ bạc, rượu chè, cứ vài tháng lại về vọc cụ, chán lại bỏ đi” (tr.350); Tự điển Việt Nam (1971) còn ghi nhận hàm nghĩa “Lựa chọn nhiều lần: Vọc hết thúng trái cây”.

Nào có ai thấy ma hình thù nó ra làm sao nhưng rồi có những trường hợp, người ta vẫn tin do ma vọc. Chẳng hạn, thức ăn đã nấu chín, chưa hề có ai đụng đũa vào nhưng chỉ sau khoảng thời gian ngắn lại bị thiu, người ta cho rằng “ma vọc”. Không những thế, với những trái mít có nhiều dấu đen, không ăn được lại bị gọi “mít ma vọc”. Với người miền Nam thưở trước còn sử dụng cách nói làm vọc nhớt/ đánh vọc nhớt là làm không nên việc, đánh không đau như Đại Nam quấc âm tự vị (1895) đã cho biết.

Ngày tháng trôi qua nhanh. Có những câu nói cửa miệng ấy, theo thời gian đã chìm dần vào lãng quên. Từ mới lại xuất hiện. Đời người cũng chẳng khác gì. Thế hệ này đã tre già thì lại có sự nối tiếp của măng mọc. “Trái tim hòa nhịp hồng cầu/ Một nhà thơ nữa bắt đầu hoài thai”. Đó chính là ngày tháng của y đã từng bước bắt đầu. Và ngoài cửa sổ phòng văn mỗi ngày, nắng đã lên, mưa đã về và bắt đầu xum xuê hoa trái. Tạ ơn đời. Tạ ơn người. Ngày vui đang đến…

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 14.4.2018

 

ME-DA-DI-CHO-VE-3-Ranh-nay

Thời buổi này, trong một ngày, thử hỏi, có ai không leo lên mạng xã hội? Thế giới đó, hầu như đang thu hút sự quan tâm của rất nhiều người, khi cần tìm kiếm/ chia sẻ thông tin, thư giản, buôn dưa lê, chém gió… Chẳng việc gì phải bàn về chuyện này. Ai thích, leo lên. Bằng không, tụt xuống. Thoát ra ngoài.

Với y, những ngày này có 2 chuyện gây ầm ĩ nhất thuộc lãnh vực y đang quan tâm, vẫn là thơ và nghiên cứu về học thuật. Sư nói sư phải, vãi nói vãi hay. Ai cũng cho mình là đúng. Kệ họ. Can cớ gì mình phải có ý kiến ý cò. Chỉ quan sát. Và giật mình nhận ra bây giờ, hầu như không còn là chuyện tranh luận. Chỉ là những tiếng nói mạt sát, mắng nhiếc sa sả, cứ như thể hàng tôm hàng cá ngoài chợ. Mà vẫn chưa khiếp bằng các comment hùa theo, luận tội tơi bời. Nện cho chết. Không thể ngóc đầu lên. Nhiểu nhại. Chế giễu. Phỉ báng. Đọc tranh luận còn là lúc qua các ý kiến khác nhau, người đọc thấu hiểu, sáng tỏ thêm một vấn đề nào đó. Nay, quyết là không. Chỉ là những lời rủa, mắng không khác gì đào đất mà chôn. Ai cũng cho mình có cái quyền luận tội/ kết tội người khác. Ngẫm ra, dành cho nhau một lời nói tốt đẹp sao mà khó quá. Khó tìm thấy qua các cuộc tranh luận trên mạng xã hội.

Mà thật ra, chuyện này chẳng có gì ghê gớm, chẳng đáng bận tâm. Còn có nhiều chuyện khác đáng quan tâm hơn. Chẳng hạn, mới vừa rồi dư luận báo chí “dậy sóng” với Ký ức Hội An - một chương trình nghệ thuật thực cảnh do ông Mai Soái Nguyên người Trung Quốc làm tổng đạo diễn. Thậm chí báo Văn Hóa - cơ quan chủ quản của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch còn đặt vấn đề: “Ký ức Hội An” hay “Uất ức Hội An”?

