LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 23.8.2016

ta-ty-1-Rnien-giam

 

Vụ triển lãm “Những bức tranh từ Châu Âu trở về” diễn ra từ ngày 10. 7.2016 tại Bảo tàng Mỹ thuật TP. HCM, dù đã kết thúc. Nhưng dư âm vẫn  còn. Bởi lẽ, dù được giới thiệu là các tác phẩm của các danh họa từ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, nhưng chiều ngày 19.7, bảo tàng này ra  thông cáo: “15 bức tranh thuộc bộ sưu tập của ông Vũ Xuân Chung đang triển lãm tại bảo tàng không phải bản vẽ do tác giả đứng tên thực hiện”.

Ấy là một cách nói chỉnh chu, cẩn trọng chữ nghĩa, dù không khẳng định dứt khoát nhưng công chúng ngầm hiểu nhấn mạnh đến số tranh này đều tranh giả.

Thiết nghĩ, sự cẩn trọng này là cần thiết, chỉ có thể khẳng định như “dao chém chuối”, như “đinh đóng cột” vì muốn kết luận cuối cùng phải có  thẩm định của hội đồng chuyên môn. Cùng lúc liên quan đến triển lãm này, bà Tạ Thùy Châu - con gái họa sĩ Tạ Tỵ gửi đơn kiện tới TAND TP.HCM. Bà yêu cầu những người liên quan đến bức tranh có tên “Trừu tượng” phải ra trước pháp luật vì đã mạo danh và giả chữ ký của bố bà trên bức tranh đó. Sở dĩ như thế, vì bức tranh này, họa sĩ Thành Chương chứng minh khẳng định mình chính là tác giả.

Tuy nhiên, sau khi nhận đơn tòa án yêu cầu phải bổ sung thêm chứng cứ, trong đó có khoản phải chứng minh công dân Tạ Văn Tỵ ký bút danh Tạ Tỵ.

Khi đọc thông tin này, không ít người thuộc giới sáng tác giật mình và thót lên: “Thôi rồi Lượm ơi!”. Câu ấy, nghe ra da diết, sầu não lắm vì có thể đẩy vấn đề đi vào ngõ cụt. Khác gì “đánh đố” nhau. Biết thế nào được. Đã nói đến chuyện pháp lý, đối chất trước tòa nhằm làm sáng tỏ một vấn đề nào đó, bao giờ “quan tòa” cũng thực hiện theo nguyên tắc: “Trọng chứng hơn trọng cung”.

Lâu nay, có một sự thật hiển nhiên: văn nghệ sĩ có quyền ký nhiều bút danh khác nhau. Nguyên cớ tại làm sao có bút danh đó, chẳng một ai có thể chứng minh rõ ràng, dù có nghe chính tác giả nói nhưng làm gì có “giấy trắng mực đen”, làm gì có “dấu đỏ” của cơ quan chức năng xác nhận?

“Đọc thơ Xương, ăn chuối ngự”, đó hai đặc sản của Nam Định. Có lẽ, do ái mộ Tú Xương nên hàng loạt cây bút viết trào phúng, châm biếm đều ký bút danh chữ Tú đứng đầu: Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Tú Quỳ (Phan Quỳ), Tú Sơn (Phan Khôi - “tout seul: cô độc), Tứ Kếu (Trần Đức Uyển), Tú Duyên (Nguyễn Văn Duyên), Tú Trần (Trần Lê Văn, tức Tú Nuy), Tú Sót (Chu Thành), Tú Lơ Khơ (Nguyễn Nhật Ánh), Tú Hợi (Lê Minh Quốc)… Còn có hàng loạt người khác nữa, như Tú Rua, Tú Da, Tú Gân, Tú Cốt, Tú Thịt, Tú Nạc, Tú Lông, Tú Sụn, Tú Trọc, Tú Ba Rọi, Tú Veo…

Thủ hỏi, có bao nhiều cách đặt bút danh nữa?

