LÊ MINH QUỐC: Nhật ký 23.5.2018

 

que-huongbnloc


Một từ tiếng Việt vừa mới ra đời, vui không? Không, vì nó mới ló mặt ra đã bị thiên hạ ầm ầm phản ứng: “Thu giá” - nhằm thay thế cho “thu phí”.

Tại sao có sự thay đổi này? Trả lời báo Sài Gòn giải phóng (ngày  22.5.2018), ông Bộ trưởng nọ giải thích: “Trước kia, việc điều chỉnh vấn đề "thu phí" qua các thông tư của Bộ Tài chính, nhưng nay đã chuyển sang Bộ GT-VT quản lý, điều tiết để làm sao đảm bảo sự hài hòa. Chúng ta phải xem BOT là một "sản phẩm của doanh nghiệp", mà doanh nghiệp thì ấn định giá. Còn phí thì mang tính chất nhà nước”. Cụ thể, theo luật, nếu "thu phí" thì mức thu phí sẽ do HĐND, Quốc hội quyết định; còn "giá" là dịch vụ của doanh nghiệp cung cấp. Đây là "sản phẩm của doanh nghiệp" thì chúng ta điều chỉnh cho hợp lý. “Chuyển qua "giá", chúng ta mới giảm được giá sao cho cân đối được phương án tài chính. Chứ nếu coi đó là "phí" thì phải thông qua các bộ… Đây là cơ chế của Chính phủ thôi. So ra không khác gì cả, chỉ là linh động hơn rất nhiều”, Bộ trưởng khẳng định”.

Cách giải thích lòng vòng này, là chuyện của người quản lý. Không bàn đến. Chỉ hỏi rằng, trong tiếng Việt xưa nay có từ “thu giá” hay không? Vừa đọc trên Facebook của nhà nghiên cứu Đoàn Lê Giang, có đoạn phân tích: “Chữ “phí” là chi phí, số tiền bỏ ra làm cái gì đó, hay số tiền bỏ ra tiêu phí cho một việc gì đó, nên thu phí là thu tiền phục vụ người ta được hưởng lợi một dịch vụ nào đó: thu phí xăng dầu, thu phí cầu đường, thu phí đò giang... Chữ “giá” là giá trị, giá cả một một món đồ gì đó, là định mức biểu hiện bằng tiền. Chữ giá và phí không hề đồng nghĩa hay gần nghĩa. Trong tiếng Việt xưa nay chỉ có “thu phí” chứ không hề có chữ "thu giá". "Thu giá" chỉ là "thu lại giá đỗ", nếu không thì vô nghĩa, không thể thay cho "thu phí" được. Chữ “giá” có thể dùng kèm với "thu phí" thành “giá thu phí”, chứ không thể dùng thay”.

Mọi việc rõ ràng, về chữ nghĩa, không bàn thêm.

Mới vừa rồi, đọc đâu đó bài viết của cô gái nọ mắt xanh mũi lõ, từ phương Tây đến sống và làm việc tại Hà Nội, tên là Blossom. Sau một thời gian “nhất lân la, nhì trà trộn” với bà con bản xứ, cô đã đúc kết sáu điều kỳ lạ tại Việt Nam. Thật ra không chỉ có sáu, còn có nhiều rất nhiều điều kỳ cục khác mà cô chưa nhận ra, chẳng hạn, sự méo mó tiếng Việt vừa nêu trên.

Ở đây, y chỉ trích lấy đoạn bàn về ăn uống mà cô Blossom đã quan sát, đã nhận thấy tỏ tường: “Thực phẩm kỳ lạ: Người Việt nổi tiếng với những món ăn lạ lùng, thường gây tranh cãi như thịt chó, thịt mèo, trứng vịt lộn, rùa, chuột, thậm chí, tôi xin được nói, là cả nhím nữa. Rồi bạn sẽ thấy mọi thứ, từ những con sâu vẫn còn ngọ nguậy tới đầu chó treo lủng lẳng tới những loại côn trùng trườn bò trông sởn da gà; những con rắn còn sống bị rạch bụng giữa phố để lấy máu, trái tim hẵn còn đập bị người ta thả vào cốc bia rồi nốc cạn một hơi, tới những loài côn trùng, như dế được chiên lên làm đồ nhắm với bia, cùng với sâu hoặc nhộng. Ấu trùng dừa (đuông dừa) được ăn khi sống và nó cứ quằn quại trong miệng”.

