
LÊ MINH QUỐC:Â TỪ NGƯỜI QUẢNG NGHĨ VỀ “ĐẶC TÍNH” NGƯỞI VIỆT
Một khi viết về nơi chôn nhau cắt rốn, theo lẽ thường tình con người ta đều dành lấy những lời hoa mỹ, tốt tươi nhất. Điều này cũng hợp lý thôi. Vì chẳng ai dại gì “vạch áo cho ngươi xem lưng”, thậm chí còn là suy nghĩ: “Củi mục bà để gầm giường/ Ai mà đụng đến, trầm hương của bà”. Dù không phải “củi mục” nhưng chắc gì đã “trầm hương”?
Thế nhưng một khi đã bước ra với thiên hạ, người ta thường giới thiệu thế nào về vùng đất của mình? Có lẽ nghe quen tai nhất vẫn là “địa linh nhân kiệt”, nơi ấy đã sinh ra biết bao anh hùng hào kiệt đã làm nên nhiều sự kiện thần kỳ, thí dụ tiến hành cuộc kháng chiến thần kỳ đi đầu chống xâm lược Pháp từ năm 1858 là ngọn cờ tiên phong chống Tây dương mũi lõ, tàu đồng đạn sắt, ghê gớm quá đi chứ? Là nơi dấy nên cuộc biểu tình chồng sưu cao thuế nặng vào năm 1908, tinh thần quyết liệt này đã lôi kéo luôn mấy tỉnh miền Trung, chứ nào quanh quần tại xứ Quảng. Nếu cứ liệt kê nữa ắt còn dài. Tất cả các sự kiện về lịch sử, về con người rất đáng tự hào. Rất đáng tuyên dương. Rất đáng ca ngợi. Không gì phải bàn cãi.
Tuy nhiên, theo suy nghĩ của tôi, một khi chúng ta dựa vào quá khứ để tự hào cũng hợp lý, thế nhưng hoàn toàn không hợp lý ở chỗ là bởi không một dân tộc nào có thể phát triển, thay đổi tốt hơn nếu chỉ “ăn” vào lịch sử quá khứ. Quá khứ phải là bệ phóng để đi tới, chứ không phải là nơi dựa dẫm vào đó. Không chỉ bám “địa linh” mà còn bám vào “nhân kiệt” nữa. Xin kể mẩu chuyện vềÂ nhân vật lịch sử là chí sĩ Phan Châu Trinh.
Rằng, ngày 28.5.1925 cụ Phan cùng Nguyễn An Ninh rời Paris. Ngày 26.6.1925 hai cậu cháu có mặt tại Sài Gòn. Thời gian đầu, cụ Phan ở khách sạn Chiêu Nam Lầu, nhưng về sau sức khỏe mỗi ngày một yếu nên vợ chồng anh Ninh đưa cụ về an dưỡng ở Hóc Môn. Thời gian này, ngôi nhà riêng của hai vợ chồng anh Ninh đã trở thành nơi quốc dân đến thăm viếng cụ Phan. Có lần hai thanh niên trí thức, đi xe hơi từ Sài Gòn xuống tận Hóc Môn thăm cụ. Họ vòng tay thưa:
- Thưa cụ, chúng cháu nghe danh cụ, chúng cháu đến thăm cụ. Chúng cháu chúc cụ mau mạnh để hoạt động cho con dân nhờ.
Nghe nói thế, tức thì cụ nổi cáu:
- Tôi hộ cái chi. Các anh trẻ trung, to con lớn xác. Các anh không làm chi. Các anh chỉ trông ngóng ở thằng già sắp chết. Trông ngóng cái chi?
Cụ quát lớn khiến hai thanh niên đỏ mặt tía tai mà ù té chạy.
Ta nghĩ gì vể câu nói của cụ Phan Châu Trinh?
Thú thật, một khi nghe nghe những câu hiên ngang tót vời khi nói về xứ Quảng mình là “địa linh nhân kiệt” hoặc “đi đầu” cái này, “đi đầu” cái kia như một slogan thì tôi lấy làm buồn cười.
Tại sao thế?