Trước đây, tạp chí Văn Học ở Sài Gòn (số ra ngày 15.3.1973) thực hiện chủ đề về bút danh, bút hiệu của văn nghệ sĩ Việt Nam. Trong số báo đó, nhà báo Thiên Tướng (bút danh của Vũ Bằng) có liệt kê, nay chỉ tóm lược đôi dòng:

Xuất phát từ đặc điểm vật chất hay tinh thần - như nhà văn Doãn Kế Thiện ký Bất Ác, nói được hai ý nghĩa, không ác là Thiện, mà bất ác còn là người hiền lành đúng như tính cách của ông; 2. Nhắc đến nguồn gốc địa lý - như Tản Đà: “Nước dợn sông Đà con cá nhảy/ Mây trùm non Tản cánh diều bay”; 3. Đảo lộn những con chữ trong tên thật, hoặc nói lái - như Nguyễn Thứ Lễ (Thế Lữ), Khái Hưng (Trần Khánh Giư). Mà “Lễ” đích thị là “lê ngã”, “ngã” là “ta”. Do đó, Thế Lữ ký thêm Lê Ta, mà đã có Lê Ta ắt phải có Lê Tây là vậy. 4. Từ nhân vật mà mình yêu thích; 5. Từ nghề nghiệp hay chức vụ; 6. Từ chữ Pháp được Việt Nam hóa - như Antoine Vensel (trợ bút báo Dân Chúng, tác giả truyện dài Con ma nhà chú Hỏa) ký Văn Sen; 7. Từ ngôi sao trong tử vi - như Thiên Hư (Vũ Trọng Phụng), Thái Bạch (Phạm Văn Giao), còn Vũ Bằng, mệnh lập tại thìn, có tử vi Thiên Tướng; 8. Phát sinh vì thời cuộc - như Bút Nguyên Tử (Dương Tấn Trương) vì lúc đó đang rộn lên về vấn đề “thời đại nguyên tử”; 9. Từ thể hiện cùng "trường phái" - như trường hợp “Tú”, hoặc “Tử” với Hàn Mặc Tử, Đồ Nam Tử, Thanh Tùng Tử, Cồ Việt Tử, hoặc trùng nhau như “Lang” với Nhị Lang (Dương Mầu Ngọc), Tam Lang (Vũ Đình Chí), Hoài Điệp Thứ Lang (Đinh Hùng) v.v… 10. Từ kỷ niệm thời thơ ấu, sự riêng tư, do tình cờ, ngẫu hứng; 11. Thể hiện lòng yêu nước, thương nòi v.v…

Những liệt kê này tương đối tạm đủ, dù còn có thể bổ sung thêm - như lấy từ câu nói trong kinh sách để nói lên chí hướng, tâm nguyện của mình, thường gọi “tên tự” Chẳng hạn, Trần Trọng Kim ký Lệ Thần, lấy từ câu trong Kinh Thi: “Nhược kim, dụng nhữ tác lệ”( Có công mài sắt, có ngày nên kim), Bùi Kỷ ký Ưu Thiên, lấy từ câu “Kỷ nhân ưu thiên” (Người nước Kỷ thấy trời thấp quá, luôn sợ trời sập)…Hoặc do từ tên thật mà rút gọn như Ngô Xuân Diệu (Xuân Diệu); giữ họ mà đổi tên như Phạm Kim Long (Phạm Thiên Thư); thay hẳn họ tên như Hà Huy Hà (Trương Khương Trinh) v.v… Khó có thể liệt kê cho xiết nguyên cớ ra đời của các bút danh/ bút hiệu/tên tự.

Lại có những trường hợp éo le hơn, dù là đàn ông đàn ang, “Râu hùm, hàm én, mày ngài/ Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao” nhưng lại ký tên phụ nữ, lấy gì chứng minh hả trời? Chẳng hạn, nhà báo, nhà văn Nguyễn Văn Vĩnh ký Đào Thị Loan, Nguyễn Vỹ ký Lệ Chi, Diệu Huyền, Phạm Cao Củng ký Phạm Thị Cả Mốc, Lê Văn Trương ký Cô Lý, Hồ Dzếnh ký Lưu Thị Hạnh, Vũ Bằng ký Cô Ngã (lúc làm tờ Vịt Đực), Hoàng Thị Trâm, Hoàng Thiếu Phủ có lúc ký Hà Tiên Cô, Vũ Hạnh ký cô Phương Thảo, Trần Văn Thạch ký Trần Như Liên Phượng v.v… Rõ ràng, càng “chịu chết”!

