THỂ LOẠI KHÁC Tạp bút LÊ MINH QUỐC: HẠNH PHÚC THẮM TƯƠI NON SÔNG VIỆT NAM

LÊ MINH QUỐC: HẠNH PHÚC THẮM TƯƠI NON SÔNG VIỆT NAM

 

1787017107534_5238016140169864587_5238016140169864587_ad919a83bf58456848cc2ef847e575e0

Kỷ niệm Cách mạng tháng Tám 19.8.2026 và Quốc khánh 2.9.2026:

HẠNH PHÚC THẮM TƯƠI NON SÔNG VIỆT NAM 

LÊ MINH QUỐC

Gió gió ơi! hãy làm giông làm tố

Cuốn tung lên cờ đỏ máu thơm tươi

Vàng vàng bay, đẹp quá, sao sao ơi!

Ta ngã vật trong dòng người cuộn thác

Ôi thiên đường! Tai miên man lắng nhạc

Từ muôn phương theo gót nện rầm rầm

Việt Nam! Việt Nam! Việt Nam muôn năm!

Những câu thơ viết trong tháng 8.1945 của nhà thơ Tố Hữu, nay đọc lại, ta vẫn nghe cuồn cuộn sức sống. Từng câu thơ phản ánh niềm vui, tình cảm của hàng triệu con dân nô lệ đã vùng dậy lật đổ ách thống ngót 100 năm của thực dân Pháp.

Từ “Đoàn quân Việt Nam đi”…

Về tháng ngày này, tập sách Việt Nam những sự kiện lịch sử 1919-1945 của Viện Sử học cho biết: “Không khí sôi sục của khởi nghĩa bắt đầu từ sự kiện Việt Minh biến cuộc biểu tình của Tổng hội Viên chức ủng hộ Chính phủ Trần Trọng Kim ngày 17.8.1945 thành cuộc biểu dương lực lượng cách mạng của quần chúng”. Đây cũng là lần đầu tiên, công chúng biết đến Tiến quân ca - một ca khúc bất tử hình thành từ lúc nhạc sĩ Văn Cao được ông Vũ Quý  - một cán bộ Việt Minh giác ngộ, có những tác động tích cực để hướng một tài năng lớn đi theo cách mạng.

Ngày 7.7.1976, Văn Cao viết bài “Tại sao tôi viết Tiến quân ca”- đây là một văn bản quan trọng giúp cho hậu thế hình dung hoàn cảnh thai nghén và ra đời của Quốc ca nước Việt Nam, trong đó có đoạn kể ông Vũ Quý giao Văn Cao “hãy soạn một bài hát cho quân đội cách mạng chúng ta”.

Văn Cao kể tiếp: “Tôi đang chờ nhận một khẩu súng và được tham gia vào đội vũ trang. Tôi đang chuẩn bị một hành động gì có thể là mạo hiểm hy sinh, chứ không chuẩn bị để quay lại làm bài hát. Thật khó nghĩ tới nghệ thuật lúc này. Tôi đi mãi lúc đèn các phố bật sáng. Bên một gốc cây, bóng mấy người đói khổ trần truồng, loang trên hồ lạnh. Họ đang đun một thứ gì trong một ống bơ sữa bò. Ngọn lửa tím sẫm bập bùng trong những hốc mắt. Có một đứa bé gái. Nó khoảng lên ba. Tôi ngờ ngợ như gặp lại cháu tôi. Đôi mắt nó giống như mắt mèo con. Cháu bé không có mảnh vải che thân. Nó ngồi ở xa nhìn mấy người lớn sưởi lửa. Hình như nó không phải là con cái số người đó. Hình như nó là đứa trẻ bị lạc cũng không phải là cháu tôi. Nó đã chết thật rồi. Có thể nó đã nằm trong đám người chết đói dọc đường Nam Định - Hải Phòng. Tôi bỗng trào nước mắt, và quay đi. Đêm ấy về căn gác, tôi đã viết được nét nhạc đầu tiên của bài Tiến quân ca”.

Cụ thể, lúc ấy, ông cho biết: “Tôi chưa được biết chiến khu, chỉ biết những con đường phố Ga, đường Hàng Bông, đường Bờ Hồ theo thói quen tôi đi. Tôi chưa gặp các chiến sĩ cách mạng của chúng ta, trong khóa quân chính đầu tiên ấy, và chưa biết họ hát như thế nào. Ở đây đang nghĩ cách viết một bài hát thật giản dị, cho họ có thể hát được.

Đoàn quân Việt Nam đi

Chung lòng cứu quốc

Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa...

Và ngọn cờ đỏ sao vàng bay giữa màu xanh của núi rừng. Nhịp điệu ngân dài của bài hát, mở đầu cho một tiếng cồng vang vọng.

Đoàn quân Việt Nam đi

Sao vàng phất phới

Dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than...