Trong bài báo này, có ghi lại phát biểu của nhà văn Trần Kỳ Trung: “Lần đầu tiên tôi thấy trên sân khấu người con gái Việt Nam mất hẳn mái tóc nuột nà, đen mượt mà thay vào đó là sợi dây lạ lùng, trông giống như đuôi sam của mấy ông quan triều Thanh mà tôi thấy trong phim Trung Quốc hay chiếu. Sao lại có sự “cách điệu” xuyên tạc những người phụ nữ Việt Nam đến như vậy. Đó là chưa kể những người được đóng vai cư dân Hội An toàn cởi trần, mặc quần thụng, đầu quấn khăn… giống y như người dân ở vùng Nội Mông (Trung Quốc). Còn nhiều chi tiết “lạ” trong “Ký ức Hội An” tôi không thể miêu tả hết, nhưng tôi có thể khẳng định rằng, “Ký ức Hội An” truyền đi một thông điệp về hình ảnh Trung Quốc, tinh thần Trung Quốc, biểu đạt tư tưởng Trung Quốc rất rõ ràng… Chỉ khi hình ảnh cuối cùng của “Ký ức Hội An”, họ kéo một mô hình chùa Cầu to gần bằng thật ra góc sân khấu cho mọi người chiêm ngưỡng. Lúc đó tôi mới nghĩ rằng, trên sân khấu họ đang nói về Hội An”.

Mà thật ra, chuyện này chẳng có gì ghê gớm, đáng bận tâm. Còn có nhiều chuyện khác đáng quan tâm hơn. Chẳng hạn, à, chẳng phải nên liệt kê ra làm gì. Vì sực nhớ đến mẩu câu nói của cụ Phan Châu Trinh. Lúc cụ kêu gọi các ông nhà nho hãy cắt tóc ngắn, ai nấy đều chần chừ, cụ bèn nói khích: “Nào! Thử ‘cúp’ đi có được không? Đừng nói là việc nhỏ; việc này mà các anh không làm được, tôi đố các anh còn làm được việc gì!”. Đúng thế, hễ cứ gặp việc/ chuyện gì cũng cho “nhỏ như con thỏ”, làm sao kham nổi việc lớn? 

Thời buổi này ngày nào cũng có chuyện cà chớn, nhố nhăng cả. Mà thôi. Chẳng việc gì phải suy nghĩ lăn tăn, vơ lấy vào người những gam màu nhăng nhố ấy. Mỗi ngày, tìm lấy một niềm vui. Có thể ảo tưởng. Có thể niềm vui sống. Tùy lựa chọn của mỗi người. Có người nhìn thấy hiện nay, “Việt Nam là cường quốc của thơ”; ngược lại có ý kiến “Việt Nam: "cường quốc" rượu bia, gánh nặng bệnh tật”. Nghe choáng chưa? Ai lại dám thốt ra câu nói liên quan đến bia bọt thế kia? Liệu có đáng tin cậy không? Sáng nay, tình cờ đọc báo Sức khỏe & đời sống - cơ quan ngôn luận của Bộ y tế, số ra ngày 14.4.2018 thấy thông tin rành rành như sau:

“Hiện chỉ số phát triển con người Việt Nam (HDI) đứng thứ 116/182 trên thế giới, nhưng chỉ số sử dụng rượu bia của Việt Nam đang đứng ở vị trí 29 trên thế giới. Tỉ lệ đó minh chứng Việt Nam đang là một cường quốc về sử dụng rượu, bia. Thông tin trên được đưa ra tại Hội thảo lấy ý kiến về Dự thảo Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia do Bộ Y tế và Tổ chức Y tế thế giới tổ chức ngày 13/4. Cũng tại hội thảo này, những con số về tỷ lệ sử dụng rượu, bia tại Việt Nam khiến nhiều người phải giật mình.

Phân tích bức tranh toàn cảnh về việc sử dụng rượu bia tại Việt Nam, bà Vũ Thị Minh Hạnh, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách y tế, Bộ Y tế cho biết, hiện tỷ lệ sử dụng rượu, bia ngày càng tăng báo động. Năm 2017, sản lượng bia chạm mốc 4 tỷ lít, tăng 10,4% so với năm 2016 và bình quân mỗi người dân tiêu thụ 42 lít bia/năm. Sản lượng rượu thủ công năm 2016 đạt 188 triệu lít trong đó sản lượng rượu thủ công sản xuất nhằm mục đích kinh doanh được cấp phép năm 2016 là 32 triệu lít”.

Tại sao người Việt hiện nay đã, đang và sẽ tiếp tục phấn đấu trở thành đệ tử Lưu Linh?