Trong nghệ thuật ẩm thực của năm châu bốn biển, khó có thể nói đâu là kỳ cục và không kỳ cục. Đọc Món lạ miền Nam của Vũ Bằng, y khoái có dịp thưởng thức món thịt bò có tên gọi “bò kiến”, đại khái, “Ấy là vì cái bí quyết làm thịt bò kiến này không được chạm đến lửa: lửa nó làm khô mất huyết, nhưng phải dùng một thứ khác để làm cho thịt tái đi. Đó là giống kiến vàng. Thịt lựa chỗ nào ngon, nhất là cái thăn hay bắp vế, đem treo lên chỗ mát rồi giăng dây cho kiến vàng bu lại đen kịt như thể ong quân vây lấy ong chúa không để cho tổ hở một chỗ nào. Để như thế độ vài tiếng đồng hồ - muốn để từ sáng đến trưa càng tốt - miếng thịt vẫn cứ tươi như thường, không teo, trái lại vẫn cứ mịn màng thêm lên, đậm đà hơn lên và ngọt hơn lên”. Miếng thịt mềm đi, nói một cách nôm na là nhờ… nước đái kiến!

“- Nước đái nó ra sao?  

- Nước đái kiến vào mắt mình, nó “the thé” kỳ lắm, không tả được. Thoạt đầu, tôi tưởng đến mù, nhưng chỉ độ mươi năm phút thì hết, nhưng kiến nó đã vớ được mình thì “bám riết” không chịu rời ra. Tôi đành phải nhảy từ trên cây xuống dưới sông để họa may kiến có buông tha chăng: vô ích. Sau mãi có người bảo mới biết là giống kiến vàng sợ nhất tro, muốn đuổi chúng đi chỗ khác, cứ lấy tro mà rắc lên đường chúng đi, chỉ một lát là biến hết - có phần còn tốt hơn cả thuốc xịt côn trùng Fly Tox, My Tox nữa! Phải rồi! Đuổi chúng đi chớ đường có giết kiến làm gì, tội nghiệp! Là vì cái giống kiến vàng này quí lắm, có nhiều khi phải đi mua từng giỏ để đem về nuôi trên các cây có trái”.

Câu cuối ở đoạn văn của Vũ Bằng, có ai ngập ngừng, dừng lại không? Với y, ắt có. Không sinh sống nhiều năm ở nông thôn, nhất là tại miền Nam nên không thể biết thêm lợi ích của giống kiến vàng: “quí lắm, có nhiều khi phải đi mua từng giỏ để đem về nuôi trên các cây có trái”. Tại sao lại “nuôi trên các cây có trái”? Trả lời chi tiết này, cách dễ chịu nhất vẫn là đọc lại truyện ngắn Trộm của lạ của nhà văn Bình Nguyên Lộc.    

Trước hết, phải dài dòng một chút, rằng, trước đây, ở miền Nam có tạp chí Hương quê dành tặng cho bà con nông dân, không bán. Hai nhà văn Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam thay phiên nhau viết các truyện ngắn theo chủ đề “hương đồng gió nội”. Lúc NXB Trẻ mua bản quyền toàn bộ sáng tác của Sơn Nam, chính y đã tìm từ Hương quê các truyện ngắn của ông đã in để có được sự nối dài của Hương rừng Cà Mau. Và nay, tới phiên Bình Nguyên Lộc với tập truyện ngắn cùng tên Hương quê (NXB Trẻ - 2018) cũng chọn từ tạp chí trên. Người cung cấp nguồn tài liệu lần này là TS Nguyễn Văn Đông - giảng viên Trường Đại học Thủ Dầu Một.

Trộm của lạ, viết về cách trị loại kiến hôi đã khiến “cả cam lẫn quýt đều chua, nếu không èo, không chai cứng, không khô rom”. Trị bằng cách nào? Hãy nghe nhân viên sở Canh nông trả lời: “Nếu vậy thì rất dễ cứu vãn cây trái của quý ông. Đây là một phát minh của người Việt Nam ta của cụ Trương Vĩnh Ký”. Chi tiết này, không rõ Bình Nguyên Lộc đọc từ đâu, khó kiểm chứng, nhưng: “Thả kiến vàng lên những cây có ổ kiến hôi. Hai loài kiến này thù nhau “bất cộng đái thiên” và chúng sẽ giết nhau, và rốt cuộc kiến vàng thắng. Chúng nó thắng rồi chiếm luôn những cây đó, kiến hôi sẽ không bao giờ dám trở lại nữa hết. Ông không tin, cứ làm thử thì biết”. Quả nhiên mọi việc diễn ra trúng chóc, đúng y chang.

