BÁO CHÍ Lê Minh Quốc viết

LÊ MINH QUỐC: Khêu ngọn lửa ấm

 

pncn-13.10

 

Trong từ ngữ tiếng Việt, thật lạ lùng có những từ chỉ mới vừa thốt ra, tự sâu thẳm tâm hồn đã thấy ấm áp, gần gũi và yêu mến vô cùng. Tôi nghĩ đến “cây lúa”. Trên đồng cạn dưới đồng sâu, từng nhánh lúa trĩu hạt luôn gợi về mùa vàng no ấm. Đã thế, hạt lúa khi rụng về Đất Mẹ, lúc ấy lại bắt đầu một Sự sống mới. Sự sống ấy tiếp tục sinh sôi trong dòng đời bất tận. Ngọn lửa nuôi sống con người lại nhen lên từ hạt mầm bé nhỏ ấy. Không gì có thể hủy diệt được.

Và cũng kỳ diệu thay, có những con người ngay sau khi họ từ giã “cõi tạm”, lại có thể khêu dậy ngọn lửa ấm trong tiềm thức của người đang sống.

Trong những ngày này, hình ảnh dòng người chỉnh tề, lặng lẽ đến thắp nén nhang vĩnh biệt Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khiến tôi nghĩ về ngọn lửa ấm. Họ đến từ nhiều vùng miền, có thể trong đời chưa một lần diện kiến, chưa chạm mặt nhưng tự sâu thẳm tâm hồn là niềm ngưỡng mộ về một tài năng, một nhân cách. Nhìn vào từng đôi mắt chứa chan từng giọt lệ, tôi đã thấy ở đó niềm thương tiếc về một Con Người. Một con người xứng đáng viết hoa, bởi lúc sống đã tận hiến cho cộng đồng, bằng tất cả những gì mình đã có. Tôi nghĩ rằng, khi đứng trước một người đã mất, lúc ấy, con người tầm thường chúng ta luôn tự vấn một câu hỏi: “Những ngày qua, mình đã sống như thế nào?”.

Sống trên đời, đi hết hành trình một kiếp người chao ôi biết bao nhọc nhằn, trần ai khoai củ, lên bờ xuống ruộng. Để có được sự tĩnh tại, an nhiên ấy trong tâm hồn thật không dễ dàng. Không khác gì bảo gió đứng yên, không khác gì níu lại dòng sông đang chảy. Bởi có những lúc, trong sự vận động của dòng đời, ta vọng động lúc này, ta ngoắt ngoảy chỗ kia chẳng khác gì “tâm viên ý mã”. Biết làm sao được, những cơm áo gạo tiền, những mưu sinh kiếm sống đã có lúc đẩy bàn chân bước chệch ra khỏi con đường đã chọn. Lúc ấy, có thể những toan tính vụn vặt đời thường đã khiến ta dễ dàng thỏa hiệp vục mặt xuống bụi bặm những mong thu vén một chút hư danh…

Rồi có lúc, ta giật mình tự hỏi: “Những ngày qua, mình đã sống như thế nào?”. Loay hoay một chốc, ngoảnh lại, đã thấy gần hết một đời người. Vì lẽ đó, có những con người khi nhắm mắt xuôi tay chỉ là dấu chấm đơn độc cuối cùng kết thúc một câu văn. Hỡi ôi! Có những câu văn lại không có ý nghĩa gì, thậm chí còn sai lệch về cú pháp.

Ngược lại, có những con người, với cái chết của họ lại mở ra một trang viết mới cho thế hệ sau. Trang viết đó khêu lại ngọn lửa ấm từ tinh thần của Tướng Giáp. Ngọn lửa đó là bài học giản dị và vĩ đại về một giá trị sống mà lúc sinh thời ông đã xác tín mãnh liệt. Dưới gầm trời này không có gì đứng yên, bất động mà luôn có sự vận động, thay đổi theo tâm thức thời đại. Thế nhưng lại có những giá trị bất biến, dù Đông  hay Tây cũng đều có một mẫu số chung. Một trong những giá trị ấy, của nhiều người biết sống, của Tướng Giáp vẫn là sự ý thức tồn tại của mình chính, không gì khác, “từ Nhân dân mà ra”.