Xin hỏi, vùng đất nào của non sông gấm vóc thống nhất từ Bắc chí Nam lại không “địa linh nhân kiệt”? Tất thẩy cũng đều có đấy thôi. Vấn đề cốt lõi này, gần 500 năm, cụ thể năm 1547, ông Dương Văn An thi đậu Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, đời nhà Mạc, là lúc bắt tay viết Ô châu cận lục, trong đó ông nêu rõ quan điểm: “Có trời đất này là có ngay núi sông này. Có núi sông này là có ngay nhân vật này. Bởi vì trời đất có mở mang thì núi sông mới xuất hiện. Sông núi đã có thì nhân vật mới sản sinh. Không có núi sông thì không thấy rõ công kiến tạo của trời đất. Không có nhân vật thì không thấy rõ khí hun đúc của núi sông. Nhưng vì tiết nóng lạnh của trời khác nhau nên núi sông của đất cũng có hạn. Thủy thổ của đất khác chất nên thói tục của người cũng khó mà biến đổi”.
Thế thì Quảng Nam mình không là cá biệt.
Cũng do tự hào, kiêu hãnh với đất Quảng quê mình “địa linh nhân kiệt” nên dẫn đến não trạng hài hước thật đáng thương, rằng một khi thấy ai đó hơn mình, nơi nào đó hơn địa phương mình, dù “dưới cơ” nhưng mình không thèm học hỏi. noi theo mà vẫn vênh mặt, kiêu ngạo: “Ăn thua chi, ngày xửa ngày xưa vùng đất quê tau, gia tộc tau còn hơn nhiều”. Đó là quá khứ, còn nay thì tệ hại bệ rạc, không bằng người mà vẫn câng câng vênh cáo, thế thì sự kiêu hãnh này phản ánh “ăn mày dĩ vãng”, nào phải đáng khen đâu.
Cũng do tự hào, kiêu hãnh với đất Quảng quê mình “địa linh nhân kiệt” vì thế mới nẩy nòi ra cái gọi là hội đồng hương chăng? Bản thân tôi không biết có phải vậy không? Nhưng tôi biết chắc chắn không chỉ có hội đồng hương cấp tỉnh, thành phố, quận huyện mà còn tràn ra, lan xuống cả cấp phường xã nữa. Ôi, các cái hội này thế nào? Khi nghe nói thế, lập tức có hành loạt câu trả lời như tương thân tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau v.v… Tốt thôi mà. Ừ rất tốt. Dù thừa nhận như thế nhưng tôi không thích tham gia vì đôi lúc tự hỏi rằng, cái sự đoàn kết của người Việt, có phải hơn 4000 năm nay sao chỉ gói trọn trong vùng đất của một địa phương? Không. Quyết là không? Ông bà ta đã dạy:
Nhiễu điều phủ gía gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng
Tình yêu thương, đùm bọc ấy, xin đừng quên vẫn là “người trong một nước”, chứ nào có phân biệt vùng miền gì đâu. Thậm chí ngày nay, trong thời đại của “thế giới phẳng” chúng ta còn có ý thức tiến đến sự toàn cầu nữa kia mà. Khi nhìn về sức mạnh của cấu trúc làng xã người Việt, chúng ta thấy sức mạnh tiềm tàng từ bao đời vẫn là “lũy tre xanh”, thiên hạ đã phân tích “nát nước” rồi không nhắc lại nhưng tôi thật sự suy ngẫm đến thực trạng mà tục ngữ đã đúc kết “Phép vua thua lệ làng”. Hỡi ôi, như thế này thì làm sao gắn kết cả một khối dân tộc thống nhất, tạo ra ý thức về một thể chế thống nhất? Nghĩ cho cùng, cái gọi là hội đồng hương ấy cũng là một cách gián tiếp tạo dựng lại “cái lũy tre làng” đấy thôi.
Vui hay buồn?
Tôi không tranh cãi dẫu thừa biết “Quảng Nam hay cãi”. Chỉ xin nói thêm rằng, có phải đây là “đặc tính” cá biệt của mỗi người Quảng? Không, của người Việt nói chung thì đúng hơn. Vậy, khi chúng ta soi rọi vào người Quảng, còn là lúc nhìn rộng rãi hơn, sâu xa hơn thì vấn đề đặt ra ở đây không còn trong phạm vi vùng miền cụ thể mà gợi lên suy ngẫm khác nữa.
L.M.Q
(nguồn: Giai phẩm NGƯỜI LÀM BÁO ĐÀ NẴNG - XUÂN 2026).
| Tiếp theo > |
|---|