Không, không phải chỉ có những học sinh khóa quân chính kháng Nhật đang hành quân, không phải chỉ có những chiến sĩ áo chàm đang dồn bước. Mà cả một đất nước đang chuyển mình.

Tên bài hát và lời ca của nó là một sự tiếp tục từ Thăng Long hành khúc ca: “Cùng tiến bước về phương Thăng Long thành cao đứng”; hay trong Đống Đa:“Thét vang lừng núi xa...”. Lời trên đã rút ngắn thành Tiến quân ca, và tiếng thét ấy đã ở đoạn cao trào của bài hát.

“Tiến lên! Cùng thét lên!

Trí trai là đây nơi ước nguyền!”

Trên mặt bàn chỗ tôi làm việc, tờ Cờ giải phóng đăng những tin tức đầu tiên về những trận chiến thắng ở Võ Nhai.

Trước mắt tôi mảnh trời xám và lùm cây của Hà Nội không còn nữa. Tôi đang sống ở một khu rừng nào đó trên kia, trên Việt Bắc. Có nhiều mây và nhiều hy vọng”.

Vào sáng ngày 17.8.1945, nhạc sĩ Văn Cao kể lại: “Ngọn cờ đỏ sao vàng được thả từ bao-lơn Nhà hát lớn xuống. Bài Tiến quân ca đã nổ ra như một trái bom. Nước mắt tôi trào ra. Chung quanh tôi hàng nghìn giọng hát cất lên, vang theo những đoạn sôi nổi”.

Hai ngày sau, theo tài liệu của Việt Nam những sự kiện lịch sử 1919-1945: “Ngày 19.8.1945 một cuộc mít tinh lớn do Việt Minh tổ chức tại Quảng trường Nhà hát lớn đã kết thúc bằng cuộc tuần hành thị uy của quần chúng phối hợp với lực lượng vũ trang chiếm đóng các công sở, cơ quan đầu não của chính quyền bù nhìn theo lời kêu gọi của Ủy ban Quân sự cách mạng”. Bấy giờ, hòa chung dòng người biểu tình, dù chỉ mới 22 xuân nhưng nhạc sĩ Xuân Oanh đã viết được ca khúc sống cùng năm tháng: “Mười chín tháng Tám. Ánh sao tự do đưa tới. Cờ bay nơi nơi muôn ánh sao vàng. Máu tươi pha đều trên lá cờ bay khắp chốn giang sơn. Người Việt Nam ta giữ vững trong tim lời thề. Mười chín tháng Tám chớ quên là ngày khởi nghĩa. Hạnh phúc thắm tươi non sông Việt Nam".

… Đến “Đồng bào nghe có rõ không?”. 

Có thể nói, cuộc ra quân trong cả nước của hàng triệu người dân bị áp bức đã tạo nên thành công vang dội của Cách mạng tháng Tám. Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

Từ thắng lợi này, vào ngày 2.9.1945, Bác Hồ kính yêu đã đọc “Tuyên ngôn Độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Cả nước chung một niềm tin, một quốc ca, một quốc kỳ:

Cờ bay sáng! Cờ bay hồng! Rạng rỡ!

Hỡi dân Việt! Cờ của ta vẫy đó

Tiến lên! Tiến lên! Theo sứ mạng non sông

Cờ là ta, là dân chúng, cờ mọc tựa vừng đông

Sống hay chết, chẳng nhục dòng giống Việt

Dân là nước, nước là ta, đã quyết

Kìa sao vàng máu đỏ đã cao treo!

Những câu thơ này trích từ trường ca Ngọn quốc kỳ của Xuân Diệu, có lẽ là bài thơ sớm nhất của nền thơ ca Việt Nam hiện đại ca ngợi ngọn cờ đỏ sao vàng đã xuất hiện trong ngày Quốc khánh 2-9-1945. Từng câu thơ như reo, như hát, như tiếng sóng vang dội từ lòng người sau ngót một trăm năm nô lệ, nay đã “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (Đất nước, Nguyễn Đình Thi).

Trên báo Tiên phong - cơ quan Vận động văn hóa mới - số đặc biệt kỷ niệm Ngày Độc lập 2-9-1946, Xuân Diệu có kể lại nhiều chi tiết cảm động: “Nhờ Ngày Độc lập lần đầu tiên, tôi được ở xa tắp trông thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hồ Chủ tịch đội một cái mũ màu trắng đã thành ra màu vàng, đi đôi dép cao su, tay cầm một chiếc gậy cong đầu như cái cán ô, với bộ áo kaki vàng. Hình ảnh này đối với chúng ta bây giờ đã quen thuộc, nhưng đầu tiên, nó là một ấn tượng trong tâm não người ta. Đến khi Chủ tịch cất tiếng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, người ta được nghe một giọng nói đặc biệt, một giọng nói như hãy còn pha các thứ giọng trên thế giới; một giọng hãy còn phảng phất chiến khu núi rừng…