Đã đành, vĩnh biệt một con người bao giờ cũng có những lời tiếc thương, như thế vẫn chưa đủ. Điều cốt lõi, có ý nghĩa thiết thực nhất là hãy làm sống lại tinh thần của người đã khuất.

Hạt lúa đem lại ấm no cho con người, khi chết đi lại tiếp tục khơi dậy một mầm sống mới. Và cũng kỳ diệu thay, có những con người ngay sau khi họ từ giã “cõi tạm”, lại có thể khêu dậy ngọn lửa ấm trong tiềm thức của người đang sống. Ngọn lửa ấy, đang có. Ấm áp và lan tỏa trong cộng đồng, từng ngày…

 

L.M.Q

(nguồn: Báo PNCN  ngày 13.10.2013)

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Một nghệ sĩ lớn đã rời bục giảng


PN - Khi nhớ về trường cũ, dù chỉ thoáng qua trong tất bật đời thường, chúng tôi vẫn luôn nhớ đến thầy Hoàng Như Mai (1919 - 2013). Ngày ấy, thầy giảng bài với phong cách rất nghệ sĩ, giọng ngâm thơ hào sảng, cuốn hút người nghe. Đêm qua, vừa nghe tin thầy mất (27/9/2013), tôi đã nhận được bài Khóc thầy của bạn thơ Trương Nam Hương:

Nhớ giọng Thầy đọc thơ Thâm Tâm

Tống biệt hành rung sóng tri âm

Thời gian chợt hóa con sông nhớ

Con tiễn Thầy qua khói - sóng - trầm!

Đại diện thế hệ sinh viên Khoa Ngữ văn niên khóa 1983 - 1987, Hương đọc bài thơ trên trước linh cữu thầy. Khi đi học chúng tôi gọi “thầy” và xưng “con”, sau này, khi ra trường có đôi lúc làm việc cùng nhau vẫn giữ cách gọi tôn sư trọng đạo ấy. Thầy dễ gần gũi bởi tự bản thân nhà mô phạm ấy đã có cốt cách của một nghệ sĩ.

9-THAY-HOAG-NHU-MAI-2

Thầy Hoàng Như Mai

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Phố văn hóa ở Melbourne


Ở Việt Nam hiện nay, đã bắt đầu hình thành những phố đi bộ. Phố dành cho những người nhàn tản, nhất là những du khách từ phương xa đến và muốn chiêm ngưỡng một không gian tiêu biểu, đậm chất văn hóa của người dân bản địa. Sự hình thành ấy đang từng bước trở thành hiện thực, dù trong cung cách và quá trình thực hiện vẫn còn đâu đó những “lời ong tiếng ve”, bởi chỗ người này thấy được nhưng người kia thấy “chưa được”. Đó cũng là điều bình thường. Cái mới ra đời, bao giờ cũng có một quá trình để hoàn thiện.

 

choinhac

Chơi nhạc trên phố ở Melbourne

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Trung thu là tết thiếu nhi

 

 

Có nhiều cách giải thích về nguồn gốc của Tết Trung thu. Tuy nhiên, để có một kết luận chuẩn xác rằng tục ăn Tết Trung Thu ở Việt Nam có từ lúc nào, theo tôi là khó. Ngay cả các nhà nghiên cứu văn hóa như Phan Kế Bính, Đào Duy Anh, Nhất Thanh, Toan Ánh… khi viết về ngày Tết Trung thu cũng miêu tả, chứ không đi sâu vào truyền thuyết ra đời của nó. Chỉ biết, rằng từ xa xưa, dân tộc ta đã có tục ăn Tết Trung thu rồi.


trung-thu-1

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: SỬ CHO MỌI NHÀ

 

Cho đến nay, giới nghiên cứu sử học nước nhà vẫn chưa “giải mã”: Ai là người trực tiếp viết “Chiếu Cần Vương”? Không thể là vua Hàm Nghi, lúc đó ngài chỉ mới 12 xuân xanh. Chiến tướng Tôn Thất Thuyết chăng? Cụ là một võ tướng, nhân vật số một Viện Cơ mật, không phải là người giỏi về văn học. Thế thì, văn bản được công bố được công bố từ ngày 13.7.1885 tại căn cứ kháng chiến Tân Sở (Quảng Trị), chỉ có thể do Thăng Hiệp biện Đại học sĩ Phạm Thận Duật ( 1825- 1885) viết.