Chưa hết, trường văn trận bút xưa nay, còn có thể liệt ra những bút danh/bút hiệu thuộc hàng độc: J.Leiba (Lê Văn Bái), tác giả những câu thơ hay, như: “Sầu đối gương loan, bóng lạ người/ Chàng không lại nữa, đẹp cùng ai?”, “Phù thế đã nhiều duyên nghiệp quá! / Lệ lòng mong cạn chốn am Không / Cửa thiền một đóng duyên trần đứt / Quên hết người quen chốn bụi hồng”; Tchya (Đái Đức Tuấn); Tám Sẹc Ne - theo nhà văn Vũ Bằng lúc làm báo Dân Chúng, cây bút trào phúng Cát Hữu bắt chước theo cách gọi anh Ba, cô Tư của người Sài Gòn, còn Sẹc Ne (Charner - nay Nguyễn Huệ) là con đường đông vui, nhộn nhịp nhất; bí mật nhất cho đến này vẫn là T.T.Kh; nhân vật văn học nổi tiếng nhất ông Typn (Típ phờ nờ) trong kiệt tác Số đỏ, Ngym (họa sĩ Trần Quang Trân); Rit (Nguyễn Gia Trí) v.v…

Dù vậy, không chỉ đồng nghiệp mà ngay cả dư luận cũng mặc nhiên thừa nhận, chẳng hạn, Tú Mỡ bút danh của Hồ Trọng Hiếu, Tản Đà bút danh của Nguyễn Khắc Hiếu, Thiên Hư bút danh của Vũ Trọng Phụng, Phan Ngọc Hoan bút danh của Chế Lan Viên v.v… Tại sao họ ký bút danh đó? Không thể tìm được một chứng cứ gì rõ rệt, nếu hiểu theo nguyên tắc của pháp lý.

Xin dừng lại một chút với bút danh Thiếu Sơn.

Nói đến công dân Lê Sỹ Quý, chẳng mấy ai biết, nhưng Thiếu Sơn đã là một “từ khóa” của văn học Việt Nam hiện đại. Trong hồi ký của mình, Thiếu Sơn cho biết: “Đã từ lâu tôi đã có mộng làm văn sĩ và đã viết ít bài trên báo chí hàng ngày. Có báo cho đăng, nhưng phần nhiều không được đăng. Tôi muốn ký luôn tên họ thật của mình thì một người bạn khuyên tôi nên có một bút hiệu. Trước khi lấy bút hiệu Thiếu Sơn, tôi đã dùng nhiều bút hiệu khác. Thi sĩ Đông Hồ của Hà Tiên đã gửi thư cho tôi làm quen và hỏi về ý nghĩa của hai chữ Thiếu Sơn. Tôi trả lời là lòng người hoặc để ở sông hoặc để ở núi. Nhưng tôi thích núi hơn sông vì sông chảy mà núi đứng, Nhưng tôi không muốn nó già nua cằn cội do đó mà đặt là Thiếu (là trẻ) Sơn (là núi). Anh Đông Hồ khen hay nhưng sau khi gặp nhau và đã thân nhau rôi, tôi mới thú với anh là tôi xí gạt anh. Tôi ham coi hát Quảng Đông. Gánh lưu diễn tại Moncay (Móng Cái) cả tháng. Có anh kép hát oai phong lẫm liệt. Anh lấy tên Lầy Xỉu Sán, tức Lê Thiếu Sơn. Tôi mê anh, lấy tên anh làm bút hiệu của tôi vì hy vọng tôi sẽ múa bút trên văn đàn như anh múa kiếm trên sân khấu” (Thiếu Sơn nghệ thuật và nhân sinh - NXB Giáo Dục - 2008, tr.219).