Thế thì, ai nghĩ ra cách sử dụng kiến vàng để “sáng tạo” ra món “bò kiến” số dzách ở miền Nam nước Việt? Chỉ có thể đệ tử của Lưu Linh. Mà con kiến vàng này đã đi vào ca dao huê tình, chàng ỡm ờ: “Ước gì anh hóa được con kiến vàng/ Bò ngang quai nón hun nàng cái chơi; nàng lúng liếng: “Ước gì em hóa được con kiến hôi/ Bò ngang quai nón đái trôi kiến vàng”. Căn cứ vào cách trị kiến vừa nêu trên, trong trường hợp éo le này, cô nàng thua là cái chắc.

Thích nhất vẫn là bài vè về các loại kiến, đọc nghe du dương, vui tai, ngộ nghĩnh: “Kiến lửa tập đoàn/ kiến vàng ở ổ/ Cao đầu lớn cổ/ thiệt là kiến hùm/ Cắn chúng la um:/ kiến kim, kiến nhọt/ Nhỏ như con mọt/ thiệt là kiến hôi/ Động trời nó sôi:/ kiến cánh, kiến lửa/ Bò ngang, bò ngửa:/ kiến riện đơn chai/ Bò dông, bò dài/ bò qua, bò lại/ Kiến đực nói phải/ kiến cái làm khôn/ Rủ nhau lên cồn/ xoi hang lạch cạch/ Thuở xưa, trong sách/ Bàn Cổ sở phân/ Sanh ra chúng dân/ đỏ đen như kiến…”.

Có ai ăn kiến không? Chắc không. Nhưng chăn kiến thì có. Bằng chứng là NXB Trẻ đã ấn hành tập truyện ngắn Người chăn kiến của Bùi Ngọc Tấn. Tìm đọc lại, phải mua lấy sách. Chi bằng đọc từ trang web của Hội Nhà văn TP.HCM đã post, trong đó, có đoạn: “Hôm ấy đi làm vệ sinh về, tay B trưởng bắt ra 4 con kiến đỏ bé xíu đựng trong cái vỏ bao thuốc lá. Hắn cầm mẩu gạch non khoanh 4 vòng tròn xuống nền xi măng. 12 anh tù được hắn chỉ định chia thành 3 ca chăn 4 con kiến nhỏ. Ông M không ngờ mình lại mê chăn kiến đến như thế. Công việc kì dị ngày càng hấp dẫn ông. Nó làm ông khao khát đến bồn chồn. Cho dù đó là khổ ải. Phải giữ kiến luôn ở trong vòng tròn. Trong ấy có bánh bích qui, có đường, có thịt, kiến ăn nhưng không chịu ngủ, kiến vẫn bò tìm tổ. Phải luôn tay chặn kiến lại và không được làm sứt một cái chân của kiến. Chính những điều ấy khiến ông thèm khát. Nó sẽ giúp ông quên thời gian, quên những thiên thu tại ngoại”. Người chăn kiến còn là tiếng lóng nhằm chỉ kẻ gỡ lịch/ nằm nhà pha/ nằm nhà đá/ nằm hộp…