 

pham-than-duat

Ảnh cụ Phạm Thận Duật chụp ngày 14.4.1883 tại Thiên Tân (Trung Quốc) khi đi sứ Trung Quốc. Nguồn: Phạm Thận Duật - cuộc đời và tác phẩm (NXB KHXH - 1989)

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Chị HUYỀN SƯƠNG: Những tình huống oái oăm trong tình yêu


Tạp chí Phụ nữ diễn đàn số 1 phát hành vào tháng 7.1993, từ số 2 ngoài bìa có in măng sết của báo Ấp Bắc, màu đỏ; phía dưới “Số chuyên đề cuối tháng về Phụ nữ”  màu xanh. Chữ “Phụ nữ” to gấp nhiều lần chữ “Ấp Bắc”. Chịu trách nhiệm xuất bản: Trần Thanh Hải; Biên tập: Minh Sơn; Thường trực tòa soạn: Đoàn Dũng; Trình bày: Minh Hạnh.


HUYENSUONG

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh: “Đừng để các em đánh mất tuổi thơ !”

 

Chuyên đề “Mùa hè của con trẻ” mở ra trong tuần qua xoay quanh câu hỏi trẻ nên học hay nên chơi trong dịp hè đã nhận được rất nhiều sự chia sẻ của độc giả. Cuộc trao đổi của chúng tôi với Nguyễn Nhật Ánh - nhà văn chuyên viết cho tuổi mới lớn - góp thêm một góc nhìn thú vị về vấn đề này.


nhavan


Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh giao lưu với độc giả nhỏ tuổi - Ảnh: Nguyễn Tường Huy

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: BẤT NGỜ VỚI TRẦN DẦN

 

Trong vòng mươi năm trở lại đây, một loạt di cảo của cố nhà thơ Trần Dần được xuất bản. Lập tức Hội Nhà văn Hà Nội đã trao cho ông nhiều giải thưởng cao quý. Thú thật, ban đầu tôi không tin lắm vào ban thẩm định tác phẩm. Bởi chưa bao giờ các giải thưởng lại vàng thau lẫn lộn như hiện nay, thậm chí còn có những “tôn vinh” ngoài giá trị văn học. Thế nhưng, khi đọc đến tiểu thuyết Những ngã tư và những ngọn đèn (NXB Hội Nhà văn) của Trần Dần, tôi đã thay đổi suy nghĩ đó. Thì ra, với tiểu thuyết, Trần Dần đã cách tân, đã thể nghiệm trước các nhà văn VN nhiều lắm.

nhung_nga_tu_va_nhung_cot_denRR

Đây là tiểu thuyết tình cảm? Trinh thám? Hình sự? Hiện thực? Có tất. Về hình thức, ông quan niệm: “Chữ đầu đánh luôn từ dòng đầu, không thụt vào. Coi như cuốn sách gồm từng ô, như ô ruộng đầy chữ”; “y” thay thành “i”; giữ nguyên chữ nhiều nguyên âm như xìì, khèè, suỵttt… v.v..”.

Thật ra biểu hiện hình thức chỉ là chuyện nhỏ.

Cái đáng kể nhất phải là cách viết của ông. Hầu hết các nhân vật khi đứng trước độc giả đều xưng “tôi”. Nhân vật chính là Dưỡng có thời gian dính líu với  Pháp, y kể lại chuyện cuộc đời mình bằng những dòng ghi chép trong nhật ký. Y có vợ là Cốm và mối quan hệ của y cũng khá phức tạp với một lũ bạn “cùng hội cùng thuyền” như Tình Bốp, Lily, Đoành, Chắt, Ngỡi… Dưỡng xưng tôi khi viết nhật ký. Người đọc nhật ký này cũng xưng tôi. Ngoài ra còn có những nhân vật luôn bám sát và hướng Dưỡng về con đường tốt như ông Trung trố, chị Hòa, anh Thái… cũng xưng tôi.

Cái giỏi của tác giả là qua đối thoại và tự sự mà tính cách nhân vật hiện lên rõ mồn một. Không ai lẫn vào ai. Mỗi người một tính cách riêng biệt.