Những dòng chữ này do chính tác giả viết, công bố  lúc còn sống, liệu có là chứng cứ trước tòa, nếu xẩy ra sự tranh chấp về bút danh?

Hơn nữa, có một sự thật phổ biến trong “trường văn trận bút”: “Đại diện Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch xác nhận ở Việt Nam hiện chưa có cơ quan nào chứng nhận nghệ danh cho nghệ sĩ. Chính vì thế, không ít phiền hà đã nảy sinh như nêu trên. Việc đặt nghệ danh là quyền cá nhân, trong khi quản lý nghệ danh theo tên thật lại là việc của Bộ Tư pháp (Báo Người Lao Động số ra ngày 21.8.2016).

Vậy yêu cầu của tòa án buộc gia đình Tạ Tỵ phải chứng minh như  nêu trên, quả thật là điều không tưởng.

Tuy nhiên, cũng xin thưa rằng, từ thực tế đó, vẫn có thể căn cứ vào các tập kỷ yếu của hội, đoàn nghề nghiệp mà các văn nghệ sĩ đó đã/ đang sinh hoạt. Những thông tin về lý lịch, số nhà, số điện thoại, tác phẩm được công bố trong tập sách đó do chính họ cung cấp, có là một chứng cứ pháp lý?

Riêng về trường hợp Tạ Tỵ, y có tìm thấy một chứng cứ hết sức rõ ràng và thuyết phục: Năm 1970, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn Hóa (8 Nguyễn Trung Trực) của chế độ Sài Gòn có ấn hành tập sách Niên giám văn nghệ sĩ và Hiệp hội văn hóa Việt Nam (1969-1970). Sách dày 814 trang, khổ 16,5 x 24,5 cm. Danh sách của văn nghệ sĩ trong tập sách này xếp thứ tự chữ cái theo hệ thống alpha b.

ta-ty-2-1nien-giamR

Phần của họa sĩ Tạ Tỵ như sau (nguyên văn): “Tỵ (Tạ) sinh ngày 24.9.1922 tại Hà Nội. Hiện viết văn, làm thơ, vẽ. Cư ngụ tại: 18/8 Phan Văn Trị, Gia Định. Điện thoại: Quân sự 41.708. Thành tích văn hóa - Những tác phẩm đã xuất bản: Những viên sỏi, Nam Chi Tùng Thư, 1962; Yêu và thù, Phạm Quang Khai, 1969-1970. Cùng những họa phẩm lập thể triển lãm tại Hà Nội (1951), tại Sài Gòn (1956-1961). Tác phẩm dự định xuất bản: Hoài ca (thi phẩm), Triển lãm hội họa trừu tượng và 50 khuôn mặt văn nghệ sĩ. Tiểu sử: Tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội, 1943. Đã cộng tác với các Tạp chí văn học: Thế Kỷ, Quê Hương (Hà Nội), Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Sáng Tạo, Hiện Đại, Văn Học…” (tr.269).

Từ thực tế về việc văn nghệ sĩ bút danh vừa nêu trên, thiết nghĩ, chứng cứ từ kỷ yếu, niên giám nhằm “quản lý” họ cũng cần được chấp nhận như một chứng cứ pháp lý. Đối chiếu với các giấy tờ của công dân Tạ Văn Tỵ, ta sẽ thấy các thông tin trên là sự trùng khớp. Có như thế, vấn đề đang được dư luận quan tâm mới có hướng giải quyết rốt ráo.

Qua vụ kiện tụng này, vấn đề đặt ra lâu dài cho văn nghệ sĩ vẫn ở chỗ cần tiến hành đăng ký bản quyền không chỉ tác phẩm mà còn cả bút danh nữa, nếu muốn ngăn ngừa xẩy ra trường hợp rắc rối. Nghĩ cho cùng, trường hợp gia đình họa sĩ Tạ Tỵ không của riêng ai. Đây còn là một vấn đề thời sự, thiết thực khiến văn nghệ sĩ Việt Nam phải giật mình trước tình huống có thể xẩy ra mà họ, đồng nghiệp họ chưa lường trước và thật sự quan tâm đến.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

Add comment