Rồi quốc dân lạ lùng hơn nữa, khi Chủ tịch đứng trên đài cao, dưới chiếc ô trắng che mặt trời, trước máy truyền thanh, hỏi một câu bất ngờ: “Đồng bào nghe có rõ không?”. Đến đây, thì bao nhiêu bỡ ngỡ giữa Chủ tịch và quốc dân tan đi như khói, và một làn điện lực vô hình bắt đầu truyền đi giữa Chủ tịch với quốc dân. Thì ra Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa hề đọc diễn văn bao giờ; Chủ tịch tuyên ngôn là tuyên ngôn với ai, chứ chẳng hề tuyên ngôn với đồng bào bao giờ cả. Với một câu hỏi đột ngột thật chẳng ai ngờ đến, Hồ Chủ tịch đã ra ngoài thể cả lệ luật, tất cả nghi vệ, tất cả đại diện, tất cả Chính phủ. Hồ Chủ tịch đã là Cụ Hồ của dân Việt Nam.

Đồng bào nghe có rõ không?”, qua cái giây ngạc nhiên thấy Hồ Chủ tịch vứt cả sự xếp đặt thường lề, ai nấy đều cảm nghe tất cả tấm lòng yêu thương của Chủ tịch đối với quốc dân; ai nấy đều thấy dù lỗi lạc, Hồ Chủ tịch chỉ là một người như mình, một người với mình. Hồ Chủ tịch ân cần gần gũi chúng ta chăm nom hỏi han ta với cái lòng thương yêu vô hạn. Đáp lại câu hỏi “có nghe rõ không” của Hồ Chủ tịch, một triệu lời đáp lại:!”.

Thời điểm này, tại Sài Gòn mọi việc diễn ra thế nào?

Căn cứ vào tài liệu Lịch sử Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định kháng chiến (1945-1975) của Thành Ủy TP.HCM, ta biết nhiều thông tin cụ thể trong ngày 2.9.1945: 

“Tại Sài Gòn, hơn một triệu người đổ về quảng trường Norodom (nay ở trên đường Lê Duẩn) dự lễ mít tinh mừng ngày độc lập dân tộc. Xen giữa rừng cờ đỏ sao vàng là các biểu ngữ được viết bằng nhiều thứ tiếng “Độc lập hay là chết!”.

Thay mặt Chính phủ, ủy viên Lâm ủy hành chánh Phạm Ngọc Thạch bày tỏ Chính phủ sẽ trung thành với chương trình của Mặt trận Việt Minh, kiên quyết bảo vệ nền độc lập vừa giành được. Đại diện Xứ ủy và kỳ bộ Việt Minh Nguyễn Văn Nguyễn đọc diễn văn kêu gọi đồng bào các giới ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ ra sức ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh. Kế đến, Chủ tịch Lâm ủy hành chính Trần Văn Giàu kêu gọi nhân dân xiết chặt hàng ngũ xung quanh Chính phủ Hồ Chí Minh, nâng cao tinh thần cảnh giác, giữ vững tinh thần, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ nền độc lập tự do. Cả rừng người, rừng cờ lay động, hừng hực khí thế”.

Dù vậy, nhân dân Nam Bộ vẫn chưa toàn tâm toàn ý hưởng độc lập bởi bám theo chân quân đội Anh, thực dân Pháp tuyên bố sẽ tái chiếm “bình định Đông Dương”! Đêm 22.9, chúng cùng với quân đội Anh chiếm Sở Bưu điện và Sở Cảnh sát. Sáng ngày 23.9, quân đội Pháp công nhiên chiếm trụ sở Ủy ban Hành chánh Nam Bộ và Quốc gia tự vệ cuộc. Chúng đã gây ra nhiều cuộc đổ máu ở đường phố Sài Gòn. Rõ ràng quân đội Anh đã làm trái trách nhiệm mà Đồng minh đã ủy thác cho họ. Nam Bộ là thịt của thịt Việt Nam, là máu của máu Việt Nam. Trước tình thế này, Bác Hồ và Trung ương nhanh chóng phái lực lượng vào Nam để “chia lửa”, đồng cam cộng khổ với đồng bào Nam Bộ.

Khi ôn lại những sự kiện oanh liệt và vẽ vang này, chúng ta càng tự hào, càng thêm quý, thêm yêu tháng ngày hòa bình, độc lập trong kỷ nguyên mới hiện nay. Hơn bao giờ kết câu thơ của danh tướng Trần Quang Khải lại vọng về nhắc nhở, chớ quên:

Thái bình nên gắng sức

Non nước ấy nghìn thu

L.M.Q

(nguồn : Báo Công an TP.HCM ngáy 18.8.2026)

Chia sẻ liên kết này...

Add comment


Việt Tuấn Trinh | www.viettuantrinh.com