Độc đáo nhất còn là nhân vật không có tên, tác giả gọi gọn lỏn “sọ” - chính là cái bóng của Dưỡng. “Trò chuyện” giữa y và “sọ” là những đoạn  nhằm phân tích suy nghĩ, độc thoại nội tâm của y. Trong khi đó, có những lúc chị Hòa, Cốm lại tự kể chuyện của mình để nối vào mạch chuyện chung của Dưỡng. Đã thế về thời gian lại có những đổi thay lẫn lộn, chẳng hạn ngày tiếp quản Thủ đô, nhật ký của Dưỡng lại ghi ngày mồng Một Tết, thời gian di chuyển từ năm 1955 đến năm 1966 và ngược lại; thứ bảy nhầm sang chủ nhật… Rõ ràng ý thức về thời gian cũng là một cách thể hiện tâm trạng của nhân vật, chứ không riêng gì tình tiết của câu chuyện mà tác giả đang kể.

Một cách thể hiện Những ngã tư và những ngọn đèn, với nhà văn VN gần như chưa mấy ai thử nghiệm. Và bây giờ cũng vậy. Nói cách khác, Trần Dần đã chọn cho mình một đường đi độc đạo. Ông hoàn thành tiểu thuyết này năm 1966, sau khi được Sở Công an Hà Nội cấp giấy phép vào trại giam và tiếp xúc với ngụy binh thời Pháp để lấy chất liệu hoàn thành tác phẩm nhưng sau đó không in. Mãi đến năm 1988, Sở Công an Hà Nội trả lại bản thảo cho ông và ông lại tiếp tục sửa chữa, chủ yếu về văn phong.

Tôi dám cam đoan rằng, nếu ai đã cầm tiểu thuyết này lên, sẽ không thể buông xuống nửa chừng. Hấp dẫn và hấp dẫn đến lạ thường. Một lần nữa, Trần Dần lại tạo ra sự kinh ngạc và bất ngờ đối với thế hệ chúng ta.

 

L.M.Q

(nguồn: Báo PN TP.HCM, bút danh LÊ VĂN NGHỆ)

 

Ghi chú:

Trước đây khi phụ trách chuyên mục Thơ và tuổi trẻ của Tuổi Trẻ online, tôi đã giới thiệu bài thơ Tình của Trần Dần như sau:

"Tình yêu" của Trần Dần
06/11/2006 15:02 (GMT + 7)


TTO - “Em đọc kỹ/ trang thơ này nhé”. Lời nhắn nhủ của nhà thơ Trần Dần dành cho người tình Bùi Thị Ngọc Khuê - sau này là người bạn đời - cũng là điều mà tôi muốn gửi đến bạn yêu thơ.

Đọc kỹ, ta sẽ thấy một quan niệm về tình yêu của Trần Dần được thể hiện từ nhiều góc độ khác nhau, rất mới. Mới, bởi ở đó ông  đã sử dụng nhiều chất liệu từ cuộc sống, từ bản thân mình. Mà qua đó, ta sẽ buột miệng thốt lên “Ồ tài tình nhỉ!”.  Hình thức thơ “bậc thang” đã  giúp cho người đọc cảm nhận được nhịp ngắt quãng cần thiết của từng câu thơ...

Văn bản bài thơ này vừa công bố lần đầu tiên trên báo Tiền Phong. Một lần nữa xin được gửi đến bạn thơ TTO (Nhà thơ Lê Minh Quốc).