Viết đến đây lại nhớ mẩu chuyện nhỏ, bấy giờ nhà thơ Nguyễn Thái Dương đang làm Thư ký tòa soạn của báo Mực Tìm. Ngày kia, đọc các bản thảo để chọn in, bắt gặp bài thơ có câu: “Ngồi buồn bắt giết kiến chơi”, anh rùng mình. Và từ đó, anh không còn dám quan hệ với tác giả câu thơ đó, dù trước đây đã là bè bạn. Chắc chắn y cũng vậy thôi. Hành động đó là biểu hiện của cái ác. Vậy mà bây giờ lại phổ biến “Game giết kiến - Trò chơi giết kiến online miễn phí cho Andorid, Iphone”. Thử hỏi, có phải đó là mầm mống tạo ra cái ác? Còn nhớ, thuở bé thường mê mẩn đọc tạp chí Phổ thông do nhà thơ Nguyễn Vỹ chủ biên, có lần đọc bài viết bàn về thơ Haiku. Đọc lâu quá rồi, chỉ nhớ đại ý, có nhà thơ cóc keng nọ làm bài thơ: “Con chuồn chuồn/ Ngắt hai cánh/ Trái ớt”. Anh ta thích lắm, đọc oang oang đầu làng  cuối xóm, thiên hạ khen rùm trời, duy chỉ có vị thiền sư nghiêm mặt bảo: “Đó là cái ác”; và sửa lại: “Trái ớt/ Chắp hai cánh/ Con chuồn chuồn”. Ôi chao, tâm thế nào thì thơ thế ấy.

Cái tâm của y ra làm sao?  Không rõ. Chỉ có điều y không còn ăn thịt chó nữa. Chỉ ăn thời đi bộ đội ở rừng, xa tít bên quê hương Chùa Tháp. Tuy không còn ăn nhưng vẫn chép lại bài vè này, ít ra cũng cho thấy cách chế biến trong Nam khác hẵn ngoài Bắc. “Nghe vẻ nghe ve/Nghe vè thịt chó/Thằng nào chịu khó/ Bắt nước cạo lông/ Thằng nào ở không/ Rang mè rang đậu/ Anh nào chịu khó/ Thì đi mua tương/ Cái việc tầm thường/ Ai ai cũng biết/ Muốn cho tươm tất/ Đậu phụng, đậu nành/ Củ sả, củ hành/ Mua ba tiền bún/ Một tiền rau húng/ Một trái dừa khô/ Bỏ tiền hùn vô/ Mua ba chai rượu/ Anh nào háo tửu/ Thì hùn thêm tiền/ Xách rổ đi liền/ Đi mau tới chợ/ Đừng có sớ rớ/ Gấp gấp mà về”.

Rõ ràng, không hề có mắm tôm, lá mơ, củ riềng… Chỉ mấy câu vần vè, nhưng ta cũng thấy được cái “không khí” rất ồn ào, tấp nập, nhộn nhịp khi chuẩn bị… nhậu! Sau đó, phải làm gì nhỉ? “Anh nào có nghề/ Ra tay đập chó/ Anh nào nhúm lửa/ Bắt chảo nước sôi/ Cạo lông sạch rồi/ Đem thui vàng hực/ Anh nào chịu cực/ Món nướng món xào/ Xương sống để sau/ Xương sườn nấu cháo”. Đã ăn thì phải uống. Dám quả quyết, trong các thức uống nhằm đạt đến thú vui tao nhã (lẫn thô tục) ở đời, chỉ có rượu được… đi vào thơ văn, nhạc họa, ca dao, hò vè với tần số cao nhất. Nhưng rồi nếu chọn lấy một, y chỉ chọn lấy bài này: “Uống một ly nâm nhi tình bạn/ Uống hai ly giải hạn cơn sầu/ Uống ba ly mũi chảy đầy râu/Uống bốn ly ngồi đâu nói đó/ Uống năm ly cho chó ăn chè/ Uống sáu ly ai nói nấy nghe/ Uống bảy ly làm xe lội nước/ Uống tám ly chân bước, chân quỳ/Uống chín ly còn gì mà kể/ Uống mười ly khiêng để xuống xuồng!”.

Khiêng một kẻ say quắc cần câu xuống xuồng, không khéo hắn ta té nhào xuống sông, kênh, rạch thì khốn. Vậy lúc ấy, phải làm sao giải rượu cấp kỳ cho kẻ đó? Dễ ợt, cứ việc kề tai hắn ta, nói khẽ: “Này, hiện nay, trong tiếng Việt đã xuất hiện từ “thu giá” - nhằm thay thế cho “thu phí”, nhớ chửa?”. Ngay lập tức, hắn ta sẽ bật người dậy, tỉnh táo, tỉnh queo như chưa hề uống giọt nào rồi kinh ngạc thốt lên một cách bình tỉnh bằng ngữ điệu cực kỳ nghiêm trọng: “Thế à? Thế à?”.

Thì đúng là thế.

L.M.Q

Chia sẻ liên kết này...

Add comment


trinhduyson