Câu hỏi này, đặt ra bằng thừa. Các bộ óc uyên bác đã phân tích nát nước rồi. Nhắc lại làm chi, chỉ rườm lời. Có điều, y chưa nhận ra ý kiến nào cho rằng, biết đâu cái sự mê đắm bia rượu ấy còn do tác động từ… thơ! Nghe lạ tai quá phải không? Một khi thú vui nào đã được nâng lên tầm mỹ cảm bằng nghệ thuật ắt sẽ có tác động đến công chúng. Công chúng đón nhận lấy nó như một sự tao nhã, khác hẳn những thú vui khác. Và quên đi tác hại của nó. Rượu là một thí dụ. Thơ ca kim cổ xưa nay, một khi đã nói về rượu thì các thi nhân đã dành cho nó biết bao lời lẽ hoa mỹ, ca ngợi tót vời há chẳng phải đó sao? Với từ khóa “Thơ về rượu”, chỉ bằng một cú nhấp chuột, Google cho biết: “Khoảng 7.960.000 kết quả (0,35 giây)”. Khiếp chưa?

Dám đồ rằng, đã là người cầm bút, có lẽ không nhà thơ nào không một lần/ nhiều lần viết về rượu? Đúng không nào?

Dám đồ rằng, đã là người cắp sách đến trường, ai lại không từng nghe thầy cô giáo khuyên răn chớ nên uống rượu. Lời khuyên ấy ra làm sao? Đại khái cũng tựa như bài học trong Quốc văn giáo khoa thư: “Các anh hãy trông người kia đi ngoài đường. Mặt đỏ gay, mắt lờ đờ, quần áo xốc xếch, chân đi xiêu bên nọ, vẹo bên kia, múa chân múa tay, mồm nói lảm nhảm, chốc lại ngã chúi một cái. Lũ trẻ đi theo sau, reo cười chế nhạo. Thỉnh thoảng anh lại đứng lại, nói những chuyện gì ở đâu đâu. Người qua lại, trông thấy cũng phải tránh xa. Người ấy vừa ở hàng rượu ra. Chỉ tham mấy chén rượu mà thành ra say sưa, mất cả tư cách con người, có khi như là con vật vậy, thật là đáng khinh bỉ. Hỡi các anh, các anh đã trông thấy người say rượu như thế, thì nên lấy đó làm gương mà giữ mình”.

Thế rồi, khi đã lớn, đã trưởng thành, hỡi ôi, cậu học trò ngày xưa đã quên. Quên tuốt luốt. Cứ nốc tì tì. Thì y đó chứ ai.

Nhân nhớ về bài học Người say rượu vừa nêu trên, lại nhớ đến một bài học thuộc lòng khác. Anh bạn thơ Đỗ Trung Lai cho biết thời học cấp III (1965-1968) ở miền Bắc, đã học trong sách giáo khoa môn Văn: “Ban ngày quan lớn như thần/ Ban đêm quan lớn tần mần như ma/ Hai tay quan lớn gian tà/ Toa xoa cát phẩm, tay sà hạ chiêu”. Sách giảng rằng, đó là: “Ca dao chống phong kiến” (Báo Lao động cuối tuần số 15 từ ngày 13.4 đến 15.4.2018). Không rõ, nếu học trò cắc cớ hỏi cát phẩm, hạ chiêu là gì thì thầy/cô giáo sẽ trả lời ra làm sao?

Sắp đến, lại về Đà Nẵng. Ngày ấy, có bia rượu không? Ắt có. Mà có theo cách khác, chứ không phải tâm trạng của thời trẻ: “Tôi mường tượng dáng em về yểu điệu/ Lúc con sông bẽn lẽn áo vu quy/ Chim chóc ơi bay về đây uống rượu/ Chia sớt cùng tôi men đắng buổi chia ly/ Dốc nghiêng chai một lần như từ biệt/ Trăng mỡ màng loáng thoáng nước sông lên/ Tôi ảo giác tìm em trong ảo ảnh/ Ảo tưởng trăng gầy gương mặt giống như em”.

Dòng đời trôi đi mải miết. Chẳng mấy chốc mà già. Chẳng mấy chốc, mỏi gối chồn chân. Chẳng mấy chốc, con người ta chẳng còn ham hố gì nữa. Ngày tháng trôi qua, không bận tâm, không thèm đếm xỉa gì đến thời gian nữa. Ấy là chuyện của thiên hạ. Còn y, thời gian này chỉ mới bắt đầu. Nói như bồ tèo Đoàn Tuấn là y đang bắt đầu của một đời sống khác: “Mặc bao biến động cuộc đời/ Ngôi nhà yêu dấu tình người tỏa hương”.

Ghi nhớ nhé. Vâng, ạ.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 4 trong tổng số 57

trinhduyson