TÌNH YÊU

Gửi em K, những ngày phải xa nhau

Em ơi
         anh không ngủ được
                                        bốn đêm rồi!
Nhớ em
          đường phố Sinh Tử
                     đen cả mũi
                                   mùi than
                                              mùi bụi
Nhớ gian nhà
                bây giờ
                           lùi lủi
                                    một mình em
Em ạ,
          Tình yêu không phẳng lặng bao giờ
Nó đè sóng,
                  đè mưa
                             nổi bão...
Tình yêu
            không phải chuyện
                             đưa cho nhau
                                     ngày một bó hoa
Nó là chuyện
                  những đêm ròng
                                    không ngủ
tóc tai bù
               như những rặng cây to
nó vật vã
               những đêm trời lộng gió
Tình yêu
         không phải là
                    kề vai mơ
                    sầu mộng dưới trăng mòn
mà phải sống
                 phải cởi trần
                          mưa nắng
phải mồ hôi
              chảy đẫm
                        tận buồng gan
Tình yêu không phải
                    chuyện ngàn năm
                                   kề sát má
mà bỗng dưng -
                  một quả tim chung
phải bổ nó
                làm 
                đôi
người một nửa
                     người
                     ôm một nửa...
Tình yêu
            không phải là
                những chiếc toa đen
                     con tàu cuộc sống
tùy chuyến đi
               mà cắt bỏ
                       hoặc nối thêm
Mà tự nó là
           một ĐẦU TÀU HỎA
có nghìn toa
             buổi - sáng
                      buổi - không đèn
Triệu mã lực
              con tàu điên
                      tàu dại
nó đâm bừa
              gãy cẳng
                         ngày đêm
nó hú chết
            thời gian
                      khoảng cách
nó rú lên
            trên trái đất
                         chưa người
chưa xã hội
              chưa luân thường
                                 ước lệ...
Tình yêu không phải
                  chuyện bạ sao yêu
                                    cũng được
nó lạ lùng
           như giữa một trời sao
                              triệu triệu ánh
Chỉ có anh
                   đã khản tiếng
                                    kêu gào
mới gọi được
                  vì - sao - em
                                    hay khóc
Và có em
           đi mải đến mê
                                người
mới dừng lại
                ôm mình anh
                               buồn tủi
vì - sao - anh
               rốc lửa
                     xém bên trời...
Tình yêu
             không phải
                         có hoặc không
                                      cũng được!
mà nó như là
                những vần thơ
những bắp thịt
                những đường gân
                                      tổ quốc

* * * * *

Em ơi
     em lại khóc
                      em à?
Gian nhà vắng
            con chó nằm nó rú...
Anh mới đấm lên trời
                    dăm quả đấm
bây giờ anh
                    ngồi
                        chết
                             một gian buồng
bốn bức tường
               nó giữ chịt người
                                     anh
để giáo dục anh về nhiều chuyện
                                  và chuyện yêu
                               - là chuyện chúng mình...
Em đọc kỹ
              trang thơ này nhé
Em đếm xem
               bao chữ
                        bao vần
cũng tựa bao đêm
                    em ngắm sao trời
em đã thấy
                  một vì sao
                               ngất ngưởng
vì - sao - anh
            nó chuyển bến bên trời
đuôi nó cháy - đúng là
                          vì sao dữ
Anh cho phép
              em khóc nhiều
                               khóc nữa
Em ơi
         tình yêu em
                không có tuổi bao giờ
mươi thế kỷ
                vì sao
                    anh
                          vẫn cháy...

TRẦN DẦN

 

(nguồn:

http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/Van-hoc/Tho-va-tuoi-tre/170954/%E2%80%9CTinh-yeu-cua-Tran-Dan.html

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Mùa xuân là gì nhỉ?

 

Có bao giờ các bé đã bâng khuâng tự hỏi như vậy chưa? Đây là suy nghĩ của bé Nguyễn Thị Hoàng Oanh (158/35 Đoàn Văn Bơ, Q.4): “Bé băn khoăn tự hỏi: “Mùa xuân là gì? Phải chăng là cội mai vàng, là bao lì xì đỏ rói, là cánh én chao lượn giữa trời mênh mông và tiếng pháo nổ đì đùng?...”. Vâng, cũng có thể là vậy. Mỗi người đều có cảm nhận của riêng mình.

 

mau-xuan-la-gi-nhi

 

Nét chữ viết bằng bút chì, đúng chính tả, viết nắn nót của Võ Văn Hùng (lớp ½ trường Minh Đạo, Q.5) đã làm chú chú ý. Viết về “Mùa xuân đến” như thế này thì cũng đáng yêu lắm chứ! “Mùa xuân năm 94 đã đến rồi. Muôn hoa đua nở rất đẹp. Bé được nghỉ Tết. Thời gian trôi qua, hết Tết. Bé đi học lại. Bé sẽ cố gắng học giỏi để vui lòng thầy cô và ba mẹ”. Đúng vậy, Xuân mới đã đến thì mình phải cố gắng hơn năm cũ.

Và để viết những câu văn thật hay, thì việc nhận xét, quan sát cảnh vật cũng là một yếu tố quan trọng. Bé Hồ Thị Kim Diệp (87/24 Phạm Ngũ Lão, lô 19) đã có nhận xét thú vị: “Vào một ngày đẹp trời đầy nắng ấm, em ra vườn chơi. Gió thổi ngang qua các cây hoa, uyển chuyển như nàng tiên đang múa”. Sự so sánh ở đây mới lạ và gợi được sự đồng cảm ở người khác. Cũng viết về mùa xuân, Tạ Mai Khánh (218/11 Trần Hưng Đạo, Cần Thơ) đã cảm thấy: “Gió từ bờ sông thổi vào mát lạnh mang theo mùi hương của hoa quỳnh thơm ngào ngạt”. Phải thật sự đứng trước ngọn gió ấy, Khánh mới viết một cách thú vị như thế. Không những quan sát bên ngoài mà ngay cả những việc đã từng xảy ra, các bé cũng nên “để mắt” đến nữa.

Và đây là “Buổi sáng đầu xuân” mà Vũ Hoàng Oanh (lớp 4A trường Quảng Biên - Đồng Nai) đã viết: “Trong vườn nhà em, những cây hoa lay-ơn rực rỡ và những cây hoa hồng cánh mịn màng như đang nghiêng mình ra đón lấy ánh nắng mặt trời. Hương thơm của hoa hồng dìu dịu đã làm em rất thích. Trên cành mai vàng, những chú chim vành khuyên và chim họa mi đang say sưa hót líu lo”. Bức tranh mà bạn Oanh đã vẽ về buổi sáng đầu xuân rất sinh động. Sinh động vì biết “nhân cách hóa” những cánh hoa hồng, cho nó “nghiêng mình”. Để làm gì vậy? Để “đón lấy ánh nắng mặt trời”. Từ đó bông hoa trở nên thân thiết với người đọc. Và bạn Oanh cũng hết sức chu đáo khi bạn không quên nhắc đến mùi hương của hoa. Bạn đã viết đúng là hương thơm ấy “dìu dịu” và vì không vô tình với hương của hoa nên Oanh xác nhận “Em rất thích”. Những chi tiết nhỏ này đã làm câu văn thêm sinh động, có đúng vậy không các cháu?

Còn Trần Vũ Thanh Phương (lớp 5/3 trường Trần Quốc Toản) viết: “Dạo ấy, em mới được mẹ dẫn đi học buổi đầu tiên. Em vừa sợ vừa hồi hộp như mầm cây  mới nhú đón ánh nắng mặt trời”. Sự so sánh như thế này quả là dễ thương. Phải biết yêu thiên nhiên, cây cỏ lắm thì bạn Phương mới có so sánh thú vị, lạ lùng mà chính xác đến thế.

Từ câu hỏi của đầu bài “Mùa xuân là gì nhỉ”, chú đã trích dẫn những câu văn này, may ra, chúng ta cũng đã tìm được đôi điều về ý nghĩa của mùa xuân trong suy nghĩ của mỗi người.

 

L.M.Q

(nguồn: báo Khăn Quàng Đỏ 3.1994)

Chia sẻ liên kết này...

 
 

LÊ MINH QUỐC: Viết Tựa tập sách của HAI ĐẦU MÉO

 

Lai lai rồi rổn rảng… cười

 

1.

“Văn là người”? Trật lấc. Ít ra trong trường hợp của gả Hai Đầu Méo. Thoạt nhìn bản mặt của gã, tôi luôn sực nhớ đến cái tựa rất oách của nhà văn bậc thầy Nam Cao: “Cái mặt không chơi được”; hoặc nói như ngôn ngữ của thời “sát thủ đầu mưng mủ” là “chán như con gián”. Ai đời, trong những cuộc trà tam tửu tứ, thiên hạ đua nhau huyên thuyên ba hoa chích chòe, tranh nhau “nổ” tào lao xích đế thì gã cứ ngồi ngậm câm như thóc. Đôi lúc, khoái chí quá, gã mới nhếch mép cười một chút, rất hà tiện.

Thế không đáng ghét là gì?

Vậy mà tôi không ghét. Bởi gã có tài.

 

vay-oi-la-vay

Chia sẻ liên kết này...

 
 

Trang 52 trong tổng số 60

Việt Tuấn Trinh | www.viettuantrinh.com

trinhduyson